nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 5/2006
15
TS. Trần Thái Dơng *
ú th núi mi liờn h gia ng, Nh
nc v cỏc thit ch xó hi l mi liờn
h chớnh tr-xó hi c bit, cú tớnh rng ln
v bao trựm nht trong xó hi ta. xõy
dng Nh nc phỏp quyn Vit Nam ca
dõn, do dõn, vỡ dõn di s lónh o ca
ng thỡ khụng th khụng gii quyt hi ho
mi liờn h c bn ú.
Trong nh hng xõy dng nn kinh t
th trng v Nh nc phỏp quyn hin nay,
song song vi hỡnh thc dõn ch trc tip nh
trng cu dõn ý (ngi dõn b phiu trc tip
quyt nh v mt s vn ca t nc),
vic tip tc tỡm kim nhng mụ hỡnh mi
nhm phỏt huy vai trũ ca qun chỳng nhõn
dõn v cỏc t chc xó hi thụng qua h thng
phn bin xó hi i vi quỏ trỡnh hoch nh
v t chc thc thi ng li, chớnh sỏch,
phỏp lut ca ng v Nh nc ang c
hay thm chớ khụng cụng khai, ch din ra
trờn mt phm vi, gii hn nht nh. Nhng
phi khng nh rng dự di hỡnh thc no
thỡ phn bin xó hi cng khụng phi vi
ngha l s chng i, phn li quỏ trỡnh phỏt
trin ca xó hi theo chiu hng tớch cc.
Cng trờn bỡnh din ny, phn bin xó hi
C
* Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
16T¹p chÝ luËt häc sè 5/2006
được thực hiện bởi nhiều loại chủ thể khác
nhau từ các cá nhân đến các nhóm lợi ích, các
tầng lớp xã hội, các tổ chức xã hội, các địa
phương, vùng lãnh thổ, các thế hệ, các giới…
Tuy nhiên, để có thể xây dựng và vận
hành hệ thống phản biện xã hội ở nước ta
trong điều kiện hiện nay, cần nhận thức về
khái niệm phản biện xã hội ở mức độ cụ thể
hơn. Đó là mô hình tổ chức, cơ chế hoạt
động đảm bảo cho các tổ chức, các lực lượng
xã hội có thể thực hiện sự phản biện một
cách hợp pháp, năng động, có hiệu quả, đóng
hội viên, thành viên đóng góp công sức, trí
tuệ cho việc hoạch định các chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng và hệ thống
pháp luật của Nhà nước phải được coi là chức
năng, nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng trong
điều kiện xây dựng nền dân chủ hiện nay.
Các tổ chức xã hội gồm nhiều loại rất đa
dạng về lợi ích, phương thức tổ chức và hoạt
động như đã nêu trên là những chủ thể phổ
biến nhất trong phản hồi xã hội đối với sự tác
động của quyền lực chính trị mà phản biện xã
hội là một trong những hoạt động cơ bản.
Với tư cách cá nhân, các nhà khoa học,
các nhân sĩ, trí thức hoạt động trong khuôn
khổ các tổ chức chính trị-xã hội như Mặt
trận tổ quốc Việt Nam hay Liên hiệp các hội
khoa học kĩ thuật Việt Nam… các doanh
nhân, các nhà khoa học, những người hoạt
động xã hội có uy tín… có thể tham gia hoạt
động phản biện xã hội đối với dự án, dự thảo
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước.
- Đối tượng phản biện: Đối tượng phản
biện xã hội là những “sản phẩm” của hệ
thống chính trị, các chủ thể phản biện thực
hiện việc nghiên cứu phân tích, đánh giá và
đề xuất ý kiến nhằm giúp cho các cơ quan
Đảng, Nhà nước có cơ sở ra quyết định đúng
đắn, phù hợp với nhu cầu thực tế của đời
sống kinh tế - xã hội. Đối tượng phản biện
thành viên của mình.
- Nội dung phản biện: Yêu cầu về mục
tiêu, tính hợp pháp, hợp lí của chủ trương
đường lối, chính sách. Dưới góc nhìn của
mình, người phản biện nêu nhận định về
nhận thức của các cơ quan Đảng, Nhà nước
hướng tới mục tiêu nào, có thực sự cần thiết
như đúng theo nhu cầu khách quan của xã
hội hay không. Nếu cho rằng đã là cần thiết
thì thực hiện các bước tiếp theo đánh giá về
các giải pháp đưa ra xem có cơ sở không,
tính hợp lí, hợp pháp ra sao và tính khả thi
trong tổ chức thực hiện như thế nào; dự án,
dự thảo đã lường hết được những khía cạnh
khác nhau của cuộc sống hay chưa.
- Mục đích và giá trị của phản biện xã
hội: Hoạt động phản biện xã hội nhằm cung
cấp cho các cơ quan của Đảng và Nhà nước
những căn cứ khách quan, khoa học để xây
dựng dự án, dự thảo văn bản hay thẩm định,
quyết định ban hành chính thức các văn bản
đó. Phản biện xã hội góp phần phát huy dân
chủ trong hoạt động của Đảng và Nhà nước,
huy động trí tuệ, tài năng và mọi nguồn lực
con người Việt Nam vào sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước.
- Hệ quả của phản biện xã hội: Đảng và
Nhà nước tiếp thu ý kiến của nhân dân thông
qua các tổ chức của họ để điều chỉnh, sửa đổi
dự thảo chính sách, pháp luật cho phù hợp.
vi nhng tỏc ng lờn i sng xó hi ca
cỏc ch th lónh o, qun lớ xó hi.
D lun xó hi l tp hp cỏc ý kin, thỏi
cú tớnh cht ỏnh giỏ, bỡnh lun ca cỏc
nhúm xó hi hay ca xó hi núi chung i
vi nhng vn cú tớnh thi s liờn quan
n li ớch chung, thu hỳt s quan tõm ca
nhiu ngi v c th hin trong cỏc nhn
nh hoc hnh ng thc tin ca h.
(1)
D lun xó hi thng tp trung vo cỏc
vn thi s c cng ng xó hi quan
tõm, liờn quan n nhu cu li ớch vt cht
hay tinh thn ca cỏc nhúm xó hi. D lun
xó hi ch ny sinh khi cú vn mang ý
ngha xó hi ng chm n li ớch chung ca
cng ng xó hi, cú tm quan trng v cú
tớnh cp bỏch, ũi hi phi cú ý kin phỏn xột,
ỏnh giỏ hoc cn phi xut phng hng
gii quyt c th. i tng ca d lun xó
hi cú th l nhng vn v chớnh tr, kinh
t, phỏp lut, vn hoỏ-xó hi hay o c
Ch th ca d lun xó hi l cỏc nhúm
xó hi hay cng ng xó hi mang d lun
xó hi. Nh vy, d lun xó hi va phn
ỏnh li ớch, a v xó hi ca cỏc nhúm hay
cng ng xó hi va phn ỏnh nhn thc v
li ớch chung ca cỏc nhúm, cỏc cng ng
ngi khỏc nhau trong xó hi.
hp vi quy lut ca i sng xó hi v t
nhiờn. So vi d lun xó hi l nhng ý kin
hay s phn ng bỡnh thng trong xó hi
v thng cha cú tớnh n nh cao thỡ phn
bin xó hi l hot ng mang ý ngha
chuyờn mụn khoa hc, cụng ngh hay v
tng lnh vc hot ng kinh t-xó hi c
thự. Mt im quan trng khỏc l nu d nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 5/2006
19
luận xã hội có thể được biểu hiện dưới các
hình thức tán đồng hay phản đối thì phản
biện xã hội nghiêng về việc phân tích, lập
luận vạch ra những điểm hợp lí và chưa hợp
lí (phản bác) và đề xuất các giải pháp khắc
phục, hoàn thiện đối tượng của phản biện.
Tuy nhiên, cũng không thể đồng nhất phản
biện xã hội với phê phán xã hội.
Phê phán xã hội là phân tích, lập luận
vạch ra những điểm sai lệch của các hiện
tượng, các hành vi xã hội, qua đó điều chỉnh
xã hội theo các chuẩn mực đã được ghi nhận.
Cũng thuộc về phạm trù dư luận xã hội
nhưng phê phán xã hội chủ yếu thiên về sự
phản bác để loại trừ những điều không phù
hợp với yêu cầu đời sống tinh thần của xã
hội cũng có phạm vi rộng hơn phản biện xã
hội. Tham gia xã hội có thể tiến hành ở các
khâu khác nhau của quá trình xây dựng các
dự án, dự thảo văn bản của Đảng, Nhà nước
như tham gia nghiên cứu, điều tra nhu cầu
kinh tế-xã hội để xác định nhu cầu điều chỉnh,
tham gia xây dựng (soạn thảo) dự án, dự thảo,
tham gia, thẩm định, phản biện, tham gia góp
ý kiến sửa đổi, bổ sung…
(2)
Phản biện xã hội
là một khâu của quá trình tham gia đó.
Tư vấn xã hội là hoạt động trợ giúp về tri
thức, kinh nghiệm, cung cấp thông tin, tư liệu
và những ý kiến phân tích, đánh giá và kiến
nghị trong việc đề xuất xây dựng hoặc thẩm
định, phê duyệt các dự án, dự thảo văn bản của
Đảng, Nhà nước.
(3)
Như vậy, xét ở khía cạnh
phương thức tham gia xây dựng đường lối,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
thì tư vấn xã hội và phản biện xã hội có tính
trái chiều nhau. Nếu tư vấn xã hội hướng tới
việc cung cấp những thông tin, tri thức cần
thiết cho việc hình thành nên dự án, dự thảo
hay cung cấp những cơ sở để thẩm định, phê
duyệt, ban hành văn bản thì phản biện xã hội
biện chính trị ở đối tượng và đặc trưng xã
hội của loại hoạt động này. Phản biện khoa
học là sự phản biện của các nhà khoa học đối
với các công trình nghiên cứu khoa học, qua
đó giúp cho việc hoàn thiện, nghiệm thu kết
quả nghiên cứu. Sự phản biện này được thực
hiện ở phạm vi hoạt động khoa học và mang
tính chuyên môn sâu sắc, không liên quan
trực tiếp tới hoạt động thực thi quyền lực
chính trị. Phản biện xã hội cũng là hoạt động
mang tính xã hội do các tổ chức xã hội thực
hiện nhưng lại tác động trực tiếp đến hoạt
động quyền lực (hoạt động của các cơ quan
của Đảng và Nhà nước). Cùng dựa trên
những tri thức chuyên môn, khoa học, công
nghệ nhưng điểm khác nhau cơ bản giữa
phản biện xã hội với phản biện khoa học là
phản biện khoa học có đối tượng là các vấn
đề của khoa học còn phản biện xã hội lại
hướng tới những vấn đề lớn, có ý nghĩa quan
trọng trực tiếp trước mắt hay lâu dài của đời
sống xã hội - những vấn đề cần có sự lãnh
đạo, quản lí, điều hành (điều chỉnh xã hội).
Phản biện chính trị là phản biện của cơ
quan có thẩm quyền đối với dự án, dự thảo
văn bản. Hoạt động phản biện này thuộc quá
trình xây dựng và ban hành văn bản của
Đảng và Nhà nước, do vậy không trực tiếp
mang tính chất xã hội nếu xét riêng về yếu tố
chủ thể và tính chất của sự phản biện. Phản
phân chia phản biện xã hội thành những loại
khác nhau. Căn cứ vào hình thức thực hiện
phản biện có thể phân chia phản biện xã hội
làm các loại là:
- Phản biện theo yêu cầu của các tổ chức
Đảng, cơ quan nhà nước: Theo hình thức
này, các chủ thể được yêu cầu thực hiện sự
phản biện đối với các dự án, dự thảo văn bản
thuộc thẩm quyền phê duyệt của tổ chức
Đảng, cơ quan nhà nước hoặc để trình tổ
chức, cơ quan cấp trên phê duyệt.
- Phản biện do các tổ chức xã hội tự thực
hiện: Trong phạm vi chức năng theo điều lệ
của mình, tổ chức xã hội tự đề xuất nhiệm vụ
phản biện đối với những vấn đề quan tâm, tổ
chức thực hiện và gửi các kiến nghị đến các
tổ chức, cơ quan có liên quan và các tổ chức,
cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Nếu căn cứ vào mức độ của sự phản biện
(từ đơn giản đến phức tạp) thì phản biện xã
hội được phân chia thành các loại sau:
- Phản biện về định hướng và phương
pháp tiếp cận thông tin (nguồn thông tin,
chuyên gia, tư liệu);
- Phản biện về nội dung một phần dự
thảo chính sách, đề án;
- Phản biện tổng thể đối với chính sách,
đề án (nghiên cứu, phân tích đánh giá toàn
bộ nội dung chính sách, đề án).
Phản biện xã hội cũng có thể được phân
biện của các tổ chức chính trị-xã hội đối với
đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước cần được xác định là nhiệm vụ
của các tổ chức này. Các tổ chức chính trị-xã nghiªn cøu - trao ®æi
22T¹p chÝ luËt häc sè 5/2006
hội không chỉ thực hiện nhiệm vụ tổ chức
động viên các lực lượng quần chúng nhân
dân thực hiện đường lối, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước mà còn
tham gia tích cực vào việc tổ chức động viên
nhân dân, đội ngũ các nhà trí thức, khoa học,
các doanh nhân góp phần xây dựng và hoàn
thiện hệ thống đường lối chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Phản biện của các tổ chức chính trị-xã
hội tập trung vào các vấn đề liên ngành hay
đa ngành, tức là những vấn đề có liên quan
đến lợi ích chung của toàn xã hội, thuộc
phạm vi hoạt động của nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực kinh tế-xã hội. Chẳng hạn, phản
biện của Mặt trận Tổ quốc, của Liên hiệp các
hội khoa học kĩ thuật Việt Nam được thực
hiện đối với những dự án, dự thảo văn bản
vận hành một cách bình thường và mang lại
hiệu quả chính trị-xã hội tốt nếu không hình
thành một hệ thống hoàn chỉnh. Hệ thống
chính trị-xã hội Việt Nam ghi nhận vai trò
của Đảng, Nhà nước của các tổ chức chính
trị-xã hội, các tổ chức xã hội, phát huy sức
mạnh tổng hợp của cả dân tộc vào sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước. Sự phân
công chức năng của các chủ thể trong guồng
máy vận hành của xã hội là yêu cầu tất yếu
khách quan, do đó phản biện xã hội cũng
phải là hoạt động trên cơ sở sự vận hành của
một hệ thống hoàn thiện, với trật tự, kỉ
cương chặt chẽ, trong đó sự điều hành, sự
phân công, phối hợp có hiệu quả là điều có ý
nghĩa quyết định.
(5)
Từ đó, có thể hiểu hệ thống phản biện xã
hội là hệ thống các tổ chức chính trị-xã hội,
các tổ chức xã hội và cơ chế phân công phối
hợp đảm bảo cho các tổ chức này phát huy
cao độ hiệu quả hoạt động phản biện xã hội
góp phần xây dựng hoàn thiện và tổ chức nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 5/2006
23
t chc xó hi cú chc nng, nhim v ny.
Cỏc t chc c giao thc hin nhim v
phn bin xó hi cỏc ch th phn bin xó
hi (cỏc t chc chớnh tr-xó hi, cỏc t chc
xó hi) c t trong h thng theo cu trỳc
nht nh. Mụ hỡnh cu trỳc ca h thng
phn bin xó hi xột trờn phm vi ton xó hi
gm nhiu mi liờn h mang tớnh khỏch quan
theo nhu cu phỏt trin cỏc lnh vc ca i
sng chớnh tr-xó hi, khoa hc-cụng ngh.
S phõn cụng chc nng, nhim v ca nn
kinh t-xó hi quyt nh mụ hỡnh t chc v
mi liờn kt gia cỏc t chc phn bin xó
hi thuc cỏc ch th khỏc nhau. Nh cú s
phõn cụng, phi hp v chc nng, nhim v
gia cỏc t chc phn bin m hot ng
phn bin xó hi mt mt c m rng
phm vi n hu ht cỏc lnh vc ca i
sng xó hi mt khỏc cht lng, hiu qu,
tỏc dng xó hi ca hot ng phn bin
c nõng cao. õy cng chớnh l vn
ang t ra cn tp trung nghiờn cu v
xut cỏc gii phỏp phự hp vi thc tin nn
dõn ch nc ta hin nay.
Vi tớnh cht xó hi rng ln, mụ hỡnh
cu trỳc th ch v t chc, hot ng ca h
thng phn bin xó hi phi trỏnh li hnh
chớnh hoỏ; va m bo tớnh chuyờn mụn
khoa hc sõu sc va m bo tớnh cht qun
chỳng, phn ỏnh c nng lc tri thc,
nhng iu kin khỏch quan sau:
Th nht, m rng dõn ch trờn c s
kinh t-xó hi, khoa hc, cụng ngh phỏt trin.
Nn kinh t th trng c xõy dng v
hon thin cựng vi nhng tin b v kinh
t-xó hi, khoa hc, cụng ngh l c s
m rng v phỏt huy cỏc yu t ca nn dõn
ch trong iu kin mi. Trong ú, tt c cỏc
ch th v mi liờn h c bn gia cỏc ch
th ca h thng chớnh tr-xó hi cng c
i mi. M rng v phỏt huy cỏc yu t ca
nn dõn ch hin nay ng ngha vi vic
cao v trớ, vai trũ, chc nng nhim v ca
mi ch th trong ton b h thng chớnh tr-
xó hi, ng viờn cao nht nng lc mi ch
th y trong h thng phõn cụng xó hi theo
cỏc yờu cu khỏch quan. Do ú, cú th núi
rng trong iu kin hin nay nu khụng cú
nhn thc v hnh ng ỳng v vai trũ
khỏch quan ca cỏc ch th h thng chớnh
tr-xó hi thỡ cng khụng th cú vic m
rng v phỏt huy nn dõn ch núi chung v
vỡ th cng khụng th to iu kin hỡnh
thnh v phỏt trin h thng phn bin xó hi
nc ta c.
Th hai, cỏc t chc xó hi ln mnh.
Tht ra, iu kin th hai ny l h qu
ca iu kin th nht. Tuy nhiờn, núi ti
iu kin th hai ny l mun cp tớnh
c lp, sỏng to v ch ng vn lờn mnh
(5).Xem thờm: Trn Thỏi Dng, Suy ngh v h
thng chớnh tr-xó hi Vit Nam hin nay - Tp chớ
Khoa hc phỏp lớ, s 2 (33), 2006.