Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển chung của đất nớc trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 đa nớc ta trở thành một
nớc công nghiệp. Trớc mắt phấn đấu đến năm 2010 tỷ trọng trong GDP của
dịch vụ là 42- 43%, công nghiệp - xây dựng là 40 - 41% và nông nghiệp là
16-17% [7]. Nh vậy ngành kinh tế dịch vụ đợc coi là một trong những
ngành kinh tế có vị trí quan trọng và có tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nền
kinh tế nớc ta đến thời điểm đó.
Nếu so sánh với một số địa phơng nh: Hải Phòng, Nghệ An, Khánh
Hòa v.v thì Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng
và lợi thế để phát triển các ngành dịch vụ nh: Dịch vụ dầu khí, dịch vụ vận
tải, dịch vụ thủy sản, dịch vụ du lịch, dịch vụ nông nghiệp, dịch vụ bu chính
viễn thông v.v
Năm 2000 GDP tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đạt 41.359 tỷ đồng, tính
theo bình quân đầu ngời là: 40.620.000 đồng/ngời/năm, cao nhất trong cả
nớc. Trong cơ cấu kinh tế nếu tính cả dầu khí thì: công nghiệp - xây dựng
chiếm 81,5%, nông nghiệp chiếm: 4,06%, và dịch vụ chiếm 14,36%; nếu
không kể dầu khí thì: công nghiệp - xây dựng: 47,26%, dịch vụ 41,17%,
nông nghiệp 11,62% và là một trong 10 tỉnh đóng góp nguồn ngân sách lớn
nhất cho nhà nớc 20,01%, đứng thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh
(33,05%) [2]. Đây là những thành tựu quan trọng để Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp
tục phát triển.
Tuy nhiên, với những kết quả đạt đựơc nêu trên, trong toàn bộ nền
kinh tế thì các hoạt động kinh doanh dịch vụ vẫn cha tơng xứng với những
tiềm năng, lợi thế mà ngành dịch vụ có thể khai thác, quá trình đầu t để
khai thác còn nhiều hạn chế trong các lĩnh vực nh chính sách quản lý, mô
1
hình phát triển, nguồn nhân lực, vốn, kỹ thuật v.v Một số lĩnh vực dịch vụ
mới chỉ khai thác đợc một phần rất nhỏ nh: Dịch vụ dầu khí, dịch vụ vận tải,
du lịch, nông nghiệp Vì vậy, để phù hợp với mục tiêu kinh tế chung của
Phân tích thực trạng kinh tế dịch vụ của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
trong những năm qua để thấy đợc những thành tựu, những hạn chế, trên cơ
sở đó đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế dịch vụ tại tỉnh
trong những năm đầu thế kỷ XXI.
Giới hạn của luận văn:
Với một tỉnh có nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh với hàng
trăm các hoạt động kinh doanh dịch vụ phục vụ cho các nhu cầu sản xuất,
trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả không thể nghiên cứu
toàn bộ các ngành kinh tế dịch vụ mà chỉ đi sâu nghiên cứu một số ngành
dịch vụ chủ yếu trên địa bàn của tỉnh nh: Dịch vụ dầu khí, dịch vụ thủy sản,
dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải, dịch vụ nông nghiệp để làm rõ vai trò, thực
trạng của kinh tế dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Về thời gian, luận văn chỉ nghiên cứu kinh tế dịch vụ của địa phơng trong
khoảng 10 năm từ 1991 - 2000.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Tác giả dựa vào cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng
Hồ Chí Minh, dựa vào chủ trơng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và
Nhà nớc, của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tham khảo
có chọn lọc các công trình nghiên cứu, các bài viết của nhiều tác giả có liên
quan đến đề tài.
Phơng pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phơng pháp nghiên cứu
của môn kinh tế chính trị, phơng pháp khảo sát thực tế, phân tích, so sánh,
3
tổng hợp các kết quả nghiên cứu, từ đó đánh giá và giải quyết những vấn đề
thuộc nội dung nghiên cứu của luận văn.
5. ý nghĩa của luân văn
Tuy nghiên cứu trong một phạm vi một địa bàn cấp tỉnh, song luận
văn là một công trình nghiên cứu thực tế về phát triển kinh tế dịch vụ ở Bà
Rịa - Vũng Tàu; luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các
ngành, các cơ quan trong việc hoạch định các mục tiêu và phơng hớng cũng
1.1. KHáI NIệM DịCH Vụ Và KINH Tế DịCH Vụ
1.1.1. Khái niệm
a) Dịch vụ
Thuật ngữ "Dịch vụ" (Service) lúc đầu ngời ta dùng để chỉ các hoạt
động cung ứng về mặt hậu cần cho quân đội, sau đó dần dần đợc sử dụng
5
nhiều hơn trong kinh tế và trở thành tên gọi lĩnh vực kinh tế gồm một số
ngành. Do những quan niệm khác nhau nên việc nhận dạng các hoạt động
dịch vụ trong thực tiễn cũng khác nhau; cho đến những năm gần đây dịch
vụ đợc hiểu theo một nghĩa rộng hơn, đợc coi là một lĩnh vực sản xuất mới,
có tính tổng hợp cao. Đặc điểm chủ yếu của dịch vụ là gắn liền sản xuất với
các ngành sản xuất và tiêu dùng. Dịch vụ dựa vào sản xuất, nhng chính nó
lại phục vụ đắc lực cho sản xuất phát triển. Một nớc có trình độ phát triển
càng cao thì ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng càng lớn.
C.Mác cho rằng, dịch vụ là con đẻ của sản xuất hàng hóa khi kinh tế
hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi phải có sự lu thông trôi chảy, thông suốt,
liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngời, lúc đó ngành
dịch vụ sẽ phát triển. Nh vậy, bằng cách tiếp cận dới góc độ kinh tế, C.Mác
đã làm rõ nguồn gốc ra đời và động lực phát triển kinh tế dịch vụ. Ông viết:
"Trong những trờng hợp, mà tiền đợc trực tiếp trao đổi lấy một lao động
không sản xuất ra t bản, tức là trao đổi lấy lao động không sản xuất, thì lao
động đó đợc mua với t cách là một sự phục vụ Lao động đó cung cấp
những sự phục vụ không phải với t cách một đồ vật mà với t cách là một sự
hoạt động" [19, tr. 576-577].
Trong học thuyết giá trị thặng d của mình, C. Mác đã nói đến dịch
vụ và so sánh dịch vụ ở Anh và ở Nga nh sau: "ở nớc Anh có rất nhiều ngời
trong các ngành kinh tế phi nông nghiệp, trong ngành chế tạo cơ khí, thơng
nghiệp, vận tải v.v chuyên việc chế tạo và cung cấp các yếu tố của ngành
sản xuất nông nghiệp, điều mà nớc Nga không có" [17, tr. 674]. Theo Mác
thì cùng với sự phát triển chung của lực lợng sản xuất, tất yếu phải có một
vụ và dịch vụ mang tính sinh hoạt nh: du lịch, khách sạn, nhà hàng, mỹ
viện, cắt tóc ; thứ ba, hiệu quả của dịch vụ vừa là để nâng cao tỷ lệ lao
động sản xuất vừa để nâng cao mức sống con ngời. Ông cũng cho rằng,
ngành dịch vụ là chỉ tất cả các hoạt động kinh tế khác, độc lập với nông
nghiệp, khai thác khoáng sản, và ngành chế tạo. Phạm vi của nó rất rộng,
7
chủ yếu bao gồm các ngành nh: ngành giao thông vận tải, ngành thông tin
bu điện, ngành dịch vụ ăn uống, ngành cung cấp, tiêu thụ vật t và kho tàng,
ngành tiền tệ và bảo hiểm, ngành dịch vụ kỹ thuật tổng hợp, ngành dịch vụ
thủy lợi, ngành đánh bắt cá và thủy lợi nông nghiệp, ngành bảo dỡng đờng
bộ, đờng thủy và đờng không, ngành tổng điều tra địa chất, ngành phục vụ
dân c, ngành xây dựng các công trình công cộng và nhà ở, ngành vệ sinh
môi trờng, ngành thể thao và ngành phúc lợi xã hội, các cơ quan hành chính
sự nghiệp nhà nớc, các đoàn thể xã hội.
Theo quan điểm của các chuyên gia kinh tế của nớc ta thì dịch vụ
nói một cách tổng quát là mọi hoạt động kinh tế trừ nông nghiệp, khai mỏ,
công nghiệp, xây dựng và điện - khí - nớc theo cách phân loại của bảng
phân loại tiêu chuẩn quốc tế các hoạt động kinh tế - ISIC (International
Standard Industrial Calassification of all Economis). Dịch vụ đợc chia làm
bốn nhóm lớn: Dịch vụ thơng mại và tài chính, dịch vụ giao thông vận tải
và liên lạc, dịch vụ quản lý công cộng và an ninh quốc phòng và nhóm các
dịch vụ khác nh: giáo dục, y tế và bảo vệ sức khỏe, các tổ chức tôn giáo và
từ thiện, dịch vụ pháp lý, dịch vụ nội trợ sinh hoạt, điện ảnh, khách sạn, nhà
hàng tiệm ăn Cũng có những quan điểm cho rằng, dịch vụ là những hoạt
động của những ngành phục vụ, tuy nhiên trong những năm gần đây phần
lớn các nhà kinh tế đều nhất trí rằng, dịch vụ là cung ứng lao động khoa
học, kỹ thuật, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu về sản xuất, kinh doanh,
đời sống vật chất- tinh thần, các hoạt động ngân hàng, tín dụng, cầm đồ,
bảo hiểm Trong Từ điển tiếng Việt thì định nghĩa: "Dịch vụ là những
công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ
vào nhãn hiệu, ký hiệu sản phẩm để lựa chọn sản phẩm mà không cần đến
chủ của hãng sản xuất. Còn sản phẩm của hoạt động dịch vụ phụ thuộc rất
cao vào chất lợng tiếp xúc, sự tơng tác qua lại giữa ngời làm dịch vụ và ngời
đợc phục vụ.ở đây không loại trừ phơng tiện của hoạt động dịch vụ, những
9
điều kiện sản phẩm kèm theo các dịch vụ bổ sung khác, những cái đọng lại
làm cho ngời đợc phục vụ vẫn là quan hệ giao tiếp. Sự đáp ứng kịp thời
những nhu cầu, yêu cầu và lòng mong muốn của khách hàng đối với những
dịch vụ và những ngời làm dịch vụ trực tiếp phục vụ cho khách hàng.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế ở các nớc xã hội chủ nghĩa tr-
ớc đây thì dịch vụ đợc hiểu một cách xơ cứng, máy móc và có những lệch
lạc thậm chí còn sai lầm về bản chất của dịch vụ, quan điểm này coi nhẹ
dịch vụ, cho đây là ngành sản xuất phi vật chất, không sáng tạo ra thu nhập
quốc dân, lĩnh vực kinh tế này đợc hiểu một cách bó hẹp lại là dịch vụ cá
nhân và dịch vụ xã hội mà quên đi dịch vụ phân phối và đặc biệt là dịch vụ
đời sống xã hội. Dịch vụ đợc đồng nhất với sự phục vụ cho cá nhân, là
những công việc phụ trợ ít quan trọng và cho rằng khi nào nền kinh tế đủ
mạnh rồi hãy phát triển kinh tế dịch vụ, cứ sản xuất nhiều của cải vật chất tự
khắc vấn đề dịch vụ khắc đợc giải quyết v.v Nh vậy, những quan điểm đó đã
không đánh giá đầy đủ dịch vụ với t cách là một phạm trù kinh tế và không
thừa nhận quá trình tái sán xuất xã hội nh một thể thống nhất biện chứng
giữa giá trị sử dụng cuối cùng mang tính vật chất và phi vật chất.
Theo PGS.TS Trần Văn Chử thì: "Dịch vụ là những hoạt động lao
động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dới hình
thái vật thể nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu
trong sản xuất và đời sống con ngời" [4, tr. 254].
Nhìn chung, cho đến nay khái niệm dịch vụ vẫn cha đợc xác định
một cách chính xác với đầy đủ cơ sở khoa học, bởi lẽ việc thâu tóm các
hoạt động phong phú, đa dạng và rất khác nhau về bản chất của dịch vụ
trong sản xuất và đời sống; đây là việc làm hết sức khó khăn, phức tạp.
phát triển ngày một toàn diện.
11
Mặc dù các nhà kinh tế còn nhiều tranh luận trớc khi đi đến thống
nhất về khái niệm dịch vụ và kinh tế dịch vụ. Song trên thực tế kinh tế dịch
vụ đã và đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong chiến lợc phát triển
kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, kinh tế dịch vụ đã góp phần thúc đẩy sự
phát triển kinh tế của các nớc và tốc độ tăng trởng của nền kinh tế thế giới.
Do đó điều cần thiết là phải xác định đợc vai trò của kinh tế dịch vụ trong
nền kinh tế - xã hội của đất nớc để có những chiến lợc, phơng hớng, biện
pháp nhằm phát triển lĩnh vực kinh tế mới mẻ này. Dĩ nhiên sự phát triển
kinh tế dịch vụ của từng quốc gia phải dựa trên những ngành kinh tế cơ sở
của nớc đó và không thể một lúc có thể phát triển kinh tế dịch vụ theo ý
muốn của mình đợc. Đồng thời phải dựa vào các điều kiện tự nhiên, nguồn
nhân lực, và các lợi thế so sánh khác của quốc gia đó để phát triển kinh tế
dịch vụ sao cho hợp lý.
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của lực lợng sản xuất cùng
với sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ thế
giới, nhiều nớc tùy thuộc vào đặc thù tiềm năng của mình đã cố gắng tìm
cho mình nhóm kinh tế dịch vụ mũi nhọn khác nhau: những nớc có nguồn
tài nguyên khan hiếm, nhng đã biết tận dụng lợi thế vị trí địa lý của mình để
phát triển kinh tế dịch vụ thơng mại và nhanh chóng trở thành các nớc NICs
nh: Hồng Kông, Singapo; Hồng Kông đã trở thành một trung tâm thơng
mại, trung tâm "chuyển tải", trung tâm dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ sửa chữa
tàu biển đã đem lại cho nớc này một nguồn lợi lớn, hàng năm các nớc này
thu đợc những khoản lợi nhuận khổng lồ từ hoạt động buôn bán của các nớc
trên thế giới vì một lý do nào đó không buôn bán trực tiếp đợc với nhau, có
thể nói Hồng Kông là một siêu thị lớn nhất thế giới. Cũng nh Hồng Kông,
Singapo biết phát huy lợi thế của mình nằm ở đầu mối giao thông giữa ph-
ơng Tây và Viễn đông nên đã trở thành một trung tâm thơng mại và dịch vụ
ở châu á, trong mấy chục năm qua quốc gia nhỏ bé này trở thành thơng
< 30%
CN
20%
DV
> 60%
CN
> 30%
Nh trên đã nói mỗi quốc gia dựa vào những tiềm năng, lợi thế của
mình để phát triển kinh tế dịch vụ sao cho hợp lý thì phát triển một ngành
nào thì cũng phải tính đến những yếu tố cơ bản ảnh hởng đến ngành đó.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hởng đến sự phát triển của kinh tế
dịch vụ
Có thể nói, để phát triển bất kỳ một ngành kinh tế, một lĩnh vực
kinh tế nào đều phải có những yếu tố trực tiếp, hoặc gián tiếp hay nói cách
khác phải có những điều kiện cần và đủ thì mới có thể thực hiện đợc. Theo
các nhà kinh tế thì để phát triển kinh tế dịch vụ cần phải kết hợp hài hòa
nhiều yếu tố mà trong đó các yếu tố không thể thiếu đó là nguồn lao động,
tiếp đó là các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật - vốn, điều kiện về tài
nguyên, thiên nhiên, môi trờng. Các yếu tố này sẽ tạo ra một hệ thống sản
xuất dịch vụ (hệ thống Servuction) có thể mô tả theo biểu đồ 1.2. Biểu đồ 1.2: Các nhân tố ảnh hởng đến kinh doanh dịch vụ
14
Điều kiện
cơ sở
vật chất
ờng đòi hỏi phải tiếp xúc với khách hàng. Trong hệ thống làm dịch vụ nhân
viên thờng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, và quan hệ với khách hàng,
tìm kiếm các nhu cầu của khách hàng hoặc Marketing hỗn hợp giới thiệu,
quảng cáo dịch vụ với khách hàng, để rồi sau đó bằng hệ thống cơ sở vật
chất, các điều kiện cần thiết của xí nghiệp, đơn vị, sẽ có thể làm thỏa mãn
nhu cầu khách hàng với một chất lợng dịch vụ tốt nhất, hoặc lôi kéo khách
hàng tham gia vào hoạt động dịch vụ với một sự thỏa mãn nhu cầu nhất
15
định mà có thể đem lại nhiều lợi thế, kinh tế cho đơn vị, xí nghiệp. Nh vậy
nhân viên tiếp xúc là một yếu tố chiếm vị trí quan trọng mà theo quan điểm
kinh tế thì Marketing là tợng trng cho đơn vị, xí nghiệp đặt ra trớc mắt
khách hàng. Nhân viên tiếp xúc là yếu tố đầu tiên cũng là yếu tố cuối cùng
quyết định chất lợng kinh doanh dịch vụ, là yếu tố quyết định phong cách
độc đáo của đơn vị kinh doanh dịch vụ. Do đó việc bố trí, sắp xếp số lợng
nhân viên hợp lý, đây là một đòi hỏi hết sức nghiêm túc cho sự tồn tại và
phát triển của một đơn vị, xí nghiệp. Nó còn có ỹ nghĩa quan trọng trong
việc tham gia cạnh tranh khi kinh doanh dịch vụ.
- Yếu tố về các điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật - vốn: Đây là
yếu tố ảnh hởng trực tiếp đến phát triển kinh tế dịch vụ. Các điều kiện vật
chất phục vụ cho kinh doanh dịch vụ bao gồm các điều kiện nh: ăn, ở, giao
thông vận tải, vận chuyển, các phơng tiện phục vụ cho thông tin, liên lạc,
các phơng tiện quản lý ở nhiều nớc trong khu vực có một hệ thống các
điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho kinh doanh dịch vụ rất tốt
nh: Hà Quốc, Đài Loan, Thái Lan v.v Với hệ thống nhà hàng, khách sạn
sang trọng đạt các tiêu chuẩn cao phù hợp với từng đối tợng khách hàng,
từng địa điểm phục vụ, các hệ thống sân bay, cầu cảng, thông tin liên lạc
v.v với hệ thống phơng tiện phục vụ cực kỳ hiện đại, thuận tiện, phục vụ
nhanh chóng và phục vụ tối đa cho các nhu cầu trong nhiều lĩnh vực với
những chi phí cho hoạt động kinh doanh dịch vụ mà ngời đợc phục vụ có
cảm giác thoải mái. Chính vì vậy mà hiệu quả kinh tế do kinh doanh dịch
dịch vụ phát triển tơng xứng đem lại nguồn lợi nhuận khá cao, ngoài ra có
nguồn tài nguyên nh vị trí địa lý, tài nguyên rừng, tài nguyên biển sẽ phát
triển các ngành dịch vụ nh dịch vụ du lịch, giao thông vận tải dịch vụ phục
vụ, nghiên cứu sinh vật v.v Tóm lại, trong hoạt động kinh doanh dịch vụ
những quốc gia có nguồn tài nguyên - thiên nhiên phong phú, đa dạng, môi
17
trờng trong lành cùng với những điều kiện về môi trờng xã hội đặc biệt là an
ninh trật tự tốt cũng sẽ làm cho kinh tế dịch vụ phát triển một cách nhanh
chóng.
Văn hóa đợc coi là một trong những yếu tố quan trọng trong kinh
doanh dịch vụ. Nói đến văn hóa có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa
rộng thì văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngời
lao động sáng tạo ra trong lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: "Vì
một lẽ sinh tồn cũng nh mục đích của cuộc sống, loài ngời mới sáng tạo và
phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phơng
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vân hoá" [20,
tr. 431]. Theo UNESCO thì văn hóa là một phức thể - tổng thể các đặc trng
diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm khắc hoạ nên bản sắc
của một cộng đồng, gia đình, xóm làng, quốc gia; xã hội - văn hóa không
chỉ bao gồm nghệ thuật văn chơng mà cả lối sống, những quyền con ngời;
những hệ giá trị những truyền thống tín ngỡng v.v Về hình thức thì văn
hóa có hai phạm trù là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, nó phải đợc
gìn giữ và phát triển; con ngời phải đợc giao lu, hởng thụ, và đợc kế thừa.
Do đó để nâng cao yếu tố văn hóa trong kinh doanh dịch vụ, thì các tổ chức
kinh doanh dịch vụ trớc hết phải lựa chọn phơng hớng kinh doanh có văn
hóa, cái gì có lợi cho kinh doanh và văn hóa thì làm, nếu ảnh hởng xấu đến
các giá trị đạo đức văn hóa nh thuần phong mỹ tục thì có lợi nh thế nào
cũng không làm, phát triển và bảo vệ những hàng hóa có bản sắc văn hóa
dân tộc, hớng dẫn tiêu dùng, xây dựng tập quán tiêu dùng có văn hóa, giao
tiêu chung của nền kinh tế là số lợng lao động trong các doanh nghiệp và tỷ
19
trọng thu nhập quốc nội (GDP) hay tỷ trọng trong tổng sản phẩm quốc dân
(GNP).
Phát triển kinh tế dịch vụ tạo ra công ăn việc làm, thực hiện phân phối
lại thu nhập, đẩy mạnh kinh tế hàng hóa phát triển, đặc biệt nớc ta có hàng
triệu lao đông d thừa trung bình mỗi năm chúng ta có khoảng 3 - 4 triệu lao
động không có việc làm, do đó phát triển kinh tế dịch vụ sẽ là nơi thu hút
một lợng lao động lớn, giải quyết thất nghiệp, giảm những tệ nạn xã hội, tạo
ra nguồn thu nhập, cải thiện đời sống của bộ phận không nhỏ dân c. Nếu
năm 1990 cơ cấu lao động việc làm trong ngành dịch vụ chiếm 13,84% thì
đến năm 1999 lên tới 20% trong khi trong công nghiệp - xây dựng chỉ tăng
từ 13,92% năm 1990 lên 15,5% năm 1999 [2]. Trong chừng mực nhất định
phát triển kinh tế dịch vụ còn có vai trò chống lạm phát, vì nó cân đối tiền -
hàng cho đất nớc. Dịch vụ giúp cho việc phát triển và ổn định thị trờng, làm
thay đổi căn bản cơ cấu của nền kinh tế. Dịch vụ là lĩnh vực đầu t kinh
doanh có hiệu quả nhanh. So với đầu t vào kinh doanh ở lĩnh vực sản xuất ra
sản phẩm vật chất thì đầu t vào kinh doanh ở lĩnh vực dịch vụ nhìn chung
dịch vụ không cần lợng vốn nhiều, nhng lại có doanh thu nhanh và hiệu quả
kinh doanh cao. Kinh tế dịch vụ là lĩnh vực rất năng động và có quy mô
rộng do đối tợng phục vụ, thời gian phục vụ, không gian phục vụ cũng nh
tính đa dạng nhiều vẻ, phong phú về nhu cầu khách hàng, của các loại dịch
vụ cần đáp ứng
Thứ hai: Dịch vụ trực tiếp góp phần phát triển sản xuất nhất là trong
sản xuất nông nghiệp và công nghiệp - xây dựng. Là một nớc có khoảng
75% là sản xuất nông nghiệp, do đó dịch vụ sẽ tham gia cung cấp các yếu
tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp cũng nh các yếu tố cho các hoạt động
kinh doanh khác. Đồng thời dịch vụ còn tham gia vào quá trình tiêu thụ sản
phẩm làm cho các ngành sản xuất, các doanh nghiệp tiêu thụ đợc nhiều sản
phẩm hơn (giải quyết đầu ra). Nh vậy dịch vụ đợc thực hiện trớc, trong và
triển phân công lao động xã hội. Nền kinh tế xã hội càng phát triển thì dịch
vụ càng phát triển đa dạng phong phú và sự phát triển của dịch vụ là một
chỉ tiêu phát triển kinh tế của một quốc gia về trình độ phát triển văn minh
của xã hội.
Cho đến năm 2000 kinh tế dịch vụ ở nớc ta đã đóng góp một tỷ
trọng khá cao trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (xem bảng 1.1 và 1.2).
Bảng 1.1: Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) - theo giá hiện hành
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm
Lĩnh vực
Thực hiện
năm 1999
Thực hiện
năm 2000
Cơ cấu (%)
năm 2000
Tổng số 399.943 444.139 100,00
Nông - lâm nghiệp -
thủy sản
101.723 107.913 24,30
Công nghiệp - Xây dựng 137.959 162.595 36,61
Dịch vụ 16.260 173.631 39,09
Bảng 1.2: Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) - theo giá cố định năm 1994
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm
Lĩnh vực
Thực hiện
năm 1999
Thực hiện
năm 2000
những biến động kinh tế trong nớc và quốc tế, tỷ trọng dịch vụ có phần
giảm sút, song nó vẫn chiếm tỷ trong cao nhất. Từ những cơ sở lý luận và
thực tế về vai trò của kinh tế dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân ở nớc ta
việc xác định mục tiêu, chiến lợc phát triển ngành kinh tế dịch vụ là một
đòi hỏi hết sức cấp thiết đối với sự phát triển nền kinh tế và cũng chính là
một tất yếu khách quan để chúng ta thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội,
xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
23
1.2.2. Phát triển kinh tế dịch vụ là một tất yếu khách quan trong
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
Nớc ta tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây
dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông nghiệp nghèo
nàn, lạc hậu. Vì vậy, việc lựa chọn một mô hình phát triển kinh tế, một cơ
cấu kinh tế sao cho phù hợp là một việc rất quan trọng nó quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của nền kinh tế đất nớc. Những thập niên gần đây trong
cơ cấu kinh tế của một số nớc phát triển thể hiện rất rõ nét đó là tỷ trọng
trong lĩnh vực kinh tế dịch vụ lớn hơn tỷ trọng trong khu vực công nghiệp,
nông nghiệp cộng lại. Xu hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhiều nớc có
thể chia thành bốn giai đoạn:
- Giai đoạn I: Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
- Giai đoạn II: Công nghiệp Nông nghiệp Dịch vụ.
- Giai đoạn III: Công nghiệp Dịch vụ Nông nghiệp.
- Giai đoạn IV: Dịch vụ Công nghiệp Nông nghiệp.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn, trong đó
cơ cấu nền kinh tế đã và đang chuyển dịch theo chiều hớng hợp lý, tiến bộ.
Lực lợng lao động từ khu vực sản xuất nông nghiệp đã và đang chuyển dần
sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp
trong những năm qua tăng dần trong cơ cấu kinh tế (xem bảng 1.3).
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích kinh tế thì tỷ trọng dịch vụ trong
hàng hóa theo pháp luật coi đây là khâu quan trọng cần đợc tổ chức lại theo
cơ cấu kinh tế mới.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII tháng 6/1996 cũng ghi
rõ: "Phát triển nhanh du lịch - dịch vụ hàng không, hàng hải, bu chính viễn
25