Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ thương mại và giao lưu quốc
tế ngày càng phát triển đang đặt ra những đòi hỏi và thách thức mới đối với
các doanh nghiệp đang kinh doanh xuất nhập khẩu. Là một hoạt động quan
trọng trong Công ty, thương mại quốc tế đời và phát triển không ngừng như là
một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình
TMQT không đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế mà còn phát sinh
những nguy cơ gây rủi ro, tổn thất trực tiếp cho các doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu, đất nước. Hơn nữa, thông qua hoạt động thanh toán quốc tế
các doanh nghiệp ngày càng thu hút nhiều khách hàng và có cơ hội khẳng
định vị thế của mình trên trường quốc tế, tăng thu nhập và phát triển ổn định
trong môi trường cạnh tranh.
Chính vì vậy, việc tổng kết thực tiễn tìm ra các giải pháp nhằm tìm ra
các giải pháp để hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế là một điều hết sức
cần thiết. Trong những năm qua, hoạt động TTQT ở Việt Nam tuy mới hình
thành nhưng đã được chú trọng phát triển, đạt được nhiều thành tựu đáng kể
và thực sự đã phát triển nhanh chóng, đóng góp một phần không nhỏ trong kết
quả kinh doanh chung của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cho đến hiện nay TTQT
vẫn được xem là hoạt động mới mẻ, chưa được hoàn thiện cả về trình độ công
nghệ lẫn kinh nghiệm thực tiễn. Mặt khác, với nền kinh tế thị trường rất sôi
động, cởi mở song lại mang tính phức tạp và cạnh tranh khốc liệt, làm cho
hoạt động TTQT gặp những khó khăn nhất định và phát sinh những rủi ro
không lường trước được.
Để thực hiện mục tiêu phát triển, an toàn, hiệu quả trong kinh doanh,
việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh
toán tiền hàng xuất khẩu tại Công ty Hanartex l;à vô cùng cần thiết. Nhận
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thức đưộc vấn đề trên, em xin chọn đề tài “Biện pháp hoàn thiện hoạt động
ĐỘNG THANH TOÁN TIỀN HÀNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY
XUẤT NHẬP KHẨU
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.1. Khái niệm
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế, không chỉ dựa vào
sản xuất trong nước mà cần phải có mối quan hệ giao thương với các nước
khác. Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế,
chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kĩ thuật… trong đó quan hệ kinh tế
(mà chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ
khác tồn tại và phát triển. Qúa trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến
những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ
đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế được hiểu là việc chi trả bằng tiền tệ phát sinh trên
cơ sở các hoạt động kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức
hay cá nhân nước khác, giữa một quốc gia với các tổ chức quốc tế … thông
qua các ngân hàng của các nước có liên quan.
Thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi
kinh tế và thường được phân ra làm hai loại thanh tóan trong ngoại thương và
thanh toán phi ngoại thương (hay còn gọi theo cách cũ tương ứng là thanh
toán mậu dịch và phi mậu dịch).
Một là, thanh toán quốc tế trong ngoại thương là việc thực hiện thanh
toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng
cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành
mua bán và thanh toán là hợp đồng ngoại thương. Trong đó, quy định rõ trách
nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi bên, phương thức thanh toán, đồng tiền
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thanh toán, các điều kiện thương mại quốc tế lựa chọn… và các điều khoản,
điều kiện được kí kết trong hợp đồng.
nói đến hoạt động thanh toán của Ngân hàng thương mại và không một ngân
hàng thương mại nào lại không muốn phát triển các hoạt động nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế. Chính vì vậy, kĩ thuật công nghệ là yếu tố trọng tâm đối với sự
phát triển của ngân hàng tức là đối với hoạt động thanh toán tiền hàng. Bên
cạnh đó, hoạt động TTQT chịu ảnh hưởng bởi các chính sách kinh tế, chính
sách ngoại thương và ngoại hối quốc gia. Đồng thời, hoạt động TTQT được
thực hiện trên nền tảng pháp luật và tập quán Thương mại quốc tế kết hợp
một cách khéo léo với pháp luật trong nước. Trong đó, hoạt động thanh toán
quốc tế là hoạt động kinh tế, tài chính có liên quan tới các chủ thể ở các quốc
gia khác nhau. Xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, dỡ bỏ hàng rào thương
mại (thuế quan và phi thuế quan) đã làm cho ngoại thương và nội thương
ngày càng trở nên đồng nhất với nhau hơn.
1.1.3. Vai trò của hoạt động thanh toán tiền hàng xuất nhập khẩu.
a. Đối với nền kinh tế:
TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ
giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có
hoạt động TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó mà tồn tại và phát triển
được. Nếu hoạt động TTQT được nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ giải
quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa – tiền tệ giữa người mua và
người bán một cách trôi chảy và hiệu quả. Vì vậy, TTQT có vai trò quan
trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia; được thể hiện chủ yếu trên
các mặt như: Bôi trơn và thúc đẩy các hợp đồng XNK của nền kinh tế như
một tổng thể đó là hợp đồng đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. TTQT
không chỉ đơn thuần là kí kết và thực hiện các hợp đồng mà ngoài ra nó còn
thúc đẩy và mở rộng hợp đồng dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế nhằm tăng
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác với mục đích cuối
cùng là thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế.
thiện và phát triển hoạt động TTQT có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt
động kinh doanh xuất khẩu, ta biết rằng TTQT không chỉ đơn thuần là thực
hiện việc chi trả tiền hàng giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu mà còn
là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ
sung và hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác của doanh nghiệp. Mặt
khác, TTQT đóng vai trò thúc đẩy hoặc cản trở hoạt động xuất khẩu của
doanh nghiệp. Nếu TTQT diễn ra thuận lợi thì người nhập khẩu sớm nhận
được hàng và tiến hành thanh toán một cách nhanh nhất, thuận tiện nhất còn
người xuất khẩu sớm nhận được tiền và từ khoản tiền đó doanh nghiệp sẽ tiếp
tục chu kì kinh doanh của mình nhằm sinh lời và tồn tại. Còn nếu TTQT tiến
hàng không thuận lợi, kịp thời và nhanh chóng thì cả nhà nhập khẩu và nhà
xuất khẩu đều không nhận được tiền và hàng, do đó mà thương mại quốc tế
thực sự sẽ không diễn ra. Một trong những vấn đề gây nên các hậu quả trong
giao hàng và thanh toán tiền hàng thì phải kể đến vai trò rất to lớn đối với
kinh doanh xuất khẩu là TTQT góp phần làm hạn chế rủi ro gây thiệt hại cho
doanh nghiệp trong quá trình thực hỉện hợp đồng xuất khẩu. Trên cơ sở hợp
đồng ngoại thương đã được thỏa thuận, việc kí kết về các điều khoản và các
điều kiện giữa các bên một cách chặt chẽ thì nhà xuất khẩu sẽ được đảm bảo
thu được tiền khi đã giao hàng còn nhà nhập khẩu sẽ lấy được hàng khi đã
thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu.
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2. Kiến thức nghiệp vụ cơ bản về thanh toán tiền hàng
xuất khẩu
1.2.1.Các phương tiện thanh toán quốc tế.
Trong TTQT có rất nhiều phương tiện được các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu sử dụng làm công cụ thanh toán tiền hàng để mua bán
với nhau. Trong đó, tiền mặt là phương tiện thanh toán nhưng trong TTQT nó
lại giữ vai trò thứ yếu còn phương tiện chủ yếu được dùng trong thanh toán
Nội dung của séc bao gồm: tiêu đề, mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện, số
tiền, ngày tháng và địa điểm lập séc hoặc cho người được chỉ định trên séc…
Ngoài hối phiếu và séc còn có các phương thức thanh toán khác như kỳ
phiếu, thẻ tín dụng… được sử dụng để thanh toán,
1.2.2. Các phương thức thanh toán quốc tế
Hiện nay, các Công ty XNK thường sử dụng nhiều nhất ba phương
thức là chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ. Sau đây ta có thể biết quy
trình nghiệp vụ của từng phương thức thanh toán.
a. Thanh toán bằng phương thức chuyển tiền
Thanh toán bằng chuyển tiền được hiểu là phương thức thanh toán
trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển
một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) ở mtj địa điểm
nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Có hai phương thức chuyển tiền là: Chuyển tiền bằng thư (Mail Tranfer
– M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – TT).
Ta có các bước trong quy trình chuyển tiền được tiến hành như sau:
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 1.1. Quy trình chuyển tiền
Trong đó:
Bước 1: Sau khi thỏa thuận đi đến kí kết hợp đồng mua bán ngoại
thương, nhà xuất khẩu thực hiện việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ đồng thời
chuyển giao toàn bộ chứng từ (vận đơn, hóa đơn, chứng từ về hàng hóa…)
cho nhà nhập khẩu.
Bước 2: Nhà nhập khẩu sau khi kiểm tra bộ chứng từ, hóa đơn, viết
lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình, trong đó phải ghi rõ rang,
đầy đủ những nội dung theo qui định.
Bước 3: Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân
hàng sẽ trích tài khoản của đơn vị, gửi giấy báo nợ, giấy báo đã thanh toán
cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối phiếu
do chính người bán lập. Các chứng từ thương mại có liên quan đến giao dịch
bên bán đã chuyển giao trực tiếp cho bên mua, không qua ngân hàng.
Các bước trong quy trình nghiệp vụ được tiến hành như sau:
Sơ đồ 1.2. Quy trình nhờ thu trơn
Trong đó:
Bước 1: Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hóa cho người
nhập khẩu.
Bước 2: Người xuất khẩu lập hối phiếu đòi tiền người nhập khẩu, ủy
nhiệm qua ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ nhập khẩu.
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
11
Ngân hàng ủy
thác
Người xuất
khẩu
Ngân hàng
đại lí
Người nhập
khẩu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bước 3: Ngân hàng ủy thác gửi giấy ủy nhiệm kềm hối phiếu cho ngân
hàng đại lí để nhờ thu tiền hộ.
Bước 4: Ngân hàng đại lí đòi tiền của người nhập khẩu hoặc yếu cầu kí
chấp nhận hối phiếu.
Bước 5: Người nhập khẩu kiểm tra xem hối phiếu có hợp lệ không, nếu
có và hối phiếu là hối phiếu trả ngay thì người nhập khẩu trả tiền ngay, nếu
hối phiếu có kì hạnthì kí chấp nhận hối phiếu hoặc nếu không hợp lệ thì trả lại
hối phiếu.
Bước 6: Ngân hàng đại lí thực hiện lệnh của người nhập khẩu thông
việc thu hộ tiền còn nhờ Ngân hàng khống chế chứng từ hàng hóa đối với
người mua. Với cách khống chế theo bộ chứng từ này quyền lợi của bên bán
được đảm bảo hơn vì sự ràng buộc giữa việc thanh toán tiền và nhận hàng của
người mua. Tuy nhiên trong phương thức thanh toán này vẫn có mặt hạn chế
như sau:
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
13
Người mua
NH thu hộ
Người bán
NH nhận ủy
thác thu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thứ nhất, người bán thông qua NH giữ bộ hồ sơ hàng hóa mới chỉ đảm
bảo được quyền sở hữu hàng hóa của mình chứ chưa khống chế được việc trả
tiền của người mua.
Thứ hai, người mua có thể kéo dài việc trả tiền hàng bằng cách chưa
nhận chứng từ hàng hóa (không cần nhận hàng), không thanh toán khi thị
trường biến động bất lợi cho họ.
Người bán tuy vẫn có quyền sở hữu hàng hóa, bán hàng cho người khác
nếu người mua không thanh toán song việc giải tỏa hàng gặp khó khăn và rủi
ro trong tiêu thụ hàng
c. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C – Letter of credit)
Đối với phương thức tín dụng chứng từ, Thư tín dụng (L/C) là một cam
kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được
một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C.
Quy trình phương thức này được tiến hành theo trình tự như sau:
Sơ đồ 4: Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
Trong đó:
Bước 1: Người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng phục
tra kĩ bộ chứng từ.
Bước 9: Ngân hàng nhập khẩu thông báo việc trả tiền đối với L/C cho
người nhập khẩu, đồng thời chuyển bộ chứng từ làm căn cứ nhận hàng cho
người nhập khẩu.
Quy trình trên cho ta thấy phương thức L/C là phương thức hoàn thiện
hơn cả và được sử dụng rộng rãi nhất trong TTQT, chiếm khoảng 70% giá trị
thanh toán. Lí do là nó đảm bảo quyền lợi một cách tương đối cho cả người
mua và người bán. Đối với nhà xuất khẩu, được đảm bảo thanh toán khi tuân
thủ các điều khoản và điều kiện của L/C và nhận được thanh toán nhanh nhất,
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được ngân hàng giúp đỡ và tư vấn nên giảm thiểu các rủi ro và tổn thất. Ngoài
ra người bán có thể sử dụng L/C như là một phương thức tài trợ cho xuất khẩu
như: chiết khấu bộ chứng từ, bán bộ chứng từ cho ngân hàng… Tuy nhiên,
khi áp dụng hình thức này thì còn có một số hạn chế như chi phí cao, đôi khi
còn không đáp ứng được những quy định của L/C nên việc thanh toán có thể
bị trì hoãn, thậm chí bị từ chối thanh toán.
1.2.3. Chứng từ trong thanh toán quốc tế
Những chứng từ sử dụng trong thương mại và thanh toán quốc tế bao
gồm nhiều loại, mỗi loại có nội dung và hình thức khác nhau. Tùy theo đặc
điểm, nội dung và mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng thương mại và
tùy theo phương thức thanh toán, mà bộ chứng từ được lập với nội dung, số
lượng, số loại và tính chất khác nhau. Các chứng từ được sử dụng trong
TMQT đều là những văn bản chứa đựng các thông tin về hàng hóa, vận tải,
bảo hiểm, phương tiện thanh toán… để minh chứng các hàng hóa khi vận
chuyển, các mâu thuẫn, tranh chấp có thể phát sinh nhằm đảm bảo giá trị pháp
lí và làm cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề liên quan tới mối quan hệ
TMQT, cũng như TTQT. Căn cứ vào chức năng ta có thể phân loại chứng từ
thành hai nhóm chính là chứng từ tài chính và chứng từ thương mại. Trong
quốc gia trên thế giới bởi đây là chứng từ được sử dụng thuận tiện và được
phổ biến. Có 2 nguồn luật điều chỉnh Séc là Luật thống nhất về Séc năm 1931
và Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1982.
- Luật thống nhất về Séc ULC 1931 được kí kết tại hội nghị quốc tế
GENEVE năm 1931 do các nước Đức, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Sĩ kí
kết nhằm thống nhất các mối quan hệ liên quan tới việc phát hành và sử dụng
Séc. Hiện nay, hầu hết các quốc gia sử dụng Séc đều áp dụng ULC1931.
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Công ước Liên Hợp Quốc về Séc quốc tế do Uỷ ban Luật Thương
Mại quốc tế của Liên Hợp Quốc ban hành năm 1982, hiện tại công ước này
chưa được áp dụng phổ biến trong hoạt động TMQT.
c. Quy tắc thống nhất về nhờ thu quốc tế (Uniform Rules for Collection
– URC).
URC do phòng Thương mại quốc tế ICC soạn thảo và ban hành.
Bản quy tắc này ra đời và có hiệu lực kể từ ngày 01.01.1979 với tên
gọi: Uniform Rules for Collection 1979 Rivision – ICC publication No 322
(gọi tắt là URC 322). Sau một thời gian áp dụng một số nội dung của URC
322 không còn phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động thương
mại và thực tiễn các hoạt động TTQT. Vì vậy, trên cơ sở những đóng góp và
nhận định của các chuyên gia từ các phòng thương mại và các ngân hàng
thương mại của các quốc gia trên thế giới, ICC đã tiến hành nghiên cứu, cập
nhật và chỉnh sửa URC 322 cho phù hợp với thực tiễn ICC đã ban hành một
văn bản về quy tắc thống nhất về nhờ thu, ấn phẩm số 522 có hiệu lực từ ngày
01.01.1996 thay thế cho ấn phẩm số 322 (Uniform Rules for Collection, 1995
Revision – ICC Publication No.522 in force on Jan 1
St
,1996)
Bản URC 522 đã thể hiện những nét mới về nghiệp vụ nhờ thu, quy
e.UCP chưa được sử dụng rộng rãi, nó mới chỉ được một số ngân hàng Châu
Âu áp dụng trên cơ sở rất thận trọng.
Ngoài các nguồn luật và quy tắc trên hoạt động TTQT cũng chịu sự
điều chỉnh của một số nguồn luật, quy tắc và thông lệ khác:
Quy tắc hoàn trả liên ngân hàng (Uniform for Reinu bursement), Tập
quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ theo phương
thức tín dụng chứng từ - ISBP (International standard banking pratise for
ẽamination of the documents under documents credit), quy tắc thực hành tín
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng thư dự phòng (The international standby practice – ISP1998), các điều
kiện thương mại quốc tế (Incoterms)…
e. Vận dụng các luật và thông lệ quốc tế đối với hoạt động TTQT tại
Việt Nam: Bộ Luật dân sự; Luật thương mai; Luật ngoại hối; Luật các công cụ
chuyển nhượng; Luật thanh toán quốc tế …
Hiện nay, ở nước ngoài Luật thương phiếu ra đời chưa hề có một văn
bản luật hay dưới luật nào khác điều chỉnh các hoạt động liên quan đến vấn đề
TTQT. Quốc hội mới chỉ đang xem xét ban hành Luật Hối phiếu, các vấn đề
khác liên quan như phương thức thanh toán, giải quyết các vấn đề tranh chấp
phát sinh… vẫn còn đang bị bỏ ngỏ. Đây thật sự là một thách thức rất lớn đối
với cả các doanh nghiệp và ngân hàng nước ta khi tham gia vào thị trường
buôn bán quốc tế nhất là trong tình hình toàn cầu hóa như hiện nay.
Về các văn bản pháp lí trong TTQT, chủ yếu là chúng ta đang làm theo một
số các văn bản luật và thông lệ quốc tế về TTQT là: Luật thống nhất về hối phiếu
ULB 1930, Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ UCP 500, Luật
thống nhất về Séc ULC, Các điều kiện TMQT INCOTERMS 2000…
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thanh toán quốc tế tại
doanh nghiệp XNK
Rủi ro luôn xảy ra với mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các
doanh nghiệp đặc biệt là trong TTQT như: chính sách ngoại hối, chính sách
thuế, chính sách quản lí hàng hoá xuất nhập khẩu.
Về chính sách ngoại thương có ý nghĩa cựa kì quan trọng đối với hoạt
động TTQT. Nó bao gồm các nguyên tắc, các công cụ và các biện pháp mà
nhà nước sử dụng để quản lí và điều hành hoạt động TMQT. Chính sách
ngoại thương của một quốc gia nếu thiên về xu hướng bảo hộ mậu dịch nhằm
bảo vệ thị trường trong nước trước sự xâm nhập ồ ạt hàng hoá của nước ngoài
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sẽ kìm hãm hoạt động TMQT phát triển, các doanh nghiệp trong nước sẽ thụ
động, không có khả năng cạnh tranh cao. Ngược lại, nếu thiên về xu hướng tự
do hoá mậu dịch có sụ quản lí của nhà nước sẽ tạo điều kiện mở rộng, giao
lưu buôn bán giữa các nước. Tuy nhiên, các xu hướng này đều có tác dụng
trong từng thời kì nhất định. Một sự kết hợp khéo léo và hợp lí giữa 2 xu
hướng này trong từng giai đoạn cụ thể sẽ tạo điều kiện cho hoạt động ngoại
thương của nước này phát triển, góp phần thúc đẩy việc hoàn thiện hoạt động
TTQT.
Về chính sách thuế: Các chính sách thuế của nhà nước có ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động kinh doanh cuả doanh nghiệp, đặc biệt là xuất khẩu. Thông
qua việc áp dụng nước thuế cao hay thấp đối với mặt hàng xuất khẩu nào đó
sẽ hạn chế hoặc khuyến khích xuất khẩu, tạo môi trường kinh doanh xuất
khẩu tốt hơn, đây là cơ hội để cho hoạt động TTQT phát triển hơn.
- Hệ thống ngân hàng:
Như đã phân tích ở trên, đặc điểm nổi bật của hoạt động TTQT đó là
nhất thiết phải có sự tham gia của các ngân hàng thương mại ở các nước liên
quan trong quá trình thanh toán. Hoạt động thanh toán có được tiến hành
nhanh và thuận lợi hay không phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng và các
ngân hàng đại lí. Việc doanh nghiệp có nhận được tiền hàng xuất khẩu nhanh
Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố khách hàng là yếu tố sống còn của
doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp thu hút một lượng lớn khách hàng thường
xuyên có hoạt động kinh doanh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện tốt để hoàn thiện
hoạt động TTQT. Tuy nhiên, hoạt động TTQT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi
tác động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia. Mỗi sự
biến động chế độ chính trị của nước bạn hàng sẽ ảnh hưởng đến khả năng và
sự sẵn sàng đáp ứng các cam kết đã thoả thuận giữa các bên. Cho nên doanh
nghiệp cần phải tìm hiểu kĩ về bạn hàng, điều này nó ảnh hưởng hàng ngày
tới uy tín cuả họ. Hợp đồng kinh tế được thực hiện dựa trên cơ sở các điều
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khoản, điều kiện, do đó một sự cẩn thận, chặt chẽ trong hợp đồng ngoại
thương sẽ góp phần vào việc tăng doanh thu của doanh nghiệp. Đối với bạn
hàng có mối quan hệ lâu dài, nếu thực hiện hợp đồng một cách máy móc thì
có thể sẽ gây ảnh hưởng tới mối quan hệ. Tuy nhiên, rủi ro trong thanh toán
cúng sẽ rất cao nếu doanh nghiệp không chọn đúng đối tác. Chính vì vậy,
doanh nghiệp cần phải cân nhắc, tìm hiểu bạn hàng của mình để có một sự lựa
chọn để giải quyết một cách hợp lí nhất.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
Đối với nhân tố chủ quan thì doanh nghiệp có thể kiểm soát được và có
thể điều chỉnh. Điều đó được thể hiện qua các nhân tố chủ yếu đối với doanh
nghiệp XNK như sau:
Quy mô và uy tín của doanh nghiệp: Quy mô của doanh nghiệp ảnh
hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp. Đối với hoạt động TTQT thì ý
chí của doanh nghiệp là một nhân tố rất quan trọng. Với một doanh nghiệp có
uy tín thì quan hệ với khách hàng hay ngân hàng đều thuận lợi và hoạt động
TTQT sẽ không gặp nhiều khó kahưn. Thông thường thì ngân hàng dễ dàng
chấp nhận chiết khấu hối phiếu cho công ty có uy tín, đang kinh doanh ổn
định và có lãi chứ không bao giờ chấp nhận thanh toán cho một công ty
Quan hệ của Công ty với ngân hàng: Đây là nhân tố chính và ảnh
hưởng trực tiếp tới hoạt động TTQT của doanh nghiệp. Nếu quan hệ tốt với
ngân hàng, nhà xuất khẩu có thể nhận được tiền hàng nhanh hơn trên cơ sở đề
nghị ngân hàng chiết khẩu hối phiếu thậm chí ngân hàng sẵn sàng ứng trước
tiền để người xuất khẩu tiến hành thu mua, gom hàng xuất khẩu với một mức
lãi suất ưu đãi… Điều này cũng sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi
phí và rút ngắn thời gian thanh toán. Ngược lại, nếu quan hệ không tốt với
ngân hàng thì sẽ phải trải qua nhiều thủ tục rườm rà, kéo dài thời hạn thanh
toán, làm tăng chi phí thanh toán.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động thanh
toán tiền hàng xuất khẩu như nền tảng công nghệ thông tin, giá trị truyền
thống và các nghiệp vụ hỗ trợ khác
Võ Thị Nhung Lớp: Thương mại 46A
25