LỜI MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài:
Hoa Kì là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam trong đó
thủy sản là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Trong thời
gian qua sự gia tăng trong kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam có sự
đóng góp không nhỏ của thị trường Hoa Kì vì đây là nhóm hàng chiếm tỉ trọng lớn
nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kì.
Tuy nhiên, những mặt hàng thủy sản có lợi thế của Việt Nam xuất khẩu sang
Hoa Kì cũng chính là những mặt hàng mà nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,
đặc biệt là các nước trong Asean, Trung Quốc có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu
sang thị trường Hoa Kì. Đồng thời đây cũng là một trong những thị trường có chính
sách quản lí hàng hóa nhập khẩu phức tạp nhất. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của
Việt Nam cũng gặp phải nhiều rào cản khi thâm nhập thị trường Hoa Kì do chưa đáp
ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như các tiêu chuẩn kĩ thuật khắt
khe khác của Hoa Kì.
Trước bối cảnh hiện nay thì cạnh tranh xuất khẩu ngày càng gay gắt và đặc
biệt những yêu cầu khắt khe về hàng rào kĩ thuật thương mại đối với hàng thủy sản
nhập khẩu vào Hoa Kì. Xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường này
trong thời gian qua tuy có nhiều thành tựu nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế và yếu
kém trong cạnh tranh, chưa đáp ứng một cách đầy đủ các yêu cầu của thị trường Hoa
Kì, chưa phát huy hết những lợi thế và khả năng của đất nước để duy trì và mở rộng
thị phần trên thị trường Hoa Kì. Mặt khác, Hoa Kì được coi như là thịtrường truyền
thống và luôn chiếm thị phần lớn nhất trong việc nhập khẩu thủy sản của Việt Nam.
Do đó việc duy trì chỗ đứng trên thị trường Hoa Kì là một yêu cầu mang tính cấp
thiết đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Vì vậy em cho rằng việc nghiên cứu đề tài
“Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt
Nam.” là hết sức cần thiết.
Bài viết là sự kế tiếp các công trình nghiên cứu trước đây trong việc phân
tích thực trạng hang thuỷ sản Việt Nam, các hàng rào kĩ thuật của Hoa Kì áp dụng
đối với mặt hàng thuỷ sản nói chung và thuỷ sản Việt Nam nói riêng trong những
năm gần đây, thêm vào đó bài viết đi vào phân tích những rào cản kĩ thuật mà Việt
6. Kết cấu:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, chuyên đề có
3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về Viện nghiên cứu thương mại
Chương 2: Thực trạng rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất
khẩu của Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì
đối với hàng thủy sản xuất khẩu Việt NamCHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆN NGHIÊN CỨU
THƯƠNG MẠI VÀ KHÁI QUÁT VỀ RÀO CẢN KĨ THUẬT
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HOA KÌ
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Viện nghiên cứu Thương mại
- Tên doanh nghiệp: Viện Nghiên cứu Thương mại
- Tên tiếng Anh: Vietnam institute for trade (VIT)
- Địa chỉ: 17 Yết Kiêu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
- Điện thoại: (04) 38 262 721
- Fax: (04) 38 248 279
- Email: [email protected] ệ t Nam
- Hình thức pháp lý: Đơn vị sự nghiệp hành chính
- Tên giao dịch trong hoạt động của Viện là tên tiếng việt: Viện Nghiên cứu
Thương mại.
- Ngành nghề kinh doanh chính của Viện: Nghiên cứu khoa học về kinh tế -
thương mại.
Viện Nghiên cứu Thương mại là đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học quốc
gia được thành lập theo Quyết định số 721/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
8/11/1995 trên cơ sở hợp nhất Viện Kinh tế kỹ thuật Thương mại và Viện Kinh tế
Đối ngoại mà tiền thân là:
- Viện Kinh tế Kỹ thuật Thương nghiệp (1983 - 1992)
môn, công nghệ thông tin và ngoại ngữ cho cán bộ thương mại;
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn chất lượng cho các tổ chức, doanh nghiệp và
cá nhân cả trong và ngoài nước về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của Viện;
- Hợp tác nghiên cứu, đào tạo và trao đổi thông tin khoa học thương mại với
các tổ chức nghiên cứu, các trường đại học, các nhà khoa học trong và ngoài nước...
1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Viện Nghiên cứu Thương mại
Các mô hình tổ chức phổ biến hiện nay là mô hình trực tuyến chức năng và
trực tuyến tham mưu. Đối với Viện nghiên cứu Thương mại, mô hình tổ chức quản lý
cũng mô hình trực tuyến chức năng và trực tuyến tham mưu.
Hình 1.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Viện
(Nguồn: Viện Nghiên cứu Thương mại)
Người Lãnh đạo đứng đầu Viện là Viện trưởng. Viện trưởng là người đứng
đầu cơ quan, có thẩm quyền cao nhất, có quyền quyết định và bổ nhiệm các Trưởng,
Phó các Phòng, Ban. Có nhiệm vụ tổ chức triển khai toàn bộ hoạt động của Viện, là
người chịu trách nhiệm về hoạt động cua Viện với cơ quan quản lý cấp trên.
Các Phó Viện trưởng, có nhiệm vụ tham mưu, quản lý giúp Viện trưởng
trong phạm vi chuyên môn, nghiệp vụ mình phụ trách.
Tiếp đến là các Phòng, Ban chuyên môn và nghiệp vụ. Mỗi một Phòng, Ban
có chức năng và nhiệm vụ riêng, thực hiện các công việc của cấp trên giao xuống.
1.3.1. Ban Nghiên cứu Chiến lược phát triển thương mại
A. Chức năng, nhiệm vụ của Ban
Viện trưởng
Các phó viện trưởng
Ban nghiên cứu
chiến lược phát
triển thương mại
Ban nghiên cứu
chính sách và cơ
chế quản lý
Ban nghiên
2 kỹ sư, tổ chức hoạt động nghiên cứu theo ban nhóm:
- Thương mại và phát triển;
- Phát triển thị trường và thương mại quốc tế;
- Phát triển thị trường và thương mại trong nước.
1.3.2. Ban Nghiên cứu Chính sách và Cơ chế quản lý thương mại
A. Chức năng
Nghiên cứu về chính sách và cơ chế quản lý thương mại, tiến trình đổi mới
và hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý thương mại để thực hiện nhiệm vụ do Bộ
Thương mại và Viện giao.
B. Nhiệm vụ
Ban Nghiên cứu Chính sách và Cơ chế quản lý thương mại có các nhiệm vụ
chủ yếu sau:
- Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về xây dựng và hoàn thiện chính
sách và cơ chế quản lý thương mại;
- Nghiên cứu xác lập luận cứ khoa học trong tiến trình đổi mới và hoàn thiện
chính sách và cơ chế quản lý thương mại;
- Tư vấn và thực hiện các dịch vụ về hoạch định chính sách và cơ chế quản
lý thương mại.
- Nghiên cứu chính sách phát triển thương mại nội địa, thương mại quốc tế
và hội nhập.
C. Cơ cấu tổ chức
Hiện nay Ban nghiên cứu chính sách và cơ chế quản lý thương mại có 9 cán
bộ nghiên cứu khoa học, trong đó có 1 tiến sĩ, 2 thạc sĩ và 6 cử nhân kinh tế và luật.
- Lãnh đạo ban: Gồm trưởng Ban và các phó trưởng Ban
- Các nhóm nghiên cứu:
Nhóm 1: Chính sách phát triển ngành hàng tư liệu sản xuất, công nghiệp tiêu
dùng, hàng nông sản.
Nhóm 2: Chính sách hội nhập khu vực và thế giới.
Nhóm 3: Cơ chế quản lý thương mại.
Nhóm 4: Chính sách phát triển thương mại với thị trường ngoài nước (Mỹ,
và 1 phó trưởng ban. Trong đó có 3 thạc sĩ và 4 cử nhân kinh tế.
1.3.5. Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo
A. Chức năng, nhiệm vụ
Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo thuộc Viện Nghiên cứu Thương mại có
chức năng thăm mưu, giúp Viện trưởng về công tác quản lý các hoạt động nghiên
cứu khoa học và đào tạo của Viện.
Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch nghiên cứu khoa học và đào
tạo của Viện;
- Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các đề tài đúng tiến độ và các qui chế về
quản lý khoa học do Nhà nước ban hành;
- Quản lý các hoạt động đào tạo của Viện. Tổ chức và quản lý các khoá đào
tạo sau đại học theo đúng quy chế của Nhà nước;
- Thực hiện các quan hệ công tác với các cơ quan quản lý cấp trên, các tổ
chức và cá nhân trong và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến công tác quản lý
khoa học và đào tạo của Viện;
- Quản lý cán bộ, cơ sở vật chất - kỹ thuật của phòng theo sự phân cấp quản
lý của Viện, lưu trữ hồ sơ liên quan đến công tác quản lý khoa học và đào tạo của
Viện;
- Được sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật của Viện phục vụ cho các hoạt
động quản lý khoa học và đào tạo; được chủ động khai thác và sử dụng các nguồn
kinh phí hỗ trợ khác ngoài nguồn kinh phí Nhà nước cấp theo hạn mức hàng năm.
B. Tổ chức bộ máy của phòng
- Lãnh đạo phòng gồm trưởng phòng và 1 phó trưởng phòng;
- Các chuyên viên nghiệp vụ.
1.3.6. Phòng Hợp tác quốc tế
A. Chức năng và nhiệm vụ của phòng
Phòng Hợp tác quốc tế có chức năng tổ chức các hoạt động hợp tác nghiên
cứu khoa học và đào tạo, trao đổi thông tin khoa học, thương mại với các tổ chức
nghiên cứu và các nhà khoa học ngoài nước.
lĩnh vực thương mại của Bộ Thương mại;
- Cung cấp thông tin thường xuyên hoặc đột xuất theo yêu cầu. Phát hành kỷ
yếu khoa học giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học của Viện Nghiên cứu
Thương mại. Phát hành các ấn phẩm thông tin tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu
của các cơ quan chức năng thuộc Bộ và Viện, hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp;
- Tổ chức ngân hàng dữ liệu, trao đổi thông tin với các tổ chức nghiên cứu
và các nhà khoa học trong nước và quốc tế;
- Thực hiện các đề tài nghiên cứu liên quan đến hoạt động công nghệ thông
tin, thương mại điện tử và tổ chức hoạt động thông tin phục vụ ngành thương mại.
C. Cơ cấu tổ chức
- Lãnh đạo Phòng: gồm trưởng phòng và các phó trưởng phòng
- Các nhóm chuyên môn:
Nhóm 1: Nhóm thư viện: Bổ sung, quản lý và khai thác các tài liệu trong và
ngoài nước phục vụ cho công tác nghiên cứu của Lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Viện và các
nghiên cứu viên trong Viện; Tổ chức giới thiệu sách mới, tóm tắt nội dung tài liệu
theo yêu cầu; Cung cấp các bản sao tài liệu gốc.
Nhóm 2: Nhóm tư liệu: Cung cấp những tài liệu, tư liệu cần thiết theo yêu
cầu của Lãnh đạo; Lập hệ thống hồ sơ tư liệu về tình hình kinh tế, xã hội, đặc biệt là
các vấn đề về phát triển kinh tế, thương mại trong nước và các khu vực trong thị
trường ngoài nước và trên thế giới.
Nhóm 3: Nhóm ấn phẩm: Tập hợp các công trình nghiên cứu khoa học về
thương mại, tổ chức kỷ yếu giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học ngành thương mại.
Huy động thông tin từ mọi nguồn trong và ngoài Viện, chịu trách nhiệm về việc tổ chức
và biên soạn các ấn phẩm định kỳ, các chuyên đề về thị trường, các chính sách phát triển
thương mại trong và ngoài nước.
Nhóm 4: Nhóm công nghệ thông tin: tổ chức cơ sở dữ liệu và cập nhật các
thông tin cần thiết theo yêu cầu của lãnh đạo; Quản lý hệ thống mạng LAN của Viện
Nghiên cứu Thương mại; Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
quản lý và khai thác nguồn thông tin; Quản lý và cập nhật trang tin về kết quả nghiên
nội bộ, xây dựng cơ bản, hành chính, quản trị, công tác đối nội và đối ngoại theo qui
định về lề lối làm việc của Viện.
Văn phòng còn phải tổng hợp và giúp Viện trưởng trong việc phối hợp các
hoạt động của Viện đúng quy định về lề lối và quan hệ công tác trong Viện, giúp
Viện trưởng tổ chức triển khai thực hiện và theo dõi, duy trì việc thực hiện các chế độ
chính sách, luật lao động... trong Viện.
1.3.10. Phòng Tài chính kế toán
A. Chức năng
- Thực hiện sự chỉ đạo của Lãnh đạo Viện trong công tác xây dựng dự toán
thu chi hàng năm đối với từng loại nguồn kinh phí;
- Báo cáo thường xuyên, kịp thời cho Lãnh đạo tình hình sử dụng kinh phí
tại Viện. Tư vấn, đề xuất với Lãnh đạo Viện trong việc tạo thêm nguồn kinh phí hoạt
động cũng như việc sử dụng kinh phí đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
B. Nhiệm vụ
- Thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về nguồn vốn, nguồn kinh phí
được cấp, được tài trợ, được hình thành từ các nguồn khác nhau và tình hình sử dụng
các khoản vốn, kinh phí và nguồn thu khác phát sinh ở Viện theo đúng đối tượng,
tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành;
- Phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác các hoạt động kinh tế phát sinh tại
Viện vào sổ sách kế toán theo đúng nguồn kinh phí;
- Kiểm tra giám sát tình hình chấp hành dự toán thu, chi, tình hình thực hiện
các tiêu chuẩn định mức của Nhà nước, kiểm tra việc quản lý và sử dụng tài sản của
các đơn vị thuộc Viện, tình hình chấp hành kỷ luật thu, chi, nộp, kỷ luật thanh toán,
tín dụng và các chế độ, chính sách tài chính của Nhà nước; phát hiện và ngăn ngừa
các hành vi vi phạm pháp luật về kế toán;
- Kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch kinh phí;
- Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị cấp
dưới, tình hình chấp hành dự toán, quyết toán của đơn vị cấp dưới;
- Lập và nộp đúng thời hạn các báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý
cấp trên và các cơ quan tài chính; tổ chức phân tích tình hình thực hiện dự toán để
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tư vấn và Đào tạo kinh tế thương mại gồm:
Giám đốc, Phó Giám đốc và các phòng nghiệp vụ: Phòng Tổng hợp, Phòng Nghiên
cứu triển khai, Phòng Đào tạo, Phòng Tư vấn và Hợp tác phát triển.
1.4. Khái quát về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế của Hoa Kì
1.4.1. Các rào cản phi thuế quan (NTBs)
Rào cản phi thuế quan tthực chất là những biện pháp kỹ thuật hiện đã được rất
nhiều nước phát triển đã áp dụng trong đó quốc gia sử dụng nhiều nhất phải kể đến là
Mỹ, Mỹ đã sử dụng các rào cản phi thuế quan nhằm để thay thế cho các quy định cắt
giảm thuế quan của WTO. Các rào cản thuế quan ngày nay rất đa dạng, các rào cản
này bao gồm
- Các biện pháp kỹ thuật
- Các loại thuế và phí trong nước
- Các quy định và thủ tục hải quan
- Các hạn chế trong việc tiếp cận thị trường liên quan đến cạnh tranh
- Các hạn chế về định lượng nhập khẩu
- Các thủ tục và quy trình hành chính (nói chung)
- Các thực tiễn về mua sắm của Chính phủ
- Trợ cấp và các hỗ trợ của Chính phủ
- Các hạn chế về đầu tư hoặc các yêu cầu
- Quy định hoặc chi phí vận chuyển
- Các hạn chế về cung cấp dịch vụ (nói chung)
- Các hạn chế về sự dịch chuyển của các thương nhân hoặc người lao động
- Các công cụ bảo hộ thương mại ( chống bán phá giá, thuế đối kháng, quyền tự
vệ)
- Các quy định của thị trường trong nước.
Ngày nay, có rất nhiều “ vũ khí ” phục vụ cho mục tiêu bảo hộ thương mại. Ví dụ,
các hàng rào phi thuế quan của Mỹ đã dập tắt cơ hội đối với các sản phẩm như đồ
chơi trẻ em, bật lửa và thuốc đông y của Trung Quốc thâm nhập thị trường Hoa Kỳ.
Điển hình như tiểu bang California của Mỹ đã quy định rõ trên 110 loại thuốc
đông y của Trung Quốc có chứa hàm lượng kim loại nặng vượt quá mức cho phép
2.1 Tổng quan về xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì
2.1.1 Về kim ngạch xuất khẩu
Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì với khối lượng 70.930 tấn thủy
sản các loại, trị giá 489.03 triệu USD.
Năm 2002, khối lượng các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang Hoa Kì tăng
lên 98.664 tấn, đạt 654.98 triệu USD, chiếm khoảng32,4% tổng giá trị xuất khẩu của
Việt Nam. Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kì bắt đầu có hiệu
lực, theo đó thuế nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vào Hoa Kì giảm 30-40 % tạo điều
kiện thuận lợi nâng cao tính cạnh tranh về giá cả cho hàng hóa Việt Nam trên thị
trường Hoa Kì.
Năm 2003, Việt Nam xuất khẩu đạt hơn 777 triệu USD, đây là giai đoạn
Hoa Kì kiện Việt Nam về việc bán phá giá cá tra và cá basa khiến cho nhiều doanh
nghiệp Việt Nam chịu nhiều tổn thất.
Tính từ cuối năm 2004, các vụ kiện chống bán phá giá (CBPG) đối với cá
tra, cá basa và tôm Việt Nam dẫn đến mức thuế thu nhập của mặt hàng tăng lên rất
cao, khiến các nhà nhập khẩu Hoa Kì không thể chịu được và các nhà xuất khẩu Việt
Nam thì không đủ khả năng để đóng ký quỹ thuế chống bán phá giá vì nó quá lớn và
khả năng thanh khoản thấp. Điều này dẫn đến tình trạng kim ngạch thủy sản Việt
Nam xuất khẩu sang Hoa Kì giảm mạnh, từ 20% xuống (-24%), Hoa Kì dần trở thành
nhà nhập khẩu đứng thứ hai rồi thứ ba. Năm 2004, thủy sản xuất sang Hoa Kỳ có
tổng kim ngạch 565 triệu USD.
Năm 2005 tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ đã lấy
lại đựơc sự ổn định và dần phát triển khả quan. Chúng ta đã đề ra một số biện pháp ,
trong đó quan trọng nhất là tạo nên những sản phẩm cá có chất lượng. Vì vậy, hàng
loạt các hoạt động về ghi nhãn mác đối với các sản phẩm cá đông lạnh xuất khẩu đã
được triển khai. Ngoài ra, những nỗ lực của Việt Nam trong việc kiểm soát dư lượng
kháng sinh trong hàng thủy sản xuất khẩu là rất đáng ghi nhận. Hiện nay, với việc
tăng cường kiểm tra hàng thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kỳ và Canada (kiểm soát
100% các lô hàng thuộc 3 nhóm sản phẩm thịt cua ghẹ, tôm và cá da trơn với 4 chỉ
tiêu kháng sinh, thời gian tối thiểu 4 tháng), Việt Nam đã củng cố vững chắc niềm tin
2004 89.768 -27 592.824.065 -24
2005 91.674 2 633.984.549 7
2006 98.883 8 664.339.579 5
2007 99.769 1 720.524.455 8
2008 108.064 8.3 744.623.000 3.3
2009 103.206 -4,5
711.145.746
-4,5
Nguồn: Báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
(http://www.fistenet.gov.vn)
Sang năm 2008, thủy sản xuất khẩu cả nước tăng 20% về giá trị nhưng đây là
một năm thủy sản Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Theo số liệu của Tổng cục Hải
Quan, xuất khẩu thủy sản đạt trên 1,2 triệu tấn với trị giá trên 4,5 tỷ USD, tăng 33,7%
về khối lượng và 19,8% về giá trị so với năm 2007. Do là trung tâm của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, Hoa Kì tụt xuống vị trí thứ 3 về nhập khẩu thủy sản Việt Nam
với trị giá khoảng 744 triệu USD, tỷ trọng giảm từ 20,4% xuống 16,5%.
Có nhiều nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sự sụt giảm về sản lượng cũng như
giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì.
Trước hết, đó là do từ giữa năm 2007, nền kinh tế Hoa Kì khủng hoảng, người
tiêu dùng Hoa Kì đã giảm dần sức mua, đặc biệt là mặt hàng tôm vốn là mặt hàng cao
cấp bị liệt vào danh sách tiết giảm. Báo cáo của Cục khí quyển và hải dương quốc gia
Hoa Kì (NOAA) chỉ ra rằng năm 2007, người tiêu dùng Hoa Kì tiêu thụ 2,23 triệu tấn
thủy sản, giảm 0,7% so với năm 2006 là 2.247 triệu tấn.
Thứ hai, đó là do từ năm 2007, ngân hàng Hoa Kì thắt chặt tín dụng gây ra
tình trạng các doanh nghiệp nhập khẩu Hoa Kì thiếu vốn mua hàng, phải nợ tiền hàng
của các doanh nghiệp Việt Nam và thanh toán khi bán xong hàng. Nhiều thời điểm
đồng Việt Nam khan hiếm, doanh nghiệp thủy sản gặp khó khăn trong việc chuyển
đổi tiền, doanh nghiệp và người nuôi trồng thủy sản đều thiếu vốn đầu tư.
Thêm vào đó, năm 2008 là năm diễn biến thất thường, nhiều mưa bão, áp thấp
nhiệt đới gây thiệt hại nặng cho nhiều người nuôi thủy sản và ngư dân khai thác.
0.8%
6.3%
0.4%
Tôm Hải sản khác Tra&basa Cá ngừ
Mực&bạch tuộc Cá khác Hàng khô
Nguồn: http://www.vasep.com.vn
Đối với mặt hàng cá tra, cá basa
Tuy Hoa Kì nhập khẩu cá da trơn từ nhiều nguồn khác nhau như Trung Quốc,
Thái Lan, Indonesia nhưng mặt hàng cá da trơn của Việt Nam vẫn chiếm ưu thế lớn.
Theo số liệu thống kê Bộ Nông Nghiệp Hoa Kì, khối lượng cá da trơn nhập
khẩu vào Hoa Kì tăng nhanh chóng trong những năm gần đây. Năm 2006, lượng cá
da trơn nhập khẩu vào thị trường này tăng gấp đôi so với năm 2005 ở mức 74,964
triệu pound. Năm 2007 là 84,605 triệu pound,năm 2008 là năm kỉ lục nhất kể từ năm
1994 với khối lượng là 102,428 triệu pound. ( Nguồn: Báo cáo Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn).
Nhưng trong thời gian gần đây, cá tra và cá basa của Việt Nam đang bị đe dọa
khi mà đạo luật Farm Bill đã được Quốc hội Hoa Kì thông qua và chuẩn bị đưa vào
thực hiện, trong đó quy định mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam nằm trong nhóm
cá Catfish . Theo đạo luật này, cá tra Việt Nam được xem là cá da trơn và phải tuân
thủ những điều kiện sản xuất tương đương tại Mỹ thì mới có thể xuất khẩu được vào
thị trường này. Đạo luật Farm Bill đã được thông qua và khi chính thức có hiệu lực
thì nhiều khả năng cá tra Việt Nam sẽ hết đường vào Mỹ bởi những rào cản kỹ thuật
hết sức khắt khe, nhất là phải tuân thủ các điều kiện như phải nuôi ở ao nông, nước
giếng khoan, khác hẳn môi trường nuôi trên sông Mê Kông hiện nay ở Việt Nam .
Chính vì vậy các nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam phải có ngay kế hoạch
để ứng phó, can thiệp nhằm hạn chế những điều luật thiệt thòi cho người nuôi cá Việt
Nam . Trong trường hợp xấu nhất, nông dân Việt Nam phải tự thay đổi tập quán sản
xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu”.
Năm 2009, sản phẩm từ cá tra và basa đứng thứ 2 trong số các mặt hàng thủy
sản lớn nhất xuất khẩu vào Mỹ với kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm đạt 88 triệu
10000
15000
20000
25000
30000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
xuât khâu cá tra và cá basa sang Hoa Kì
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn)
Đối với mặt hàng tôm
Tôm là mặt hàng thủy sản xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thủy
sản Việt Nam sang Hoa Kì với mức tổng kim ngạch xuất khẩu được duy trì tương đối
ổn định, trên 30 nghìn tấn.
Vụ kiện bán phá giá đối với mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam bị Hoa Kì
khởi kiện vào 31/12/2003 đã làm kim ngạch tôm đông lạnh Việt Nam xuất khẩu sang
Hoa Kì giảm mạnh. Năm 2003, Việt Nam xuất khẩu tôm sang HoaKì đạt 52.439 tấn
trị giá 513 triệu USD thì năm 2004 giảm 23,5% về giá trị. Sang đến năm 2005, 2006
thì thị trường xuất khẩu tôm đã có dấu hiệu phục hồi trở lại.
Xuất khẩu cá tra và cá ba sa sang Hoa Kỳ
Biểu đồ 2.4: Xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Hoa Kì 2001 – 2009
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
T?n
0
100000000
(đơn vị: 1000 tấn)
Nhập khẩu tôm của Hoa Kì
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Thái Lan 190,1 289,3 201,3 216 269,3 237,3 247,5
Inđônêxia 38,9 37,8 90,9 118,3 93,9 148,7 149,6
Việt Nam 34,2 43,8 38,9 35,5 40,2 46,6 47,5
Ecuađo 53,4 62,1 65,6 86,7 88,7 90,6 91,7
Mêhico 58,8 48,6 58,5 56,5 63,2 67,4 67,4
T.Quốc 53,8 124,9 45,3 60 83,6 60,5 61,7
Malaixia 3,1 2,1 22,2 30,1 31,5 41,9 42,8
Bănglađét 9,9 11,9 20,3 37 33,7 31,1 36,2
Ấn Độ 102,8 124,6 69,8 62,9 39 27,1 28,5
Pêru 3,3 3,1 5,8 6,3 7,8 9,9 10,5
Venezuela 18,8 22,2 19,2 14,3 14,6 9,1 9,8
Ghaina 12,6 8,4 7,1 10,8 8,8 8,9 9,2
Nước khác 94,8 73,7 61,3 64 43,2 34,3 35,5
Tổng cộng 674,5 852,5 706,2 798,4 817,5 813,4 837,9
2.1.3 Về khả năng cạnh tranh của các mặt hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam tại
thị trường Hoa Kì
Theo báo cáo của Cục khí quyển và Hải dương quốc gia Hoa Kì (NOAA),
Hoa Kì nhập khẩu khoảng 84 % lượng thủy sản tiêu dùng trong đó ít nhất ½ là thủy
sản nuôi, tuy vậy ngành thủy sản trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 5,7 % nhu cầu
tiêu dùng, chính vì vậy Hoa Kì trở thành thị trường đầy tiềm năng cho các doanh
nghiệp thủy sản xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang gặp khó khăn như hiện
nay, khả năng tiêu thụ ở thị trường Hoa Kì giảm nhẹ, tiêu thụ thủy sản theo đầu
người của Hoa Kì năm 2009 đạt 7,41kg, giảm 1.7% so với năm 2008.
Mặc dù vậy, xu hướng là ngày càng có nhiều nước tham gia hoạt động xuất
khẩu thủy sản vào Hoa Kì. Hiện nay có đến hơn 40 nước xuất khẩu tôm vào Hoa Kì
so với vài nước như trước đây, nhiều nhà xuất khẩu mới xuất khẩu cá vào Hoa Kì