luận văn:MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KCNTT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG VỀ KINH TẾ - Pdf 11



Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN CÁC KCNTT TRÊN ĐỊA BÀN
HÀ NỘI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
VỀ KINH TẾ.”



1.1.1

Khái niệm 10

1.1.2

Đặc điểm, vai trò của KCNTT 11

1.1.2.1

Đặc điểm KCN 11

1.1.2.2

Vai trò của KCN 13

1.1.3

Phân loại KCNTT 18

1.2

Cơ sở lý luận phát triển các khu công nghiệp tập trung theo hướng bền vững về
kinh tế 19

1.2.1

Khái niệm về phát triển bền vững 19


1.2.3.6

Chất lượng cơ sở hạ tầng KCN. 31

1.2.3.7

Chất lượng các dịch vụ 31

1.2.3.8

Khả năng vốn đầu tư 32

1.2.3.9

Năng lực của các ngành công nghiệp phụ trợ. 32

1.2.3.10

Nguồn lao động 32

1.2.3.11

Khả năng thị trường trong nước. 33

1.2.3.12

Tổ chức quản lý điều hành các KCN. 33

Tổng số lao động. 36

1.2.4.6

Tỷ lệ vốn đầu tư trên một công nhân 36

1.2.4.7

Tỷ lệ % đóng góp GDP 37

1.2.4.8

Hiệu quả sản xuất kinh doanh trên diện tích đất công nghiệp. 37

1.2.4.9

Giá trị sản xuất bình quân của công nhân. 37

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ KINH TẾ CỦA CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP TẬP TRUNG HÀ NỘI. 39

2.1

Giới thiệu về Hà Nội 39

2.1.1

Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của Hà Nội. 39


KCN Thăng Long. 55

2.3

Đánh giá chung sự phát triển bền vững của các KCNTT Hà Nội về kinh tế. 59

2.3.1

Những thành tựu đã đạt được. 61

2.3.1.1

Tỷ lệ lấp đầy của các KCN Hà Nội khá cao 61

2.3.1.2

Tình hình thu hút đầu tư : 61

2.3.1.3

Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. 62

2.3.1.4

Giải quyết việc làm và kéo theo sự phát triển của các dịch vụ xung
quanh KCN. 65

2.3.2


3.1.2

Danh mục dự án kêu gọi đầu tư phát triển vào các KCN Hà Nội từ nay đến
năm 2010. 73

3.2

Một số giải pháp phát triển bền vững về kinh tế của các KCNTT trên địa bàn Hà
Nội. 74

3.2.1

Huy động vốn đầu tư vào các KCN 74

3.2.2

Nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp 76

3.2.3

Về nguồn nhân lực. 78

3.2.4

Về quy hoạch các KCN. 79

3.2.5

Về chính sách tăng cường nội địa hoá. 80

Danh mục từ viết tắt

KCN : Khu công nghiệp
KCNTT : Khu công nghiệp tập trung
KCNC : Khu công nghệ cao
KCX : Khu chế xuất
KKT : Khu kinh tế
CCN : Cụm công nghiệp
BQL các KCN&CX : Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
6 Danh mục bảng biểu

Bảng 1: Giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội tính theo giá thực tế
Bảng 2: Tình hình triển khai các khu công nghiệp
Bảng 3: Số liệu đầu tư của các doanh nghiệp vào các KCN
Bảng 4: Tỷ lệ vốn đầu tư của các KCN
Bảng 5: Số dự án được cấp và điều chỉnh qua các năm

trật tự an toàn xã hội.
Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, các KCN của Hà Nội đã chứng
tỏ được vai trò của KCN thủ đô, đạt được những kết quả quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế. Chỉ với diện tích hơn 921km
2
, nhưng Hà Nội đã
xây dựng được 5KCNTT với tổng diện tích 543,11ha, thu hút được nhiều các
dự án có công nghệ cao và quy mô của các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới
như: Canon, Toto, Daewoo- Hanel, Panasonic, Sumitomo Bakelite, Yamaha,
…Riêng hai dự án của Canon và Orion-hanel đã có tổng vốn đầu tư lên đến
gần 500triệu USD. Các KCN của Hà Nội ra đời góp phần hình thành các khu
đô thị, tăng cường tiếp thu công nghệ tiên tiến, giải quyết việc làm, đóng góp Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
8
vào tăng thu ngân sách…góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Hà
Nội nói riêng và của cả nước nói chung.
Tuy nhiên, Hà Nội nói riêng và cả nước ta nói chung vần còn những tồn
tại trong quá trình phát triển bền vững các KCN. Phát triển các KCN cần phải
tính đến sự phát triển bền vững về tất cả các mặt kinh tế, xã hội và môi
trường. Đặc biệt, hoạt động của các KCN thường là 50 năm, một khoảng thời
gian dài như vậy nếu không phát triển theo hướng bền vững thì không những
không thể có những đóng góp cho địa phương mà thậm chí còn có thể gây nên

KCNTT trên địa bàn Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của GS.TS
Đàm Văn Nhuệ, và sự giúp đỡ trong quá trình thực tập của Ban quản lý các
khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, 4/2008

SVTH: Nguyễn Trúc Quỳnh Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP TẬP TRUNG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG VỀ KINH TẾ.
1.1 Khái quát về Khu công nghiệp tập trung.
1.1.1 Khái niệm
Sự ra đời của KCN thế giới là bắt đầu từ thế kỷ 18, khi các nước phát tư
bản giàu có quan tâm mở rộng thương mại quốc tế, áp dụng các loại thuế
quan khắt khe đối với những sản phẩm hàng hóa vào lãnh thổ của mình. Đặc
biệt vào nửa cuối thế kỷ XX, các KCN trên thế giới phát triển mạnh mẽ khi
các nước chủ nghĩa tư bản đang ở trong thời cạnh tranh tìm kiếm thị trường
và tranh giành phân lại thị trường thế giới.

ứng nhu cầu xây dựng phát triển cuả các doanh nghiệp đi đầu tư, làm sao có
được cơ sở hạ tầng hiện đại để phát triển công nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi
trường, xử lý tốt chất thải công nghiệp, tập trung quản lý, tiết kiệm đất đai, chi
phí. Đảm bảo được các yêu cầu trên, KCN ra đời như một tất yếu khách quan.
Có nhiều khái niệm về KCN trên thế giới, tuy nhiên theo Nghị Định của
Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN,
KCX và KKT thì khái niệm về KCN được hiểu như sau:
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ.
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực
hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh
giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng
đối với khu công nghiệp theo quy định của Chính phủ
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ
trường hợp quy định cụ thể.
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của KCNTT
1.1.2.1 Đặc điểm KCN
Việc thành lập các KCN có tác động nhiều mặt đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước như tổ chức cơ cấu lại kinh tế của vùng lãnh thổ, bố
trí dân cư, bảo vệ môi trường, nâng cao mức sống nhân dân, phát triển cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho khu vực. Khu công nghiệp tập trung có những
đặc điểm cơ bản sau đây: Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
12


Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
13
tiêu dùng, các nhà sản xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất
hàng hoá có chất lượng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu.
- Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế
thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Do đó, cơ chế quản lý kinh tế
trong KCN lấy điều tiết của thị trường làm chính.
- KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và
nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài,hợp đồng, hợp tác
kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp vốn 100% vốn trong
nước.
- Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân
trong và ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng.
1.1.2.2 Vai trò của KCN
Việc hình thành các KCNTT là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển
kinh tế - xã hội, nhất là đối với các nước đang phát triển thì việc hình thành
các KCN sẽ nhanh chóng thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cụ thể:
- Việc ra đời các KCN đã thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước.
Với những ưu điểm tất yếu của KCNTT như cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh,
đồng bộ và hiện đại, thuận tiện trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm
chi phí sản xuất và xử lý chất thải tốt đã là một nhân tố để thu hút các nhà

ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước sẽ liên
doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài. Từ đó, tạo cơ hội để các
doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý, trình độ
điều hành sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại của nước
ngoài , bồi dưỡng nhân tài, thử các phương án cải cách để tiến dần đến trình
độ thế giới.
- Tiếp thu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cũng như phương pháp quản lý
hiện đại.
Việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại một cách nhanh
chóng và hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là mục tiêu chiến
lược. Muốn phát triển kinh tế thì không thể thiếu khoa học công nghệ. Mà ở
các nước đang phát triển thì trình độ khoa học công nghệ là chậm phát triển
hơn nhiều so với các nước phát triển. Kinh nghiệm phát triển kinh tế của
nhiều nước cho thấy việc ứng dụng tiến bộ công nghệ của nước ngoài là một Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
15
trong những bí quyết phát triển. Sao chép những phương pháp có hiệu quả
hơn, đưa chúng vào áp dụng trong nước thường là một giải pháp mang tính
truyền thống. Tuy nhiên đối với các nước nghèo thì lại không dễ dàng như
vậy. Có thể ở các nước nghèo cũng có nhiều chuyên gia kỹ thuật được trang
bị những tri thức công nghệ hiện đại, nhưng chỉ riêng họ thôi thì không đủ để
giải quyết được hết vấn đề của nước nghèo. Cần thấy rằng, bản thân công
thức và phương pháp quản lý của các doanh nghiệp bên ngoài, làm cho các
doanh nghiệp này cũng đổi mới để đạt hiệu quả kinh tế cao.
- KCN là nơi tạo công ăn việc làm và phát triển kỹ năng lao động.
Xây dựng và phát triển các KCN để tạo nhiều hơn việc làm là một trong
những mục tiêu của các nước đang phát triển . Đồng thời tạo điều kiện cho
lực lượng lao động nước ta tham gia một cách tốt nhất vào sự phân công lại
lực lượng lao động xã hội.
Các KCN là nơi hấp thu công nghệ, kỹ thuật hiện đại và học tập kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, vừa là môi trường đào tạo ra những nhà quản lý có
trình độ cao, có bản lĩnh và kinh nghiệm; những công nhân có tay nghề cao và
ý thức, tác phong công nghiệp do được tiếp cận và làm việc với dây chuyền
công nghệ tiên tiến cùng kỷ luật lao động cao buộc các nhà quản lý và người
lao động phải rèn luyện và không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên
môn.
- KCN là nơi hấp thu nhanh nhất chính sách mới.
Thường thì khi các chính sách mới ra đời, việc áp dụng chúng cùng một
lúc trên diện rộng là không thuận lợi, do vậy các KCN là nơi thí điểm những
chính sách kinh tế mới, đặc biệt là những chính sách về kinh tế đối ngoại.
- KCN góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Các KCN là đầu tầu tăng trưởng, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát
triển, là điều kiện dẫn dắt các ngành công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ như tài
chính, ngân hàng, dịch vụ thương mại, lao động, tư vấn, lao động… Đồng
thời, KCN phát triển sẽ đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu,…Do đó
KCN góp phần quan trọng làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng
nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền
kinh tế.
Nhìn chung, ảnh hưởng của KCN đối với sự phát triển của nền kinh tế là
rõ ràng. Tuy nhiên, ở mỗi nước, mức độ ảnh hưởng là khác nhau.
Tóm lại, có thể nói, KCNTT là công cụ khá hữu hiệu để một đất nước
khởi động sự phát triển các lĩnh vực công nghiệp hướng về xuất khẩu, thay
thế nhập khẩu và sử dụng nhiều lao động trong nước, thu hút vốn đầu tư, công Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
18
nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước đang phát triển. Về lâu dài,
các KCN tác động gián tiếp đến toàn bộ nền kinh tế qua khâu chuyển giao
công nghệ và qua những mối liên kết KCN với nội địa. Phát triển các KCNTT
là một giải pháp thích hợp với giai đoạn đầu của quá trình đẩy nhanh sự phát
triển của các nước đang phát triển vì nó phù hợp trình độ quản lý, sử dụng
vốn đầu tư trong giai đoạn đầu chuyển sang cơ chế thị trường, là con đường
mở cửa để gia nhập vào nền kinh tế thế giới.
1.1.3 Phân loại KCNTT
Có nhiều cách phân loại KCN, nhưng tôi đồng ý với các cách phân loại
KCN như sau:
- Phân loại KCN theo tính chất ngành nghề: gồm 4 loại
+ KCN chuyên ngành: được hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp
cùng một ngành hoặc một số ít ngành công nghiệp khác nhau nhưng cùng sản
xuất ra một số loại sản phẩm, chủ yếu hình thành từ các ngành chủ đạo như
hoá chất-hoá dầu, điện tử-tin học, vật liệu xây dựng, chế tạo và lắp ráp cơ khí

+ KCNTT: có thể là đa ngành, chuyên ngành, có quy mô diện tích khác
nhau, được hình thành với cac điều kiện khác nhau
+ KCX: khu chế xuất là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
+ KCNC: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và
các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên
cứu, triển khai khoa học, công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan.
+ CCN: cụm công nghiệp là tên gọi chung cho các cụm công nghiệp-tiểu
thủ công nghiệp, thực chất là KCN tập trung nhưng có quy mô nhỏ do UBND
cấp tỉnh quyết định thành lập( hoặc phân cấp quyết định thành lập) theo quy
hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn để bố trí các cơ sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống trong diện di dời
khỏi nội thành, nội thị hoặc các khu dân cư tập trung, và thu hút các dự án đầu
tư mới với quy mô vừa và nhỏ.
1.2 Cơ sở lý luận phát triển các khu công nghiệp tập trung theo hướng
bền vững về kinh tế
1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
20
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững, một trong các
định nghĩa hay được các quốc gia sử dụng là khái niệm của Hội đồng thế giới
về môi trường và phát triển bền vững (WCED), được trình bày trong tài liệu

dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng
môi trường sống.
Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển bền vững
được thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến
năm 2010, đó là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Tăng trưởng kinh tế
đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”, gắn sự
phát triển kinh tế với giữ vững ổn định chính trị-xã hội, bảo đảm an ninh quốc
phòng.
Phát triển bền vững về kinh tế là sự tăng trưởng của kinh tế phải đi đôi
với sự tăng trưởng ổn định và lâu dài.
Sự phát triển bền vững về kinh tế của một quốc gia phải đạt được những yêu
cầu sau:
- Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người cao. Nước càng nghèo thu nhập
càng thấp đòi hỏi sự tăng trưởng này càng phải cao. Trong điều kiện hiện nay
nước có thu nhập thấp phải có tỷ lệ tăng GDP vào khoảng 5% /năm thì mới có
thể xem là phát triển bền vững về kinh tế. Nếu thấp hơn thì không được coi là
phát triển bền vững về kinh tế.
- Có GDP hoặc GDP bình quân đầu người bằng hoặc cao hơn mức trung
bình hiện nay cuả các nước đang phát triển. Nếu có tăng trưởng GDP cao
nhưng mức GDP bình quân đầu người thấp thì vẫn coi là chưa đạt tới mức
phát triển bền vững.
- Cơ cấu GDP theo hướng tỷ lệ đóng góp của công nghiệp và dịch vụ
trong GDP phải cao hơn nông nghiệp nhằm đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn
định và lâu dài.
1.2.2 Cơ sở lý luận phát triển các khu công nghiệp tập trung theo hướng
bền vững về kinh tế.


càng cao, phát triển kinh tế là quy luật tiến hoá của xã hội loài người. Vậy vẫn
phải phát triển kinh tế , nhưng phải theo hướng bền vững.
Các KCN ra đời là các khu tập trung các nhà máy xí nghiệp công nghiệp,
do đó KCN có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của vùng. Các
KCN phát triển theo hướng bền vững về kinh tế biểu hiện: Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
23
- Các doanh nghiệp trong KCN có năng suất lao động và tốc độ tăng
trưởng cao và ổn định
- Sản phẩm sản xuất ra có chất lượng cao và khả năng cạnh tranh được
với các sản phẩm trên thế giới.
Các chính sách và tiêu chí chủ yếu phát triển KCNTT theo hướng bền
vững về kinh tế tại Việt Nam là:
a) Chính sách quy hoạch phát triển KCN phù hợp với chiến lược phát
triển lâu dài:
- Quy hoạch phát triển các KCN phải đảm bảo phát huy và khai thác lợi
thế so sánh của từng khu vực, bảo đảm tính hiệu quả, cân nhắc đầy đủ các yếu
tố môi trường và xã hội trong các quyết định quy hoạch
- Chính sách quy hoạch KCN phải gắn kết chặt chẽ với phát triển đô thị,
cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào KCN như hệ thống giao thông, đèn
chiếu sáng, đường dây điện, bưu điện… và các dịch vụ phục vụ như xe buýt
đưa đón công nhân, nhà trọ cho công nhân, nhà ăn cho công nhân, đồn công

động của doanh nghiệp và ảnh hưởng xấu đến môi trường. Một KCN có cơ sở
hạ tầng yếu kém sẽ không thể sản xuất tốt và ổn định, hơn nữa sẽ dẫn đến việc
yếu kém trong quá trình xử lý môi trường. Chắc chắn một KCN có cơ sở hạ
tầng yếu kém sẽ không hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư lớn,
vì khả năng phát triển sản xuất là yếu kém, chi phí trong quá trình sản xuất sẽ
có nhiều phát sinh, không thể phát triển bền vững .
c) Chính sách khai thác sử dụng hài hòa các nguồn lực
Chính sách phát triển KCN phải dựa vào nguồn lực và cả cách thức sử
dụng hài hòa nguồn lực, điều này quyết định năng lực cạnh tranh và hiệu quả
của doanh nghiệp.
Theo quan niệm truyền thống, nguồn lực là các yếu tố tạo nên nền kinh
tế và thúc đẩy nó phát triển. Các yếu tố đó là đất đai, tài nguyên thiên nhiên
khí hậu, nguồn nước, nguồn vốn con người, nguồn vốn tài chính, khoa học
công nghệ, các truyền thống văn hóa…
Theo giác độ nâng cao năng lực cạnh tranh, nguồn lực giống nhau nhưng
các tác nhân gắn liền với việc sử dụng nguồn lực như năng lực quản lý, thể
chế, chính sách từng địa phương khác nhau sẽ trạo nên sự khác biệt giữa các
địa phương có cùng nguồn lực. Một số giải pháp phát triển các KCNTT trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững về kinh tế
25
Theo giác độ nguồn gốc và thời điểm phát sinh thì sự phong phú, quy mô
các nguồn lực có ý nghĩa quan trọng nhưng chính việc sử dụng có hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status