luận văn:Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh potx - Pdf 11

1



ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Đề tài: “Thực trạng thu hút và sử dụng
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Thành phố Hồ Chí Minh”

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
2

CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CNPT : Công nghiệp phát triển
DN : Doanh nghiệp
DNLD : Doanh nghiệp liên doanh
DNSX : Doanh nghiệp sản xuất
DNVN : Doanh nghiệp Việt Nam
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
ĐPT : Đang phát triển
FDI (Foreign Direct Investment) : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

thu hút FDI vào thành phố Hồ Chí Minh 31

2.1.1. Mục tiêu và định hướng 31
2.1.2. Chính sách 35
2.1.3. Biện pháp 37
2.2. Thực trạng thu hút và sử dụng FDI tại thành phố Hồ Chí Minh 38

2.2.1. Quy mô và nhịp độ thu hút FDI 38
2.2.2. Cơ cấu ngành đầu tư: 45
2.2.3. Hình thức và đối tác đầu tư: 47
2.2.4. Một số dự án FDI tiêu biểu trên địa bàn thành phố 51
2.2.5. Đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I/2008 53
2.3. Đánh giá tác động của FDI đối với nền kinh tế TP. Hồ Chí Minh 54

2.3.1. Tác động tích cực: 54
2.3.2. Tác động tiêu cực: 67
4
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG
NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH ĐỐI VỚI CÁC TỈNH THÀNH KHÁC 73
3.1. Cải thiện môi trường đầu tư: 73

3.1.1. Đất đai 74
3.1.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 75
3.1.3. Giải quyết bức xúc hạ tầng: Mấu chốt để thu hút đầu tư 76
3.1.4. Nỗ lực trong cải cách hành chính : Quyết liệt "một cửa một dấu" 78
3.1.5. Một số cải cách khác: 80
3.2. Xây dựng, quy hoạch và cụ thể hóa chiến lược thu hút FDI 81

3.2.1. Các giai đoạn trong xây dựng chiến lược thu hút FDI 82

nhận đầu tư không những được cung cấp về vốn mà còn được tiếp nhận công nghệ
hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Vì vậy, thu hút và sử dụng hiệu quả
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành vấn đề quan trọng đối với nhiều
địa phương, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) là đầu tàu kinh tế của vùng Kinh tế Trọng
điểm phía Nam cũng như của cả nước, cũng chính là địa phương thu hút được
nguồn vốn FDI lớn nhất cả nước trong thời gian qua. Để đạt được điều này bên
cạnh những lợi thế sẵn có về địa lý – kinh tế - xã hội, TP HCM đã phải có những
chính sách, biện pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, làm tăng tính hấp dẫn đối
với các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ như
tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp – dịch vụ hiện đại, giá trị cao, gia tăng xuất khẩu, tiếp thu công nghệ tiên
tiến nhưng cũng giống như những địa phương khác trong cả nước hay như các
thành phố đang phát triển khác trên thế giới, TP HCM cũng không tránh khỏi những
khó khăn, trở ngại khi tiếp cận, sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả để phát
triển kinh tế.
Việt Nam đã gia nhập WTO, thực hiện chính sách mở cửa chưa lâu và mới chỉ
thực sự chú trọng tới thu hút nguồn vốn FDI được hơn 20 năm. TP HCM lại là địa
phương đi đầu, dẫn đường cho các địa phương khác trong việc thu hút và sử dụng

6
nguồn vốn này. Những bước đi của thành phố sẽ đóng vai trò gợi mở cho các địa
phương khác, những kết quả thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài của
thành phố từ những thành công đến những điểm còn chưa làm được thực sự đã,
đang và sẽ để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương trong cả
nước. Do đó nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm TP HCM để áp dụng sang các tỉnh
thành khác là việc làm cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận xin được làm rõ một số nội dung sau:
* Vai trò của nguồn vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của TP

trong đó:
Chương 1: Vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Bài học kinh nghiệm về việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài của thành phố Hồ Chí Minh đối với các tỉnh thành khác
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do những hạn chế về kiến thức, thời gian
và nguồn tài liệu có hạn nên khóa luận không thể tránh khỏi một số sai sót, hạn chế
nhất định. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đến
những vấn đề đặt ra trong khóa luận.
Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn – PGS TS
Vũ Chí Lộc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện nghiên cứu
và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này. 8
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1. VỊ TRÍ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM

33 năm sau ngày Sài Gòn được giải phóng, từ một thành phố tiêu thụ, kinh tế
què quặt với các tệ nạn xã hội và thất nghiệp tràn lan; với cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ
yếu phục vụ chiến tranh, lệ thuộc nước ngoài thành phố Hồ Chí Minh đã vươn mình
trở thành đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là một trung tâm kinh tế
lớn nhất của cả nước. Chỉ với 0,6% diện tích và 6,6 % dân số so với cả nước nhưng
thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị thế dẫn đầu của mình với một tốc độ

Nam bộ, phía Nam của Đông Nam bộ và rìa Bắc của Tây Nam bộ, có cơ sở hạ
tầng phát triển tốt, là đầu mối giao thông lớn, nối liền các tỉnh trong vùng và là
cửa ngõ của cả nước vươn ra thế giới) cùng với tiềm năng về nhiều mặt của thành
phố như: là một trung tâm nhiều chức năng, có đội ngũ lao động tay nghề cao với
nguồn chất xám dồi dào, có các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, có các loại dịch
vụ hiện đại,… có thể nói thành phố là hạt nhân trong Vùng KTTĐ phía Nam gồm
8 tỉnh, thành phố: TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình
Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang và là trung tâm đối với vùng Nam Bộ.
Thành phố luôn giữ vững và phát huy vai trò, vị trí đầu tầu của mình với mức
đóng góp GDP là 66,1% trong Vùng KTTĐ phía Nam và đạt mức 30% trong tổng
GDP của cả khu vực Nam Bộ.
1

1
Thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm kinh tế của cả nước (2005), www.hochiminhcity.gov.vn, 21/04/2008

10
Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP, công nghiệp và dịch vụ của TPHCM,
Vùng KTTĐ phía Nam và cả nước giai đoạn 2001 - 2010

(Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh)

Dựa vào Quy hoạch phát triển của Vùng KTTĐ phía Nam, TP HCM đã,
đang và sẽ là vai trò trung tâm, đồng thời là Trung tâm lớn của cả nước.
Đối với Vùng KTTĐ phía Nam, chương trình hợp tác của TP HCM với các
tỉnh bạn tiếp tục được tăng cường, đến nay TP HCM đã ký kết hợp tác với tất cả 7
tỉnh trong vùng. Và nếu tính cả nước thì Thành phố Hồ Chí Minh đã ký kết hợp tác

nghiệp của
Thành phố so
với VKTTĐPN
57,6%

52,5%

2. Dịch vụ của
Thành phố so
với VKTTĐPN
81% -
82%
80%
(Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh)
Sự vận động và phát triển của thành phố có tác động ảnh hưởng đến sự phát
triển nhiều mặt của các tỉnh, thành trong khu vực,
- Tạo sự thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đối với các địa phương trong
vùng; giúp từng địa phương phát huy thế mạnh trong sản xuất và mở rộng hoạt
động thương mại, giới thiệu các mặt hàng chiến lược đến với các doanh nghiệp
trong và ngoài nước.
- Tạo ra các mô hình trong việc phát triển hoạt động công nghiệp (xây dựng
các khu chế xuất, khu công nghiệp, đào tạo tay nghề cho người lao động) để các
tỉnh, thành có thể vận dụng và tổ chức thực hiện tại từng địa phương.
Thành phố đang vận động và phát triển theo xu hướng hình thành vùng đô thị
thành phố Hồ Chí Minh:
- Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn của khu vực và trên thế giới, dân
số đã vượt qua Singapore, Manila, Kuala Lumpua (6,24 triệu người – số liệu năm
2005) và theo quy luật, thành phố cực lớn luôn tạo cho nó một không gian phát triển
ngoài ranh giới hành chính mà các nhà chuyên môn gọi là vùng đô thị thành phố.
Hiện nay nó đang tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho các tỉnh lân cận có cơ hội


(Ngun: S K hoch u t Thnh ph H Chớ Minh)
Nu nh nm 2001 tc tng GDP ca thnh ph l 7,4 % thỡ n nm
2007 tng lờn t mc 12,6%, tng gp ri so vi mc tng chung ca c nc v
cng l mc tng cao nht trong vũng 10 nm qua, cao hn ch tiờu tng trng
trung bỡnh hng nm ca K hoch 5 nm 2006 - 2010 (12%). Phỏt trin kinh t vi
tc tng trng cao ó to ra mc úng gúp GDP ln cho c nc. Tng sn
phm trong nc (GDP) ca Thnh ph nm 2007 theo giỏ hin hnh (quý I/2008)
t 228.697 t ng (tng ng 14,3 t USD), chim t trng 20% GDP ca c
nc. GDP bỡnh quõn u ngi cng cú mc tng trng ỏng k, t 2.180 USD,
gp 2,6 ln so vi mc bỡnh quõn chung ca c nc. [16]
Biu 1.5: Tc tng GDP ca TP. HCM giai on 2002 2007

20%
80%
T trng GDP ca TP so vi c nc nm
2007
TP Hồ Chí
Minh
Các vùng khác
50%
50%
T trng GDP ca VKTTPN so vi
c nc nm 2007
VKTTĐPN
Các vùng khác
10,2
11,7
5,62
8,21

10,05% và chiếm 54,1% trong tổng chi ngân sách Thành phố. [16]
Kinh tế thành phố có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Năm 2005, năng suất lao
động bình quân toàn nền kinh tế thành phố đạt 63,63 triệu Đồng/người/năm, năng
suất lao động công nghiệp - xây dựng đạt 67,05 triệu Đồng (bằng 105,4% năng suất
lao động bình quân toàn nền kinh tế), năng suất lao động dịch vụ đạt 66,12 triệu
Đồng (bằng 103,12%), năng suất lao động nông nghiệp đạt 13,66 triệu Đồng (bằng
21,5%).
3

 Ngành dịch vụ:
Trong 3 khu vực của nền kinh tế, khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao
nhất, tăng 14,1% và chiếm tỷ trọng 52,6% GDP của Thành phố. Bốn ngành dịch vụ
tài chính – ngân hàng, du lịch, bưu chính – viễn thông, vận tải – dịch vụ cảng – kho
bãi có tốc độ tăng trưởng cao, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố
đang đi đúng hướng nhằm gia tăng tỷ trọng của các nhóm ngành dịch vụ, phát huy
tiềm năng thế mạnh của trung tâm tài chính, dịch vụ của Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và của cả nước, đặc biệt là tận dụng cơ hội phát triển các lĩnh vực này
trong năm đầu Việt Nam gia nhập WTO. Về thương mại, dịch vụ, thành phố là
trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất nước Kết quả cụ thể trên một số ngành dịch vụ
có thể ghi nhận như sau:

3
Thành phố Hồ Chí Minh - Trung tâm kinh tế của cả nước (2005), www.hochiminhcity.gov.vn

15
 Kim ngạch xuất nhập khẩu
Kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố ngày càng chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu
trên địa bàn có mức đột phá, đạt 18,3 tỷ USD, tăng 17,2% so với năm 2006 (Loại
trừ trị giá dầu thô, tổng kim ngạch xuất khẩu là 9.834,4 triệu USD, tăng 35,3% so

Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch đã phát huy các phương tiện thông tin
đại chúng, nâng cao chất lượng chuyên mục du lịch trên các báo lớn, truyền
hình, tăng cường và nâng cao hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyên
nghiệp khu vực và các thị trường trọng điểm. Triển khai chương trình xét chọn và
công nhận 100 điểm mua sắm đạt chuẩn du lịch.
 Ngành bưu chính, viễn thông
Ngành bưu chính, viễn thông của Thành phố phát triển khá tốt cả về doanh
thu và số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Doanh thu ước cả năm đạt 14.000
tỷ đồng, tăng 16,7%; số lượng doanh nghiệp chuyên ngành công nghệ thông tin
được cấp phép trong năm là 1.053 doanh nghiệp, tăng 13,2%, nâng tổng số doanh
nghiệp chuyên ngành công nghệ thông tin đang hoạt động trên địa bàn là 6.685
doanh nghiệp. Người dân Thành phố ngày càng tiếp cận thuận lợi với công nghệ
thông tin, kết quả trong năm có 9,54 triệu thuê bao điện thoại (trong đó có 7,94 triệu
máy di động), chiếm tỷ lệ gần 20% số thuê bao điện thoại của cả nước và đạt 143
máy/100 dân. [16]
 Tài chính ngân hàng
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam,
thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính -
tín dụng. Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng
doanh thu toàn quốc. Năm 2007, các hoạt động tín dụng - ngân hàng tiếp tục phát
triển, góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất - kinh doanh. Nguồn vốn huy động qua
ngân hàng đạt 484.272 tỷ đồng (tương đương 28 tỷ USD), tăng 69,6% so cùng kỳ
(riêng tiền gửi của dân cư tăng 71,9%, chiếm 44,4% ). Vốn huy động bằng ngoại tệ
chiếm 25,3% tổng vốn huy động, tăng 39,2%; bằng tiền nội tệ (VND) chiếm 74,7%,
tăng 83,2%; tổng dư nợ tín dụng đạt 397.172 tỷ đồng, tăng 72,9% so cùng kỳ. Điều
đáng ghi nhận là trong tổng dư nợ tín dụng, dư nợ tín dụng trung dài hạn chiếm đến

17
39,7%, tăng 71,9% cho thấy nguồn vốn tín dụng được huy động cho đầu tư phát
triển kinh tế đã tăng khá. Nhiều dịch vụ tín dụng hiện đại được đưa vào ứng dụng,

trâu bò 121.000 con (tăng 5%); tổng sản lượng thủy sản đạt 57.885 tấn các loại,
tăng 2%; sản xuất 45 triệu con cá cảnh (tăng 50%); đàn cá sấu đạt 123.000 con, tăng
58,9%. [3]
 Đầu tư:
Một thành tựu quan trọng khác là vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tăng
cao. Trong năm 2007, tổng vốn đầu tư xã hội đạt 84.800 tỷ đồng, tăng 26,6%; trong
đó đầu tư từ vốn nhà nước chiếm 32%, vốn dân doanh chiếm 51%, vốn doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm 17%. [3]
Với những nỗ lực không ngừng của thành phố trong việc tạo dựng niềm tin
cho các nhà đầu tư, tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh đã góp phần
tạo nên những chuyển biến mới tích cực để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
thành phố. Lực lượng các doanh nghiệp tư nhân cũng đang phát triển rất mạnh,
đóng góp ngày càng lớn hơn vào nền kinh tế chung. Trong năm 2007 đã có thêm
17.519 doanh nghiệp mới với số vốn đăng ký là 153.372 tỷ đồng, tăng 13,3% về số
lượng doanh nghiệp và tăng gấp hơn 3 lần về vốn đăng ký, chứng tỏ một lượng vốn
rất lớn trong dân đã được đưa vào sản xuất kinh doanh. Trong 4 tháng đầu năm
2008, thành phố lại có thêm tới 6.153 doanh nghiệp mới thành lập với tổng vốn
đăng ký 44.667 tỷ đồng. Với hàng chục ngàn doanh nghiệp tư nhân và hàng chục
vạn hộ kinh doanh cá thể, kinh tế dân doanh tại thành phố Hồ Chí Minh đã đóng
góp tới 48,1% tổng sản phẩm trên địa bàn và đã đóng góp tới 8,4% trong mức tăng
trưởng GDP 12,6% của toàn thành phố trong năm qua. [3]
Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, làn sóng đầu tư nước ngoài đã dồn dập đổ
vào Việt Nam. Nhờ môi trường đầu tư được cải thiện, Thành phố là nơi thu hút vốn
đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, kể từ khi Luật đầu tư được ban hành. Số dự
án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng số dự án đầu tư nước ngoài trên cả
nước. Năm 2007, đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng khá so với năm 2006, 460 dự
án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng vốn đăng ký 2.280,3 triệu USD, tăng

19
62,5% (tăng 177 dự án) về số dự án và 40,1% (tăng 653 triệu USD) về vốn đầu tư.

(tương đương khoảng 27,2 tỷ USD); tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng
62,89% so với giai đoạn 2001-2005, trong đó, thu nội địa tăng 88,34%, tổng chi
ngân sách địa phương tăng 44, 29%. [3]
Năm 2008, năm thứ ba – năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 đồng
thời cũng là năm thứ hai Việt Nam thực hiện cam kết gia nhập WTO. Trên cơ sở dự
báo tình hình thuận lợi, khó khăn ở trong nước và trên thế giới, Thành phố đề ra
nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 là tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đồng
thời tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh
và hiệu quả của nền kinh tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội. Tận dụng cơ hội
thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu, thu hút vốn, công nghệ cao của nước ngoài.
Nâng cao mức sống của người dân. Xử lý tốt các vấn đề môi trường, đảm bảo
Thành phố phát triển bền vững, xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố xã
hội chủ nghĩa, văn minh, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW của Bộ
Chính trị.
Thực hiện quyết tâm đó, Hội đồng nhân dân Thành phố đã đề ra 6 chỉ tiêu
kinh tế năm 2008 như sau:
(1) GDP tăng 12,7% - 13%, GDP bình quân đầu người 2.500 USD trở lên.
(2) Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15%.
(3) Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng 35% GDP (97.500 tỷ đồng).
(4) Thu ngân sách trên địa bàn 98.070 tỷ đồng, tăng 17,54% so ước thực hiện
năm 2007.
(5) Chi ngân sách địa phương 18.594 tỷ đồng, bằng 82,4% so ước thực hiện năm
2007.
(6) Chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. [16]
Để kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, bảo đảm nâng cao hiệu quả,
tính bền vững, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Thành phố Hồ
Chí Minh hiện đang tích cực khẩn trương triển khai thực hiện Chương trình hành
động của Chính phủ nhiệm kỳ 2007-2011. Nhiều giải pháp đang được tích cực triển

21

22
trong quá trình công nghiệp hóa toàn khu vực - tốc độ công nghiệp hóa càng nhanh
thì vai trò trung tâm thương mại - dịch vụ và tài chính của thành phố Hồ Chí Minh
càng quan trọng, nhất là khi thị trường chứng khoán được hình thành ở đây. Thành
phố Hồ Chí Minh có thể sẽ trở thành một trung tâm tài chính và thương mại trong
khu vực các nước ASEAN sau năm 2010.
1.2. Ý NGHĨA CẦN THIẾT CỦA VIỆC THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội
TP.HCM đã được thực tiễn minh chứng. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình ở
mức hai con số, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp rất tích cực vào quá
trình tăng trưởng kinh tế Thành phố (nếu xét về số tuyệt đối và trực tiếp), và từ đó
góp phần cải thiện cơ cấu kinh tế Thành phố theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa. Hơn nữa, với hiện trạng nền kinh tế còn nhiều điểm bất cập như hiện nay, FDI
là liều thuốc cần thiết giúp thay đổi diện mạo nền kinh tế cũng như các lĩnh vực
khác của thành phố.
1.2.1. Thực trạng nền kinh tế thành phố
 Ngành công nghiệp:
Đến nay, Thành phố đã có trên 38.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng
35,9% so với năm 2000. Các cơ sở này đã tạo công ăn việc làm cho khoảng 1 triệu
lao động, tăng gần gấp 2 lần so với thời điểm năm 1995. Nhưng theo khảo sát mới
đây (2007) của Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), chỉ có 10% cơ
sở công nghiệp có trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến (ngang với trình độ khu
vực). [31]
Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may; 4/40 cơ sở ngành da giày; 6/68 cơ
sở ngành hóa chất; 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46
cơ sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Còn lại đều
là những doanh nghiệp có trình độ sản xuất cũ, lạc hậu, năng suất thấp và gây ô


5
Thành phố Hồ Chí Minh: Chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại (2007),
, 21/04/2008

24
- Cơ sở hạ tầng chưa đi trước và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của Thành phố.
Cơ chế phối hợp và liên thông trong phát triển cơ sở hạ tầng và công nghiệp trong
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam còn nhiều bất cập và chưa được quan tâm đúng
mức.
- Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, thay đổi công nghệ tiên tiến còn chậm so với
tiến trình hội nhập. Năng lực quản trị, kỹ năng của lao động chưa đáp ứng kịp với
sự phát triển.
Mặc dù giá trị sản xuất của nhiều ngành công nghiệp liên tục phát triển trong
nhiều năm qua, trong đó có những ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng đến 50% sản
xuất của cả nước nhưng để phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh
Thành phố đã xác định tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp mũi nhọn là: điện -
điện tử - công nghệ thông tin; cơ khí; hóa chất và chế biến tinh lương thực thực
phẩm giai đoạn 2006-2010 với kinh phí 3,5 tỷ USD. Vì thế yêu cầu cần có thêm
những nguồn vốn FDI đủ mạnh đầu tư vào ngành công nghiệp của thành phố, đưa
ngành này phát triển nhanh, ổn định, hiện đại trong thời gian tới là vô cùng cần thiết
 Ngành nông nghiệp
TP Hồ Chí Minh có vùng nông nghiệp, nông thôn ngoại thành khá lớn,
chiếm 50% diện tích tự nhiên của thành phố nhưng chỉ chiếm 1% GDP của kinh tế
thành phố. Đây là căn cứ kháng chiến, là vùng nghèo, nơi sinh sống của gần hai
triệu người làm nông nghiệp, chịu bao đau khổ trong suốt 30 năm chiến tranh, trong
đó biết bao gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình chính sách, người có công.
Không giống như vùng nông nghiệp trù phú thẳng cánh cò bay của đồng
bằng sông Cửu Long, đất nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh có hơn 50% là đất
phèn mặn và gần 20% là đất xám, không thuận lợi phát triển nông nghiệp. Diện tích
đất nông nghiệp thành phố giảm liên tục suốt 10 năm qua, mỗi năm khoảng 1.000


6

TP Hồ Chí Minh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (2007), .v,
21/04/2008


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status