Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT. Số 150. Trang 3-8
1
Cân đối lúa gạo cho đồng bằng sông Hồng đến năm 2030 trong điều kiện công nghiệp hóa và nước biển dâng
PGS.TS. Nguyễn Văn Song* , Đỗ Thị Diệp*, ThS. Đàm Thanh Thủy **
(* Đại Học Nông nghiệp Hà Nội, ** Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên)Balance of rice for Red River Delta by the year 2030 in terms of industrialization and sea level rise
TÓM TẮT
Diện tích lúa của đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) giảm mạnh trong những năm gần đây, đặc biệt
là sự chuyển dịch từ đất lúa sang đất cho các khu công nghiệp và diện tích đất lúa bị nhiễm mặn do mức
nước biển dâng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, tốc độ gia tăng dân số cũng đòi hỏi ngày
ngày một cao nhu cầu lúa gạo trong khu vực. Sử dụng mô hình động, kết quả nghiên cứu đã cho thấy
dân số của vùng ĐBSH sẽ ở mức 23.429.240 người, diện tích đất trồng lúa còn 511.000 ha, sản lương
lúa gạo đạt 6.049.788 tấn năm 2030. Các kịch bản về mực nước biển dâng do tác động của biến đổi khí
hậu cho thấy: khi mực nước biển dâng 0,17 m vào năm 2030, tương ứng với diện tích đất lúa bị giảm từ
51.000 ha đến 85.000 ha thì đất lúa chỉ còn từ 469.398 ha đến 438.339 ha, cân bằng lúa gạo sẽ không
đạt trạng thái cân bằng ở năm 2028 và 2026. Mặc dù năng suất và sản lượng lúa tăng lên do đầu tư
thâm canh và tăng hệ số sử dụng đất lúa, nhưng tốc độ giảm diện tích đất lúa do ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu và công nghiệp hóa cộng thêm sự gia tăng dân số nhanh dẫn đến năm 2030 cân bằng lúa gạo
chỉ còn 356.495 tấn. Đây là một sức ép rất lớn đến an ninh lương thực của vùng trong tương lai không
xa. Cũng theo kết quả của nghiên cứu, với kịch bản sản lượng lúa tăng do áp dụng đồng bộ các biện
pháp canh tác và tốc độ giảm diện tích đất lúa như hiện nay thì đến năm 2033 (theo mức giảm tổi thiểu),
2031 (theo mức giảm tối đa) lượng thóc sản xuất ra không đủ nhu cầu tiêu dùng cho người dân trong nội
vùng, đó là chưa kể đến các nhu cầu tiêu dùng khác như để giống hay chăn nuôi. Vì vậy chiến lược đặt
ra cho ĐBSH trong thời gian tới là phải ổn định diện tích đất lúa, giảm tốc độ gia tăng dân số và áp
dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và sản lượng lúa.
cho khu vực như thế nào?
Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu là tìm ra xu hướng biến động của các nguồn lực cơ bản trong nông
nghiệp, sản lượng lúa và cân đối lương thực cho khu vực đồng bằng sông Hồng từ nay tới năm 2030.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích hệ thống động (dynamic modelling) của Bruce Hanon
& Matthias để xem xét sự thay đổi của sự vật hiện tượng kinh tế-xã hội trong một khoảng thời gian
dài. Mô hình được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: vi mô, vĩ mô, sinh học, hoá học và quản
lí môi trường. William Grant & cs (1997) đã sử dụng mô hình này để quản lí và sử dụng một số tài
nguyên thiên nhiên như: đất, nước, rừng và thuỷ sản. Lar Hei (2005) đã sử dụng mô hình này để tính
toán lượng chất thải trong các nguồn nước của con sông. Căn cứ vào đó các chính sách quản lí ô nhiễm
được ban hành nhằm tối thiểu hoá các chi phí xã hội.
Nguồn số liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ các sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, chi cục Thống kê , sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Khoa học Công nghệ của các tỉnh trong
vùng. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra 400 hộ nông dân trồng lúa trong khu vực nghiên
cứu. Nguồn số liệu này được sử dụng để chạy hàm Cobb-Douglas, xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến
năng suất và tình hình phân phối lúa gạo của khu vực cho các mục đích khác nhau. Các yếu tố ảnh
hưởng đến năng suất là các yếu tố đầu vào cơ bản ảnh hưởng gián tiếp đến tổng sản lượng lúa sản xuất
ra và biến cân bằng lúa gạo trong mô hình cân bằng động.
Mối quan hệ giữa 3 biến chính trong mô hình: dân số-lao động nông nghiệp, đất canh tác lúa,
cân bằng lúa gạo là mối quan hệ động theo thời gian. Dân số biến động phụ thuộc vào tỉ lệ sinh, tỉ lệ
tử, di cư, nhập cư…dân số tăng làm tăng lao động tham gia vào sản xuất lúa, đồng thời dân số tăng
làm tăng lượng lúa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và tăng diện tích đất lúa dành cho nhà ở. Diện tích
đất lúa và năng suất ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng lúa sản xuất ra. Diện tích đất lúa lại chịu ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu và tốc độ công nghiệp hóa.
Cân bằng lúa gạo của khu vực ngoài hai yếu tố ảnh hưởng nội sinh trực tiếp là năng suất và
diện tích gieo trồng lúa còn bị ảnh hưởng của các yếu tố khác như phân bón, lao động, tiêu dùng trong
khu vực, trao đổi ra ngoài khu vực.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1 Phân tích sự thay đổi của các yếu tố trong mô hình
theo giáo sư Logan (ĐH Logan – Australia) : “Vấn đề sử dụng quỹ đất nông nghiệp cho mục đích phát
triển đô thị và bảo vệ đất nông nghiệp là câu chuyện phổ biến, nhưng quan trọng nhất ở Việt Nam hiện nay
là quá trình ấy diễn ra với tốc độ nhanh nhất thế giới”.
3.1.3 Xu hướng biến động sản lượng lúa
Sản lượng lúa của đồng bằng sông Hồng có chiều hướng giảm qua các năm. Như đã phân tích
ở phần trước, sản lượng lúa chịu ảnh hưởng của năng suất, tổng diện tích và cơ cấu diện tích gieo
trồng. Mặc dù năng suất lúa trên toàn vùng theo ước tính có tăng từ 60,7 tạ/ha năm 2007 lên 65,2 tạ/ha
vào năm 2020, nhưng do tốc độ giảm của diện tích đất canh tác lúa nhanh hơn nên sản lượng lúa vẫn
có xu hướng giảm: Năm 2020 sản lượng lúa của đồng bằng sông Hồng sẽ là 6,4 triệu tấn, đến năm
2030 sẽ giảm xuống còn hơn 6 triệu tấn.
3.1.4 Phân tích mối quan hệ giữa dân số, đất canh tác lúa, cân đối lúa gạo
Dân số của vùng tiếp tục tăng lên trong khi đất canh tác lúa tiếp tục giảm cùng với quá trình
công nghiệp hóa (CNH) và biến đổi khí hậu. Diện tích đất canh tác lúa giảm từ 634.603 ha xuống còn
511.000 ha năm 2030. Đứng trên phương diện sản xuất và phân phối lúa với mục tiêu đạt cân bằng
lương thực cao nhất thì năm 2010 là thời điểm thích hợp cho vùng ổn định đất lúa, không để giảm
Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT. Số 150. Trang 3-8
4
thêm nữa. Tuy nhiên với mục tiêu hoàn thành công nghiệp hoá vào năm 2020, với tốc độ CNH nhanh,
cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch thì vùng đồng bằng sông Hồng cần mở mang, xây dựng nhiều hơn
nữa các cụm công nghiệp, khu đô thị, chuyển đất lúa kém hiệu quả cho nuôi trồng thuỷ sản. Điều này
cùng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm cho sản lượng lúa không cân bằng ở mức cao nhất mà sẽ
giảm một cách nhanh chóng.
3.2 Phân tích sự biến động của dân số, đất canh tác, sản lượng lúa khi có sự thay đổi của diện
tích đất canh tác lúa do ảnh hưởng của công nghiệp hóa và mực nước biển dâng
3.2.1 Biến động về đất canh tác và cân bằng lúa khi tốc độ công nghiệp hoá tăng lên
Theo phương hướng và quan điểm phát triển của cả nước (đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp) đặt trong mối quan hệ với phát triển bền vững đất lúa và đảm bảo an
-
15,57
510,9
2
481,200
-
29,715
-Dân số Ng.người
19819
19819
0
21549,14
21549,14
0
23429,24
23429,24
0
-SL lúa/người Kg
338,9
338,39
-
0,51
297,30
291,50
-
5,80
258,20
247,5
6800,948
6653,896
-
147,05
4424,62
3547,14
-
877,48
356,49
0
-
356,50
Kịch bản gốc: Đất lúa chuyển cho CNH: 4000 ha/năm
Kịch bản 1: Đất lúa chuyển cho CNH: 4500 ha
/năm
Kết quả bảng 1 là minh chứng rõ ràng cho sự biến động sản lượng lúa, diện tích đất canh tác
lúa, dân số khi có những thay đổi kể trên. Cụ thể, các chỉ tiêu như diện tích canh tác lúa, sản lượng
lúa, cân bằng lúa ở kịch bản 1 đều thấp hơn so với kịch bản gốc. Khi đất lúa chuyển cho CNH tăng lên
(4500 ha) thì diện tích đất lúa giảm với tốc độ mạnh hơn. Năm 2010 chênh lệch giữa hai kịch bản là (-1415
ha), năm 2020 là (15.570 ha), đến năm 2030 chênh lệch này lên tới (29.715 ha). Trong điều kiện năng suất
lúa không đổi, hệ số sử dụng đất không tăng thêm được nữa thì sự giảm sút diện tích này dẫn tới sản lượng
và cân bằng lúa bị giảm đi đáng kể.
Bình quân thóc/ người năm 2010 giảm so với kịch bản gốc là 0,51 kg; năm 2020 giảm 5,8 kg,
năm 2030 giảm 10,7 kg. Sự giảm sút này tuy không nhiều nhưng cũng đe dọa trực tiếp đến an ninh
lương thực của vùng đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau năm 2028 cân bằng lúa sẽ
không cân đối do lượng sản xuất ra cộng với dự trữ không đủ phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho người,
cho chăn nuôi, để giống và các nhu cầu khác. Cụ thể năm 2025: sản lượng sản xuất ra là 6,048 triệu
tấn, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng cho người dân đã là 6,066 triệu tấn. Nếu không có lượng dự trữ
thóc từ những năm trước thì đến năm 2025 cung cầu lúa gạo của ĐBSH sẽ bị đe dọa, và việc phải nhập
khẩu gạo đối với ĐBSH sẽ xảy ra trong những năm sau đó.
551,603 -21,747 511 469,398 -41,602
-Dân số Ng.người
19819
19819 0 21549
21549.135 0 23429
23429.24
0
-SL lúa/người Kg
338,9 338,177 -0,723 297,3 289,243 -8,057 258,2 243,177 -15,023
-Đất lúa/người Ha
0,032 0,0319 0 0,0266
0,0256 -0,001 0,0218
0,020 -0,0018
-Phân phối lúa Ng.tấn
6769,2
6768,813
-0,391 6772,5
673,966 -6098,5 6406,3
5697,45 -708,83
-Cân bằng lúa Ng.tấn
- Đất lúa Ng.ha
634,
6
631,
147
-3,
456
573,
35
535,
334
-38,
02
510,
92
438,
338
-72,
577
-Dân số Ng.người
19819
19819
0
21549
21549,
135
0
23429
23429,
24
0248
-0,
002
0,
0218
0,
0187
-0,
00309
-Phân phối lúa Ng.tấn
6769,
2
6768,
52
-0,
684
6772,
5
6599,
761
-172,
7
6406,
3
5427,
887
-978,
395
-Cân bằng lúa Ng.tấn
6800,
85000 ha nên kịch bản này được chia thành hai kịch bản sau:
Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí khoa học & Công nghệ - Bộ Nông nghiệp & PTNT. Số 150. Trang 3-8
6
* Kịch bản 4: diện tích trồng lúa giảm do nước biển dâng là 51.000 ha đến năm 2030, giảm do công nghiệp
hóa là 4500 ha/năm, hệ số sử dụng đất lúa tăng từ 1,8 lên 1,9 lần, tăng lao động và đầu tư thâm canh lúa, tỉ
lệ gia tăng dân số giảm còn 0,9%, bình quân thóc/người giảm từ 270 kg xuống 240 kg.
* Kịch bản 5: diện tích trồng lúa giảm do nước biển dâng là 85.000 ha đến năm 2030, giảm do công nghiệp
hóa là 4.500 ha/năm, hệ số sử dụng đất lúa tăng từ 1,8 lên 1,9 lần, tăng lao động và đầu tư thâm canh lúa, tỉ
lệ gia tăng dân số giảm còn 0,9%, bình quân thóc/người giảm từ 270 kg xuống 240 kg.
Bảng 4 : So sánh kết quả kịch bản gốc và kịch bản 4
2010 2020 2030
Chỉ tiêu ĐVT
KBG KB 4 SS (+,-) KBG KB 4 SS (+,-) KBG KB 4 SS (+,-)
- Sản lượng lúa Ng.tấn 6717,
2
7038,
42
321,
27
6405,
9
6397,
442
-8,
498
6049,
8
21199,
146
-
350
23429
22708,
151
-721,
089
-SL lúa/người Kg
338,
9
355,
648
16,
748
297,
3
301,
778
4,
4783
258,
2
249,
96
-8,
242
-Đất lúa/người Ha
0,
6406,
3
6177,
362
-228,
92
-Cân bằng lúa Ng.tấn
6800,
9
7588,
458
787,
51
4424,
6
7406,
54
2981,
9
356,
5
2985,
979
2629,
484
Bảng 5: So sánh kết quả kịch bản gốc và kịch bản 5
2010 2020 2030
Chỉ tiêu ĐVT
-53,
47
510,
92
409,
072
-101,
843
-Dân số Ng.người
19819
19790,
418
-28,
582
21549
21199,
146
-
350
23429
22708,
151
-721,
089
-SL lúa/người Kg
338,
9
355,
058
16,
-0,
00379
-Phân phối lúa Ng.tấn
6769,
2
6486,
885
-282,
32
6772,
5
6682,
894
-89,
57
6406,
3
5960,
67
-445,
612
-Cân bằng lúa Ng.tấn
6800,
9
7558,
476
757,
53
4424,
6
7
pháp kịp thời để ứng phó với biến đổi khí hậu, thích ứng ảnh hưởng của mực nước biển dâng, kiểm
soát và quy hoạch công nghiệp hóa, đô thị hóa một cách chặt chẽ nhất.
4. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu và phân tích cân bằng lúa gạo của ĐBSH trong điều kiện diện tích
đất canh tác giảm do biến đổi khí hậu và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, kết quả cho phép kết
luận như sau:
Một là: Kết quả bài toán phân tích hệ thống được tính đến năm 2030, lấy mốc thời gian là
điểm cân bằng lúa gạo còn được duy trì với sự biến động đất lúa hiện tại. Tính đến thời điểm đó, dân
số của vùng ĐBSH sẽ ở mức 23.429.240 người, diện tích đất trồng lúa còn 481.200 ha.
Hai là: Kết quả của mô hình trong kịch bản 4 và 5 là thích hợp. So với các kịch bản khác, sản
lượng lúa ở kịch bản 4, 5 không đạt mức cao nhất, nhưng trong kịch bản này, với cân bằng lúa còn gần
3 triệu tấn thì không những đảm bảo an ninh lương thực mà còn dư cho nhu cầu chăn nuôi và các mục
đích sử dụng khác. Bên cạnh đó, việc tăng đầu tư thâm canh cho sản xuất lúa là nguyên nhân dẫn đến
năng suất và sản lượng tăng, giảm gánh nặng cho an ninh lương thực của vùng nói riêng và cả nước
nói chung.
Ba là: Mức tiêu dùng hiện tại của người dân vùng ĐBSH trung bình là 270 kg thóc và 300 kg
lương thực quy thóc/người/năm. Với mức bình quân đó, năm 2009 toàn vùng dành ra khoảng 70% sản
lượng thóc sản xuất ra để ăn, 8% cho chăn nuôi, 8% dành cho xuất khẩu.
Trong kịch bản 4 và 5, với mức giả định nhu cầu thóc của người dân ở mức 240 kg/người/năm,
kết quả cho thấy nhu cầu tiêu dùng cho người có xu hướng giảm đi, lượng thóc dành cho chăn nuôi và
xuất khẩu tăng lên đáng kể. Do yêu cầu thực tế về lao động và việc làm của vùng hiện nay thì trong
những năm tới vùng cần có chiến lược đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn, gia
cầm để tận dụng sản lượng thóc dư thừa.
Bốn là: Giữa dân số - lao động có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Với tỉ lệ gia tăng
dân số dao động từ 0,95 – 1,1% giai đoạn 2001-2005, bình quân hàng năm vùng ĐBSH phải giải quyết
việc làm cho khoảng 200.000 lao động. Với khu vực diện tích nhỏ, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc
như ĐBSH thì đây là một sức ép rất lớn. Vì thế chiến lược dân số của vùng trong thời gian tới là phải
ổn định quy mô dân số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Theo tính toán của nghiên cứu thì với
quickly lead to balance of rice in 2030 reached only at 356,495 tons. This is a heavy pressure to
region’s food security in future. According to the results of the model, assuming increased rice yields
by application of uniform farming measures and speech of decline of rice land currently, up to 2033
the year (minimum reduction), 2031 (maximum reduction) paddy production is not enough consumer
demand for people in the region, not to mention that the consumer demand for seeding and livestock.
So, the strategy set for RRD in the coming period is to stabilize the rice area, reduced population
growth rate and applying scientific and technical measures to improve rice yield and productivity.
Keywords: Dynamic modeling, population, paddy land, rice productivity, industrialization,
climate change.