Hoàn thiện hoạt động nhập khẩu máy phát điện Elemax- Nhật của công ty TNHH Thiên Hoà An - Pdf 11

Lời mở đầu
Sau những năm tháng chuẩn bị và chờ đợi, ngày 7 tháng 11 năm 2006
Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Đây là sự
kiện quan trọng, có tính thời sự cả trong nước và quốc tế. Vào WTO chúng ta
đồng thời đón nhận thời cơ và thách thức. Thời cơ thì ít mà thách thức thì
nhiều nhưng WTO thực sự là sân chơi bình đẳng cho những ai muốn tham gia
và có khả năng tham gia. Là sinh viên của trường Kinh tế quốc dân, khoa
Thương mại, chuyên ngành Thương mại quốc tế, em cũng có nhiều băn khoăn
trước sự kiện Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại thế giới. Liệu rằng việc ra
nhập có làm cho tính chất thương mại quốc tế trở lên phức tạp hay không?
Câu trả lời vẫn còn là một bài toán khó. Nhưng chính điều đó lại là động lực
thôi thúc em muốn tìm hiểu về hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh Việt
Nam là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới. Xuất phát từ lý
do đó, em đã chọn công ty TNHH Thiên Hoà An làm nơi thực tập. Công ty
Thiên Hoà An là công ty có hoạt động thương mại quốc tế điển hình với
nghiệp vụ kinh doanh nhập khẩu là chủ yếu. Công ty nhập khẩu nhiều loại sản
phẩm khác nhau nhưng em lựa chọn sản phẩm máy phát điện Elemax- Nhật.
Bởi lẽ đây cũng chính là sản phẩm nhập khẩu chủ đạo của công ty TNHH
Thiên Hoà An. Mặt khác, hoạt động nhập khẩu máy phát điện là hoạt động
thiết thực đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong tình hình nước ta hiện nay
có rất ít các nhà máy sản xuất máy phát điện, tình trạng mất điện vẫn đang
tiếp diễn. Hoạt động nhập khẩu máy phát điện cũng góp phần không nhỏ vào
công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Với tất cả lí do trên, thêm vào đó là sự yêu thích của bản thân muốn
hiểu biết thêm về hoạt động nhập khẩu máy phát điện nên em đã quyết định
chọn đề tài thực tập là “Hoàn thiện hoạt động nhập khẩu máy phát điện
Elemax- Nhật của công ty TNHH Thiên Hoà An”.
1
Đối tượng mà đề tài nghiên cứu là hoạt động nhập khẩu máy phát điện
Elemax- Nhật.

Nguồn : Theo báo Sài Gòn Giải Phóng
Những con số trên đã cho thấy Việt Nam ngày càng thiếu điện trầm trọng.
Vậy thì ngoài giải pháp lâu dài là người dân phải có ý thức tiết kiệm điện, sử
dụng điện hợp lí và tránh lãng phí thì việc sử dụng máy phát điện có thể được
coi là giải pháp trước mắt có hiệu quả.
1.1.2. Nhu cầu sử dụng điện
Trước hết phải khẳng định rằng điện không phải là nguồn tài nguyên vô
tận. Trong khi đó nhu cầu của con người lại là vô cùng. Con người có rất
nhiều nhu cầu và ngày càng đa dạng, phức tạp. Trước kia, thời xa xưa không
có điện chúng ta vẫn sống và hoạt động bình thường. Nhưng giờ mất điện chỉ
vài tiếng đồng hồ trở thành vấn đề lớn, ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động của
tất cả các ngành nghề. Đơn giản vì ngày nay việc thực hiện sản xuất và giao
dịch chủ yếu thông qua máy móc, công nghệ tiên tiên hiện đại. Do đó có thể
nói nhu cầu sử dụng điện gần như trở thành nhu cầu thiết yếu của con người.
3
Nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng cao trong tiêu dùng gia đình và
sản xuất trong khi khả năng cung cấp điện ngày càng hạn chế. Thêm vào đó là
tốc độ đầu tư cho các công trình nguồn điện còn rất chậm.
Quan trọng hơn cả là chúng ta đang sống ở thời đại của công nghệ
thông tin, thời đại khoa học kĩ thuật, không có điện liệu chúng ta có thể sản
xuất sản phẩm hữu hình và vô hình để phát triển đất nước hay không?
1.2. Hình thức nhập khẩu
Có năm hình thức nhập khẩu chủ yếu, phổ biến hiện nay là nhập khẩu
uỷ thác, nhập khẩu trực tiếp, nhập khẩu liên doanh, nhập khẩu hàng đổi hàng
và nhập khẩu tái xuất
1.2.1. Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là hình thức nhập khẩu mà doanh nghiệp nhập khẩu
có khả năng tài chính nhưng không trực tiếp mua hàng ở nước ngoài mà phải
thuê một doanh nghiệp khác, uỷ thác cho doanh nghiệp này mua trực tiếp
hàng hoá thông qua hợp đồng uỷ thác.

1.2.5. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất hiểu đơn giản là hình thức nhập khẩu hàng hoá vào
trong nước của doanh nghiệp nhập khẩu để xuất sang nước thứ ba, thu lợi
nhuận.
Trong hình thức này phải đảm bảo điều kiện là hàng hoá tái xuất là
không được qua chế biến ở nước tái xuất.
1.3. Đặc điểm hoạt động nhập khẩu máy phát điện
Máy phát điện là thiết bị biến cơ năng thành điện năng. Nó là sản phẩm
vật chất, hữu hình, thuộc mặt hàng kĩ thuật. Nó có 3 chức năng cơ bản là hiệu
chỉnh hiệu điện áp, chỉnh lưu và phát điện. Máy phát điện giữ vai trò chủ đạo
trong các thiết bị cung cấp điện.
Đây là mặt hàng kỹ thuật nên đòi hỏi sự am hiểu, có trình độ chuyên
môn kỹ thuật, biết cách vận hành, sử dụng và bảo quản máy phát điện.Máy
5
phát điện có nhiều dòng sản phẩm, khác nhau về mẫu mã, công suất, điện
năng, động cơ, nhiên liệu và trọng lượng. Đây là đặc điểm tạo nên tính phức
tạp cho mặt hàng này nên các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động nhập
khẩu hết sức lưu ý.
Khi tiến hành hoạt động nhập khẩu tất nhiên các doanh nghiệp Việt
Nam phải làm việc với đối tác nước ngoài và thị trường nước ngoài.Điều này
làm cho công việc kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó
khăn và rủi ro hơn.Nguyên nhân chính ở đây là do có sự khác biệt về ngôn
ngữ, phong tục, tập quán, luật pháp giữa các quốc gia trên thế giới.Đặc điểm
này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện hoạt động nhập khẩu ở
thị trường nước ngoài cụ thể nào đó cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi
đưa ra quyết định.
Một đặc điểm nữa mà các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần chú ý khi
tiến hành hoạt động nhập khẩu máy phát điện, đó là hệ thống thông tin về sản
phẩm, doanh nghiệp nước ngoài, thị trường nước ngoài .Chính khoảng cách
về địa lý đã làm cho thông tin trở nên khó tin cậy.Còn nếu muốn có thông tin

và chấp nhận giá bán.
Yếu tố tác động mạnh nhất đến cung máy phát điện là giá cả máy phát
điện, đối thủ cạnh tranh và thị trường tiêu thụ máy phát điện.Cung về máy
phát điện tăng lên khi giá tăng, thị trường tiêu thụ rộng lớn.
1.4.1.2. Nghiên cứu thị trường nước ngoài
Khi tiến hành hoạt động nhập khẩu, làm việc với đối tác nước ngoài mà
chỉ dừng lại ở nghiên cứu thị trường trong nước thì cho dù nghiên cứu trong
nước có tốt bao nhiêu cũng không tránh được những thất bại.
Khi tiến hành nghiên cứu thị trường nước ngoài ngoài vấn đề nghiên
cứu văn hoá và pháp luật nước đó các doanh nghiệp thường tập trung nghiên
cứu nhà cung cấp máy phát điện hiện tại trên thị trường quốc dựa trên các tiêu
chí chất lượng, uy tín và khả năng cung ứng của nhà sản xuất.
7
1.4.2. Lựa chọn nguời bán máy phát điện
Trên cơ sở nghiên cứu thị trường máy phát điện trong nước và quốc tế
doanh nghiệp nhập khẩu xây dựng chiến lược và lập kế hoạch nhập khẩu.
Việc xây dựng chiến lược nhập khẩu này nhằm đạt mục đã tiêu đề ra.
Trước khi đàm phán với đối tác để đi đến kí kết hợp đồng thì doanh
nghiệp phải xác định rõ đối tác và sản phẩm mà đối tác cung cấp. Việc tìm
được một đối tác làm ăn trong bối cảnh hiện nay cũng không phải là khó
nhưng đối tác đó có đáng tin cậy không thì lại là vấn đề khá. Điều này hoàn
toàn phụ thuộc vào chất lượng nghiên cứu thị trường và tầm nhìn chiến lược
của lãnh đạo doanh nghiệp.
1.4.3. Đàm phán với đối tác đi đến kí kết hợp đồng nhập khẩu máy phát
điện
Sau khi đã lựa chọn được đối tác cung cấp máy phát điện thì doanh
nghiệp bắt tay vào đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng nhập khẩu máy phát
điện.
1.4.3.1. Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu
Chủ thể của hợp đồng là pháp nhân có quốc tịch khác nhau. Pháp nhân

người bán và người mua.
Sau đó là các điều khoản của hợp đồng. Trong hợp đồng ngoại thương
hay trong hợp đồng nhập khẩu có 6 điều khoản bắt buộc là điều khoản về tên
hàng, điều khoản về số lượng, điều khoản về chất lượng, điều khoản về giá cả
hàng hoá nhập khẩu, điều khoản về phương thức thanh toán, điều khoản về
địa điểm và thời gian giao hàng. Ngoài các điều khoản bắt buộc còn có thêm
các điều khoản như điều khoản về bảo hiểm, bảo hành, bất khả khảng, phạt và
bồi thường thiệt hại, trọng tài…
Trong điều khoản về tên hàng cần ghi chính xác tên hàng theo một trong
những các thức sau:
• Ghi tên hàng bao gồm cả tên thông thường, tên thương mại và tên khoa
học của hàng nhập khẩu
9
• Ghi tên hàng kèm theo tên nơi sản xuất ra hàng hoá
• Ghi tên hàng kèm theo tên của nhà sản xuất ra hàng hoá
• Ghi tên hàng kèm theo công dụng của hàng hoá
Điều khoản về chất lượng hàng hoá là điều khoản nhằm bổ sung, làm rõ
cho điều khoản tên hàng. Việc lựa chọn phương pháp qui định phẩm chất
hàng hoá giống mẫu cho trước hay dựa vào tiêu chuẩn hàng hoá có sẵn hay
dựa vào nhãn hiệu hay dựa vào tài liệu kỹ thuật… điều này hoàn toàn phụ
thuộc vào tính chất và đặc điểm của hàng hoá nhập khẩu.
Điều khoản về số lượng hàng hoá bao gồm các vấn đề liên quan đến mặt
lượng của hàng hoá như đơn vị tính và phương pháp tính số lượng, trọng
lượng của hàng hoá. Việc qui định càng rõ bao nhiêu càng thuận lợi cho
doanh nghiệp bấy nhiêu.
Trong điều khoản về giao hàng cần qui định rõ thời gian, địa điểm giao
hàng, phương thức giao hàng và thông báo giao hàng.
Trong điều khoản về giá cả hàng hoá cần qui định rõ các vấn đề về đồng
tiền tính giá là đồng tiền của nước nào, mức giá được qui định theo phương
pháp nào, chọn điều kiện thương mại quốc tế nào để tính giá và một số vấn đề

tiền gửi đến ngân hàng, sau khi lệnh chuyển tiền được ngân hàng chấp nhận
thì tiền từ tài khoản của doanh nghiệp nhập khẩu sẽ đươc chuyển sang tài
khoản của người bán.
Trong phương thức thanh toán thư tín dụng (phương thức thanh toán L/
C) doanh nghiệp nhập khẩu viết đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng phát hành
L/C, sau đó thực hiện việc ký quĩ nếu L/C được chấp nhận để mở. Tuy rằng
L/C được lập trên cơ sở hợp đồng nhập khẩu nhưng nó hoàn toàn độc lập với
L/C. Tính chất độc lập của L/C được thể hiện ở ba điểm sau. Thứ nhất là việc
sửa đổi hợp đồng không có nghĩa là sửa đổi L/C và ngược lại. Thứ hai là hợp
đồng hết hạn hiệu lực điều đó không có nghĩa là L/C trở nên vô giá trị. Thứ ba
là việc thực hiện hợp đồng và việc thực hiện L/C độc lập với nhau trong
trường hợp hàng hoá được giao rồi nhưng bộ chứng từ thanh toán xuất trình
11
không phù hợp thì người thụ hưởng cũng không được tiền thanh toán. Nói
chung phương thức thanh toán bằng thư tín dụng an toàn bao nhiêu thì tình rất
phức tạp nhiều lên bấy nhiêu. Do đó các doanh nghiệp khi đã quyết định lựa
chọn phương thức thanh toán này cần phải hiểu rõ bản chất của nó. Nói như
vậy bởi vì nhiều doanh nghiệp hiện nay thực hiện việc thanh toán theo
phương thức này như một thói quen, phụ thuộc rất lớn và các ngân hàng trong
khi trình độ và nghiệp vụ của ngân hàng trong phương thức này cũng chưa thể
nói là chuyên nghiêp. Nên khi phát sinh những vấn đề bất lợi cho doanh
nghiệp mình doanh nghiệp mới giật mình cầu cứu. Làm việc với đối tác nước
ngoài không dễ như chúng ta tuởng. Họ có kinh nghiệm và nắm luật rất chắc
các doanh nghiệp không tỉnh táo và hiểu biết thì luôn ở thế bị động và gặp
nhiều rủi ro. Có những trường hợp người bán không giao hàng nhưng vẫn
nhận được tiền thanh toán vì lý do họ hiểu rõ phương thức thanh toán bằng
thư tín dụng chỉ dựa trên chứng từ mà không liên quan đến hàng hoá nên họ
tìm cách làm chứng từ giả mạo. Trong thời đại hiện nay việc làm giả mạo
giấy tờ, chứng từ rất tinh vi. Do đó doanh nghiệp cần trang bị cho mình những
kiến thức và kinh nghiệm để phản ứng linh hoạt với sự biến động của thị

hàng mà mình đặt mua của nước ngoài. Muốn nhận được hàng thì doanh
nghiệp nhập khẩu phải xuất trình được bộ chứng từ nhận hàng. Sau khi được
nhận hàng thì trước đó doanh nghiệp nhập khẩu đã phải có sự chuẩn bị hệ
thống kho bãi để đón nhận hàng về. Công việc chuẩn bị kho bãi tưởng chừng
như đơn giản nhưng đã có rất nhiều trường hợp hàng về mà không có chỗ để
do sự bố trí sắp xếp không hợp lý trong khâu tổ chức nhận hàng từ nước ngoài
và xuất hàng vào thị trường nội địa.
13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU MÁY PHÁT
ĐIỆN ELEMAX- NHẬT CỦA CÔNG TY TNHH THIÊN HOÀ AN
2.1. Khái quát về công ty TNHH Thiên Hoà An
2.1.1. Sự ra đời và phát triển của công ty TNHH Thiên Hoà An
Sự ra đời và phát triển của công ty Thiên Hoà An
Công ty Thiên Hoà An được thành lập năm 1996 tại Việt Nam theo
hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam, giấy phép số 005065 do Ủy Ban
Nhân Dân Thành Phố Hà Nội cấp ngày 4 tháng 10 năm 1996 và giấy phép
kinh doanh xuất nhập khẩu số 048961 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Hà nội cấp
ngày 12 tháng 10 năm 1996.
Tuy mới thành lập được 12 năm nhưng công ty liên tục phát triển, không
ngừng lớn mạnh và nhanh chóng khẳng định được vị thế của mình trên thị
trường trong và ngoài nước.
Chức năng và nhiệm vụ của Công ty Thiên Hoà An
Cũng như tất cả các công ty khác công ty TNHH Thiên Hoà An trước
khi ra đời cũng đã định sẵn tôn chỉ và mục đích của mình. Việc xác định như
vậy đánh dấu sự tồn tại có mặt của công ty đồng thời cũng cho thấy sự khác
biệt rõ ràng giữa công ty TNHH Thiên Hoà An với các công ty khác.
Thiên Hoà An là công ty TNHH được các nhà sản xuất máy phát điện, máy
công trình, máy xây dựng, máy công cụ và các thiết bị khác tại một số thị
trường lớn trên thế giới như Nhật, Italia, Đức, Nga, Nam Triều Tiên, Trung
Quốc, Đài Loan uỷ quyền là nhà phân phối chính thức sản phẩm của họ tại

2
Tổng nợ phải
trả
37.594.947 28.031.658 36.737.151
3 Vốn lưu động 45.067.674 41.511.107 59.674.390
4
Doanh thu
thuần
125.772.509 155.581.899 169.974.399
15
5
Lợi nhuận
trước thuế
256.037 303.845 363.499
6
Lợi nhuận sau
thuế
184.373 218.768 261.719
Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty TNHH Thiên Hoà An
Bảng báo cáo tài chính phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình sử
dụng vốn trong những thời kì nhất định và tình hình tài sản của công ty tại
những thời điểm nhất định. Trên cơ sở đó, công ty nhận biết được thực trạng
tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty để từ đó đưa ra các quyết
định quan trọng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Lợi nhuận sau thuế được tính bằng lợi nhuận trước thuế trừ đi thuế thu nhập
doanh nghiệp. Trong đó thuế suất thu nhập doanh nghiệp được tính là 28%.
Bảng số liệu trên cho thấy lợi nhuận sau thuế luôn dương và tăng qua các
năm.
Năm 2005 tăng 18,9% so với năm 2004, năm 2006 tăng 19,6% năm 2005.

thấy năm 2006 sử dụng tài sản để sinh lợi nhuận là chưa hiệu quả. Nguyên
nhân chính ở đây là do doanh nghiệp tăng các khoản phải thu khách hàng tăng
nhanh hơn các khoản phải trả khách hàng. Do đó biện pháp ở đây là cần quan
tâm nghiên cứu cách thức bán hàng chiết khấu, giảm giá để thu tiền ngay làm
cho khoản phải thu khách hàng giảm tương đối.
Mặc dù vốn chủ sở hữu và hệ số sinh lời trên tài sản của năm 2004 là nhỏ
nhất nhưng hệ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu của năm 2004 lại là lớn nhất.
Điều này cho thấy việc sử dụng vốn chủ sở hữu của năm của năm 2005 và
năm 2004 chưa hiệu quả bằng năm 2004. Nguyên nhân là do lợi nhuận sau
thuế tăng chậm hơn so với mức tăng về vốn chủ hữu. Do đó giải pháp ở đây là
giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lí để lợi nhuận sau thuế tăng nhanh hơn
mức tăng của vốn chủ sở hữu. Doanh nghiệp ở trong tình trạng muốn mở rộng
mạng luới phân phối sản phẩm đến các tỉnh lẻ thì vấn đề cắt giảm các chi phí
17
thuê cửa hàng và chi phí thuê kho bãi, chi phí bán hàng và chi phí quản lí trở
thành vấn đề không phải dễ dàng.
Như vậy qua phân tích ở trên một lần nữa lại khẳng định rằng khi phân tích
tình hình tài chính của doanh nghiệp không dừng lại ở phân tích lợi nhuận sau
thuế mà còn phân tích thêm các chỉ tiêu tài chính khác nữa để làm rõ nguyên
nhân tăng giảm của lợi nhuận sau thuế và có các giải pháp để khắc phục.
Tình hình doanh thu trong 4 năm gần đây
Bảng 4:Doanh thu của cônh ty năm 2004 -2007
Năm Doanh thu thuấn hàng
năm VND
Quy đổi ra USD
2004 125.772.509.000 8.189.534
2005 155.581.899.000 9.941.911
2006 169.974.399.000 10.590.305
2007 220.966.719.000 13.810.419
Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty TNHH Thiên Hoà An

năng cung ứng phát triển sản phẩm nên hãng máy phát điện Elemax- Nhật đã
chọn công ty Thiên Hoà An là nhà phân phối chính thức và duy nhất sản
phẩm của hãng tại Việt Nam. Sự kết hợp giữa bên cung cấp với chất lượng tốt
nhất và nhà phân phối có uy tín và dịch vụ hậu mãi tốt nhất đã đem lại sự hài
lòng cho khách hàng Việt Nam.
Do có những phẩm chất ưu việt về độ bền, độ tin cậy, hiệu suất làm
việc cao, vận hành thiết bị dễ dàng đặc biệt là hiệu quả kinh tế cao, nên máy
phát điện Elemax- Nhật được người tiêu dùng Việt Nam tín nhiệm sử dụng.
Với đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên chuyên nghiệp được tập huấn bởi
chính hãng và được sự hỗ trợ về kỹ thuật, trang thiết bị tiên tiến của nhà chế
tạo, đảm bảo thực hiện dịch vụ hậu mãi một cách tốt nhất cho khách hàng.
Kinh nghiệm trong sản xuất được thể hiện:
Năm 1998 đã bắt tay vào sản xuất các sản phẩm cơ khí
Năm 1999 lắp ráp các linh kiện điện tử
19
Kinh nghiệm trong kinh doanh được thể hiện:
Kinh doanh máy phát điện từ năm 1996 đến nay
Máy nén khí điện, Diesel từ năm 1996 đến nay
Máy xây dựng, bơm nước từ năm 1996 đến nay
Máy khai thác đá từ năm 1996 đến nay
Kinh doanh xe máy công trình từ năm 2000 đến nay
Trong 2 năm gần đây sản xuất được máy trộn, vận than, giàn giáo
Doanh thu được từ hoạt động kinh doanh máy phát điện và các máy xây dựng
là 155.581.899.000 VND,năm 2005và 169.974.399.000 VND, năm 2006.
Tổng số lao động hiện có 39 cán bộ và nhân viên trong lĩnh vực sản xuất và
126 cán bộ trong lĩnh vực kinh doanh.
Công nghệ
Thiên Hoà An là nhà phân phối sản phẩm của nhà sản xuất máy phát điện,
máy công trình, máy xây dựng, máy công cụ và các thiết bị khác của Nhật,
Italia, Đức, Nga, Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan.Do đó công nghệ

Giám đốc kinh doanh thì quản lí và điều hành hoạt động của cửa hàng
bán lẻ, phòng xuất nhập khẩu, các trung tâm tư vấn bảo hiểm, các kho lưu trữ
hàng hóa, các chi nhánh của Hưng Yên
Giám đốc phát triền đại lí và phát triền chi nhánh điều hành và quản lí
cửa hàng 409, các đại lí phía Bắc, chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, chi
nhánh Vinh, chi nhánh Đà Nẵng.
Giám đốc kĩ thuật điều hành và quản lí phòng kỹ thuật, xưởng sản xuất cơ
khí, ban kiểm tra kỹ thuật
Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty Thiên Hoà AN
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức của công ty TNHH Thiên Hoà An
21
Nguồn : Phòng hành chính,nhân sự
2.1.3. Hệ thống chi nhánh, cửa hàng của công ty TNHH Thiên Hoà An
HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN
TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG
GIÁM Đ ỐC
GIÁM ĐỐC
ĐIỀU HÀNH
TRỢ LÍ GIÁM
ĐỐC
BAN KIỂM
SOÁT
GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
GIÁM ĐỐC PHÁT TRIỂN ĐẠI LÝ
VÀ CHI NHÁNH
GIÁM ĐỐC
TÀI CHÍNH
TRUNG TÂM TƯ VẤN
PHÒNG KINH DOANH

Ở Miền Trung có chi nhánh ở Đà Nẵng và Vinh
 Chi nhánh Đà Nẵng (243 Trường Chinh)
 Chi nhánh Vinh (số 05,Mai Hắc Đế, Thành phố Vinh)
23
2.1.4. Ngành kinh doanh của công ty TNHH Thiên Hoà An
Những ngành nghề kinh doanh chính của công ty TNHH Thiên Hoà An :
 Buôn bán
 Tư vấn
 Thiết kế lắp đặt
 Chuyển giao công nghệ
 Bảo dưỡng và sửa chữa máy thiêt bị
 Hoạt động sản xuất
 Thương mại xuất nhập khẩu
Các sản phẩm kinh doanh của công ty TNHH Thiên Hoà An:
 Máy phát điện
Được kinh doanh ngay từ khi thành lập năm 1996 và đây cũng là mặt hàng
bán chạy nhất của công ty.Thiên Hòa An là nhà phân phối chính thức máy
phát điện có công suất 1KVA- 2060KVA của các hãng nổi tiếng trên thế giới
như Elemax-Nhật Bản, Denyo-Nhật Bản, OnisVisa-Italia, Máy phát hàn
Elemax- Denyo.
 Máy nén khí ,máy sấy khí
Thiên Hòa An là nhà phân phối chính thức máy nén khí có lưu lượng
0,2m3/phút- 30m3/phút của các hãng nổi tiếng như Abac-Italia, Denyo-Nhật
Bản, Puma-Đài Loan, Khai sơn-Trung Quốc .
 Máy xây dựng
Công ty nhận cung cấp rất nhiều loại máy xây dựng đáp ứng nhu cầu của
khách hàng như:trạm trộn bê tông, máy trộn bê tông, máy đầm đất đầm bê
tông, máy cắt bê tông, giàn giáo,cột chống, cốt pha, máy cắt uốn thép,máy
xoa bê tông máy mài sàn bê tông, búa phá bê tông, khoan lấy mẫu bê tông và
các thiết bị hỗ trợ khác…của các hãng nổi tiếng như Unggiang, Jinlong,

2.3. Thực trạng hoạt động nhập khẩu máy phát điện Elemax - Nhật của
công ty TNHH Thiên Hoà An
25

Trích đoạn Đối thủ cạnh tranh máy phát điện Elemax-Nhật của công ty TNHH Thiên Hoà An trong thị trường Việt Nam Bước đầu làm thủ tục thanh toán Mua bảo hiểm cho lô hàng nhập khẩu Kết quả đạt đuợc Những tồn tại cần khắc phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status