LUẬN VĂN: Kinh tế dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay potx - Pdf 15


LUẬN VĂN: Kinh tế dịch vụ trong cơ cấu kinh
tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
hiện nay

Mở ĐầU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển chung của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp. Trước mắt
phấn đấu đến năm 2010 tỷ trọng trong GDP của dịch vụ là 42- 43%, công nghiệp - xây dựng
là 40 - 41% và nông nghiệp là 16-17% [7]. Như vậy ngành kinh tế dịch vụ được coi là một
trong những ngành kinh tế có vị trí quan trọng và có tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nền
kinh tế nước ta đến thời điểm đó.
Nếu so sánh với một số địa phương như: Hải Phòng, Nghệ An, Khánh Hòa v.v thì
Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển các

tế của Phạm Xuân Thu, 1995; "Phát triển kinh tế du lịch ở Nghệ An", Luận văn thạc sĩ
kinh tế của Hoàng Đức Cường, 1999 và một số bài viết trên các báo, tạp chí nghiên cứu
của Trung ương và địa phương.
Song các luận văn, luận án, các bài viết nêu trên chỉ nghiên cứu về một ngành cụ
thể trong kinh tế dịch vụ ở các địa phương khác, chưa nghiên cứu kinh tế dịch vụ từ góc độ
một nhóm ngành trong cơ cấu kinh tế ở
địa bàn cấp tỉnh. Đặc biệt là đối với kinh tế dịch vụ của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì chưa có
một công trình nào nghiên cứu trung tên với đề tài của luận văn này.
3. Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của luận văn
Mục đích, nhiệm vụ: Luận văn nghiên cứu những vấn đề chung về kinh tế dịch vụ
và xác định vai trò, tầm quan trọng của kinh tế dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu.
Phân tích thực trạng kinh tế dịch vụ của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong những năm
qua để thấy được những thành tựu, những hạn chế, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp
chủ yếu để phát triển kinh tế dịch vụ tại tỉnh trong những năm đầu thế kỷ XXI.
Giới hạn của luận văn:

Với một tỉnh có nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh với hàng trăm các hoạt
động kinh doanh dịch vụ phục vụ cho các nhu cầu sản xuất, trong khuôn khổ của một luận
văn thạc sĩ, tác giả không thể nghiên cứu toàn bộ các ngành kinh tế dịch vụ mà chỉ đi sâu
nghiên cứu một số ngành dịch vụ chủ yếu trên địa bàn của tỉnh như: Dịch vụ dầu khí, dịch
vụ thủy sản, dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải, dịch vụ nông nghiệp để làm rõ vai trò, thực
trạng của kinh tế dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Về thời gian,
luận văn chỉ nghiên cứu kinh tế dịch vụ của địa phương trong khoảng 10 năm từ 1991 -
2000.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả dựa vào cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, dựa vào chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, của Đảng bộ
và chính quyền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tham khảo có chọn lọc các công trình nghiên cứu,
các bài viết của nhiều tác giả có liên quan đến đề tài.

điều kiện hoàn cảnh đất nước, để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực
và thế giới. Mục tiêu phát triển kinh tế mà Đảng ta đề ra trong văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX cũng ghi rõ: "Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000. Tỷ trọng
GDP của nông nghiệp 16 - 17%, công nghiệp: 40 - 41%, dịch vụ: 42- 43%" [11]. Rõ ràng kinh
tế dịch vụ từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp theo sẽ chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ
cấu kinh tế của đất nước và kinh tế dịch vụ sẽ giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh
tế - xã hội của nước ta.
1.1. KHáI NIệM DịCH Vụ Và KINH Tế DịCH Vụ
1.1.1. Khái niệm
a) Dịch vụ
Thuật ngữ "Dịch vụ" (Service) lúc đầu người ta dùng để chỉ các hoạt động cung
ứng về mặt hậu cần cho quân đội, sau đó dần dần được sử dụng nhiều hơn trong kinh tế và
trở thành tên gọi lĩnh vực kinh tế gồm một số ngành. Do những quan niệm khác nhau nên
việc nhận dạng các hoạt động dịch vụ trong thực tiễn cũng khác nhau; cho đến những năm

gần đây dịch vụ được hiểu theo một nghĩa rộng hơn, được coi là một lĩnh vực sản xuất
mới, có tính tổng hợp cao. Đặc điểm chủ yếu của dịch vụ là gắn liền sản xuất với các
ngành sản xuất và tiêu dùng. Dịch vụ dựa vào sản xuất, nhưng chính nó lại phục vụ đắc lực
cho sản xuất phát triển. Một nước có trình độ phát triển càng cao thì ngành dịch vụ chiếm
tỷ trọng càng lớn.
C.Mác cho rằng, dịch vụ là con đẻ của sản xuất hàng hóa khi kinh tế hàng hóa phát
triển mạnh, đòi hỏi phải có sự lưu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu
ngày càng cao của con người, lúc đó ngành dịch vụ sẽ phát triển. Như vậy, bằng cách tiếp
cận dưới góc độ kinh tế, C.Mác đã làm rõ nguồn gốc ra đời và động lực phát triển kinh tế
dịch vụ. Ông viết: "Trong những trường hợp, mà tiền được trực tiếp trao đổi lấy một lao
động không sản xuất ra tư bản, tức là trao đổi lấy lao động không sản xuất, thì lao động đó
được mua với tư cách là một sự phục vụ Lao động đó cung cấp những sự phục vụ không
phải với tư cách một đồ vật mà với tư cách là một sự hoạt động" [19, tr. 576-577].
Trong học thuyết giá trị thặng dư của mình, C. Mác đã nói đến dịch vụ và so sánh
dịch vụ ở Anh và ở Nga như sau: "ở nước Anh có rất nhiều người trong các ngành kinh tế

nâng cao tỷ lệ lao động sản xuất vừa để nâng cao mức sống con người. Ông cũng cho rằng,
ngành dịch vụ là chỉ tất cả các hoạt động kinh tế khác, độc lập với nông nghiệp, khai thác
khoáng sản, và ngành chế tạo. Phạm vi của nó rất rộng, chủ yếu bao gồm các ngành như:
ngành giao thông vận tải, ngành thông tin bưu điện, ngành dịch vụ ăn uống, ngành cung
cấp, tiêu thụ vật tư và kho tàng, ngành tiền tệ và bảo hiểm, ngành dịch vụ kỹ thuật tổng
hợp, ngành dịch vụ thủy lợi, ngành đánh bắt cá và thủy lợi nông nghiệp, ngành bảo dưỡng
đường bộ, đường thủy và đường không, ngành tổng điều tra địa chất, ngành phục vụ dân
cư, ngành xây dựng các công trình công cộng và nhà ở, ngành vệ sinh môi trường, ngành
thể thao và ngành phúc lợi xã hội, các cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước, các đoàn
thể xã hội.
Theo quan điểm của các chuyên gia kinh tế của nước ta thì dịch vụ nói một cách
tổng quát là mọi hoạt động kinh tế trừ nông nghiệp, khai mỏ, công nghiệp, xây dựng và
điện - khí - nước theo cách phân loại của bảng phân loại tiêu chuẩn quốc tế các hoạt động
kinh tế - ISIC (International Standard Industrial Calassification of all Economis). Dịch vụ
được chia làm bốn nhóm lớn: Dịch vụ thương mại và tài chính, dịch vụ giao thông vận tải
và liên lạc, dịch vụ quản lý công cộng và an ninh quốc phòng và nhóm các dịch vụ khác

như: giáo dục, y tế và bảo vệ sức khỏe, các tổ chức tôn giáo và từ thiện, dịch vụ pháp lý,
dịch vụ nội trợ sinh hoạt, điện ảnh, khách sạn, nhà hàng tiệm ăn Cũng có những quan
điểm cho rằng, dịch vụ là những hoạt động của những ngành phục vụ, tuy nhiên trong
những năm gần đây phần lớn các nhà kinh tế đều nhất trí rằng, dịch vụ là cung ứng lao
động khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, đời
sống vật chất- tinh thần, các hoạt động ngân hàng, tín dụng, cầm đồ, bảo hiểm Trong Từ
điển tiếng Việt thì định nghĩa: "Dịch vụ là những công việc phục vụ trực tiếp cho những
nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công" [38]. Trong kinh tế học hiện
đại thì dịch vụ lại được quan niệm rộng rãi hơn, dịch vụ bao gồm các ngành, các lĩnh vực
có tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) từ các ngành
sản xuất các sản phẩm vật chất như công nghiệp, nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp,
ngư nghiệp). Như vậy những ngành như vận tải bao gồm hàng không, xe lửa, ô tô, thông
tin, bưu điện, lưu thông hàng hóa tư liệu sản xuất hoặc vật phẩm tiêu dùng, các lĩnh vực

về bản chất của dịch vụ, quan điểm này coi nhẹ dịch vụ, cho đây là ngành sản xuất phi vật
chất, không sáng tạo ra thu nhập quốc dân, lĩnh vực kinh tế này được hiểu một cách bó hẹp
lại là dịch vụ cá nhân và dịch vụ xã hội mà quên đi dịch vụ phân phối và đặc biệt là dịch
vụ đời sống xã hội. Dịch vụ được đồng nhất với sự phục vụ cho cá nhân, là những công
việc phụ trợ ít quan trọng và cho rằng khi nào nền kinh tế đủ mạnh rồi hãy phát triển kinh
tế dịch vụ, cứ sản xuất nhiều của cải vật chất tự khắc vấn đề dịch vụ khắc được giải quyết
v.v Như vậy, những quan điểm đó đã không đánh giá đầy đủ dịch vụ với tư cách là một
phạm trù kinh tế và không thừa nhận quá trình tái sán xuất xã hội như một thể thống nhất
biện chứng giữa giá trị sử dụng cuối cùng mang tính vật chất và phi vật chất.
Theo PGS.TS Trần Văn Chử thì: "Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính
xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thỏa mãn
kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống con người" [4,
tr. 254].
Nhìn chung, cho đến nay khái niệm dịch vụ vẫn chưa được xác định một cách
chính xác với đầy đủ cơ sở khoa học, bởi lẽ việc thâu tóm các hoạt động phong phú, đa
dạng và rất khác nhau về bản chất của dịch vụ trong sản xuất và đời sống; đây là việc làm

hết sức khó khăn, phức tạp. Cuộc tranh luận để đi đến thống nhất về khái niệm dịch vụ của
các nhà lý luận, các chuyên gia kinh tế vẫn còn tiếp diễn. Song cho dù cuộc tranh cãi diễn
ra thế nào đi chăng nữa thì cũng phải khẳng định một điều rằng dịch vụ không đơn thuần
là một ngành phục vụ phụ trợ ít quan trọng v.v mà đã thực sự trở thành một lĩnh vực kinh
tế mũi nhọn có nhiều lợi thế quyết định đến sự phát triển của nhiều nền kinh tế trên thế
giới.
b) Kinh tế dịch vụ
Theo quan điểm của chuyên gia kinh tế Trung Quốc thì kinh tế dịch vụ được coi là
phạm trù kinh tế độc lập so với kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp, nó thường
được gọi là khu vực kinh tế thứ III hay sản nghiệp thứ III. Kinh tế dịch vụ có thể phân
thành hai loại là hữu hình và vô hình: Hữu hình là chỉ thông qua lao động có tính phi sản
xuất nhất định để phục vụ sản xuất và sinh hoạt, tạo nên một giá trị phụ thêm cho sản
phẩm, từ đó nâng cao năng xuất lao động sản xuất, cải thiện và nâng cao mức sống con

trí địa lý của mình để phát triển kinh tế dịch vụ thương mại và nhanh chóng trở thành các
nước NICs như: Hồng Kông, Singapo; Hồng Kông đã trở thành một trung tâm thương mại,
trung tâm "chuyển tải", trung tâm dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ sửa chữa tàu biển đã đem lại
cho nước này một nguồn lợi lớn, hàng năm các nước này thu được những khoản lợi nhuận
khổng lồ từ hoạt động buôn bán của các nước trên thế giới vì một lý do nào đó không buôn
bán trực tiếp được với nhau, có thể nói Hồng Kông là một siêu thị lớn nhất thế giới. Cũng
như Hồng Kông, Singapo biết phát huy lợi thế của mình nằm ở đầu mối giao thông giữa
phương Tây và Viễn đông nên đã trở thành một trung tâm thương mại và dịch vụ ở châu á,
trong mấy chục năm qua quốc gia nhỏ bé này trở thành thương cảng lớn thứ hai trên thế
giới sau cảng Rotterdam của Hà Lan; cùng với sự phát triển của ngành dịch vụ Singapo trở
thành một nước có nền kinh tế phát triển nhất trong khu vực. Đối với Thái Lan trong kế
hoạch phát triển kinh tế của những năm 1980 - 1990 đã đặt vấn đề ưu tiên phát triển kinh
tế dịch vụ lên hàng đầu, nhằm chuyển một nước có nền kinh tế nông nghiệp sang một nước
kinh tế dịch vụ, đặc biệt Thái Lan đầu tư phát triển dịch vụ du lịch, do đó dịch vụ du lịch
đã thu được nguồn lợi lớn nhất so với tất cả các loại dịch vụ khác, kinh tế dịch vụ đã đem
lại thu nhập cao hơn cả ngành sản xuất gạo, được coi là ngành thu được nhiều ngoại tệ

NN

<10%

nhất trước đó. Ngoài ra, một số nước cũng đi vào phát triển kinh tế dịch vụ du lịch như
Ôxtrâylia, Italia
Theo các chuyên gia nghiên cứu kinh tế, trong thập niên 90 của thế kỷ XX, lao
động trong lĩnh vực kinh tế dịch vụ ở các nước công nghiệp phát triển chiếm khoảng 75%
tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế và đóng góp khoảng 60 - 70% GDP cho
các quốc gia này. Ví dụ như mức độ đóng góp trong cơ cấu sản phẩm của kinh tế dịch vụ ở
Singapo là 64,6%, Hồng Kông là 85,7%; Nhật Bản là 60,4%; Pháp là 60 % [4]. Rõ ràng
kinh tế dịch vụ đã thực sự trở thành một nền kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sự phát
triển nền kinh tế của mỗi nước. Có thể mô tả như sau:


> 60%

CN

> 30%nguồn lao động, tiếp đó là các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật - vốn, điều kiện về tài
nguyên, thiên nhiên, môi trường. Các yếu tố này sẽ tạo ra một hệ thống sản xuất dịch vụ
(hệ thống Servuction) có thể mô tả theo biểu đồ 1.2. Biểu đồ 1.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh dịch vụ
- Yếu tố con người: Trong hệ thống sản xuất dịch vụ con người có ảnh hưởng lớn
đến chất lượng kinh doanh dịch vụ trong đó sự có mặt của khách hàng là tuyệt đối cần
thiết, không có khách hàng thì dịch vụ không thể tồn tại, khách hàng là người tạo ra nhu
cầu về dịch vụ, là yếu tố khởi đầu cho quá trình làm dịch vụ của những tổ chức, những xí
nghiệp kinh doanh dịch vụ. Không có vật chất cũng sẽ không có cung ứng dịch vụ, sự cung
ứng chỉ xảy ra khi có vật chất xuất hiện. Điều này khác hẳn về căn bản so với quá trình sản
xuất ra sản phẩm vật chất ở chỗ không có hoặc chưa có nhu cầu người ta vẫn có thể sản

thì trong kinh doanh dịch vụ việc thực hiện Marketing dịch vụ càng có ý nghĩa quan trọng
hơn nhiều để quá trình dịch vụ được diễn ra và giá trị dịch vụ được thực hiện.
Nếu sự có mặt của khách hàng là tuyệt đối cần thiết thì người phục vụ trong kinh
doanh dịch vụ cũng vô cùng quan trọng, họ là nhân viên trực tiếp hay gián tiếp tham gia
phục vụ các hoạt động trong các xí nghiệp, các tổ chức kinh tế; họ có thể là một người hay
nhiều người, công việc của họ thường đòi hỏi phải tiếp xúc với khách hàng. Trong hệ
thống làm dịch vụ nhân viên thường tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, và quan hệ với
khách hàng, tìm kiếm các nhu cầu của khách hàng hoặc Marketing hỗn hợp giới thiệu,
quảng cáo dịch vụ với khách hàng, để rồi sau đó bằng hệ thống cơ sở vật chất, các điều
kiện cần thiết của xí nghiệp, đơn vị, sẽ có thể làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng với một
chất lượng dịch vụ tốt nhất, hoặc lôi kéo khách hàng tham gia vào hoạt động dịch vụ với
một sự thỏa mãn nhu cầu nhất định mà có thể đem lại nhiều lợi thế, kinh tế cho đơn vị, xí
nghiệp. Như vậy nhân viên tiếp xúc là một yếu tố chiếm vị trí quan trọng mà theo quan
điểm kinh tế thì Marketing là tượng trưng cho đơn vị, xí nghiệp đặt ra trước mắt khách
hàng. Nhân viên tiếp xúc là yếu tố đầu tiên cũng là yếu tố cuối cùng quyết định chất lượng
kinh doanh dịch vụ, là yếu tố quyết định phong cách độc đáo của đơn vị kinh doanh dịch
vụ. Do đó việc bố trí, sắp xếp số lượng nhân viên hợp lý, đây là một đòi hỏi hết sức
nghiêm túc cho sự tồn tại và phát triển của một đơn vị, xí nghiệp. Nó còn có ỹ nghĩa quan
trọng trong việc tham gia cạnh tranh khi kinh doanh dịch vụ.
- Yếu tố về các điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật - vốn: Đây là yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế dịch vụ. Các điều kiện vật chất phục vụ cho kinh
doanh dịch vụ bao gồm các điều kiện như: ăn, ở, giao thông vận tải, vận chuyển, các
phương tiện phục vụ cho thông tin, liên lạc, các phương tiện quản lý ở nhiều nước trong
khu vực có một hệ thống các điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho kinh doanh
dịch vụ rất tốt như: Hà Quốc, Đài Loan, Thái Lan v.v Với hệ thống nhà hàng, khách sạn
sang trọng đạt các tiêu chuẩn cao phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng địa điểm
phục vụ, các hệ thống sân bay, cầu cảng, thông tin liên lạc v.v với hệ thống phương tiện
phục vụ cực kỳ hiện đại, thuận tiện, phục vụ nhanh chóng và phục vụ tối đa cho các nhu
cầu trong nhiều lĩnh vực với những chi phí cho hoạt động kinh doanh dịch vụ mà người
được phục vụ có cảm giác thoải mái. Chính vì vậy mà hiệu quả kinh tế do kinh doanh dịch


với những điều kiện về môi trường xã hội đặc biệt là an ninh trật tự tốt cũng sẽ làm cho
kinh tế dịch vụ phát triển một cách nhanh chóng.
Văn hóa được coi là một trong những yếu tố quan trọng trong kinh doanh dịch vụ.
Nói đến văn hóa có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng thì văn hóa là toàn bộ
những giá trị vật chất và tinh thần do con người lao động sáng tạo ra trong lịch sử. Chủ
tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: "Vì một lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn
học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức
sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là vân hoá" [20, tr. 431]. Theo
UNESCO thì văn hóa là một phức thể - tổng thể các đặc trưng – diện mạo về tinh thần, vật
chất, tri thức, linh cảm khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xóm làng,
quốc gia; xã hội - văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà cả lối sống,
những quyền con người; những hệ giá trị những truyền thống tín ngưỡng v.v Về hình
thức thì văn hóa có hai phạm trù là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, nó phải được gìn
giữ và phát triển; con người phải được giao lưu, hưởng thụ, và được kế thừa. Do đó để
nâng cao yếu tố văn hóa trong kinh doanh dịch vụ, thì các tổ chức kinh doanh dịch vụ
trước hết phải lựa chọn phương hướng kinh doanh có văn hóa, cái gì có lợi cho kinh doanh
và văn hóa thì làm, nếu ảnh hưởng xấu đến các giá trị đạo đức văn hóa như thuần phong
mỹ tục thì có lợi như thế nào cũng không làm, phát triển và bảo vệ những hàng hóa có bản
sắc văn hóa dân tộc, hướng dẫn tiêu dùng, xây dựng tập quán tiêu dùng có văn hóa, giao
lưu kinh tế đi đôi với giao lưu văn hóa, giáo dục văn hóa cho những người kinh doanh.
Văn hóa nói chung, văn hóa truyền thống nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong kinh
doanh. Văn hóa dân tộc là nguồn lực bên trong của kinh doanh nhất là kinh doanh dịch vụ.
Bên cạnh các yếu tố kể trên được coi là các yếu tố bên trong, thì để làm tăng hiệu quả kinh
doanh dịch vụ chúng ta cần phải kể đến các yếu tố bên ngoài đó là: Môi trường pháp luật,
môi trường đầu tư, hệ thống thông tin trong nước và quốc tế Cơ chế quản lý của nhà
nước, những định hướng chiến lược phát triển kinh tế dài hạn của đất nước, các yếu tố này
có tác động mạnh đến việc nâng cao hiệu quả, lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Tóm lại, để phát triển kinh doanh dịch vụ đưa kinh tế dịch vụ trở thành một lĩnh

xuất ra sản phẩm vật chất thì đầu tư vào kinh doanh ở lĩnh vực dịch vụ nhìn chung dịch vụ

không cần lượng vốn nhiều, nhưng lại có doanh thu nhanh và hiệu quả kinh doanh cao.
Kinh tế dịch vụ là lĩnh vực rất năng động và có quy mô rộng do đối tượng phục vụ, thời
gian phục vụ, không gian phục vụ cũng như tính đa dạng nhiều vẻ, phong phú về nhu cầu
khách hàng, của các loại dịch vụ cần đáp ứng
Thứ hai: Dịch vụ trực tiếp góp phần phát triển sản xuất nhất là trong sản xuất
nông nghiệp và công nghiệp - xây dựng. Là một nước có khoảng 75% là sản xuất nông
nghiệp, do đó dịch vụ sẽ tham gia cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp
cũng như các yếu tố cho các hoạt động kinh doanh khác. Đồng thời dịch vụ còn tham gia
vào quá trình tiêu thụ sản phẩm làm cho các ngành sản xuất, các doanh nghiệp tiêu thụ
được nhiều sản phẩm hơn (giải quyết đầu ra). Như vậy dịch vụ được thực hiện trước, trong
và sau khi tiêu thụ sản phẩm. Hay nói cách khác dịch vụ là cầu nối giữa các yếu tố "đầu
vào" và "đầu ra" trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, nó thúc đẩy nền
kinh tế phát triển năng động, hiệu quả và đảm bảo sự thuận tiện, phong phú và văn minh
cho các lĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần của xã hội.
Dịch vụ đóng vai trò thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong những thập niên đầu thế kỷ
XXI nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu chung của đất nước, tham gia vào việc nâng cao
dân trí và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Thứ ba: phát triển kinh tế dịch vụ sẽ đảm bảo thỏa mãn đời sống xã hội về vật
chất cũng như tinh thần được đúng nơi, đúng chỗ, kịp thời, thuận tiện, văn minh và phong
phú. Phát triển kinh tế dịch vụ đúng mức sẽ giải quyết được nhiều vấn đề xã hội tạo ra
những quan hệ mới trong đời sống xã hội. Dịch vụ còn đóng vai trò to lớn trong việc giải
phóng phụ nữ một lực lượng lao động to lớn mà các nước văn minh đang có xu hướng tiến
tới bình đẳng giữa nam và nữ, khai thác tiềm năng và sử dụng phù hợp có hiệu quả lực
lượng lao động nữ ở cả lĩnh vực lao động trí óc và lao động chân tay nhất là trong điều kiện
nước ta tỷ lệ lao động nữ chiếm hơn 50% trình độ kỹ thuật, tay nghề còn thấp do đó phát triển
kinh tế dịch vụ sẽ giải quyết lượng lao động nữ vào các hoạt động dịch vụ sử dụng lao động
chân tay là hết sức cấp thiết.

Năm Thực hiện
năm 1999
Thực hiện
năm 2000
Năm 2000 so với
năm 1999 (%)

Lĩnh vực
Tổng số 256.272 273.582 106,75
Nông - lâm nghiệp-thủy
sản
60.895 63.353 104,04
Công nghiệp - Xây dựng 88.047 96.916 110,07
Dịch vụ 103.330 113.313 105,57
Nguồn: Niên giám thống kê 2000.
Căn cứ vào bảng 1.1 và 1.2 thì khu vực dịch vụ năm 2000 đóng góp 173.631 tỷ
đồng theo giá hiện hành và 113.313 tỷ đồng theo giá cố định 1994 và chiếm tỷ trọng cao
nhất trong GDP.
Như vậy, kinh tế dịch vụ ở nước ta thực sự chiếm một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế xã hội. Theo các nhà kinh tế trong và ngoài nước thì con số này sẽ tiếp tục tăng cao
trong những năm tiếp theo nhất là khi Việt Nam ký hiệp Hịnh thương mại Việt - Mỹ và
tham gia APTA, WTO …
Bảng 1.3: Cơ cấu kinh tế quốc dân và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của nước ta từ năm 1992 đến năm 2000
Năm
Lĩnh vực
1992 1994 1996 1998 2000
Nông nghiệp 33,9 28,7 27,2 25,78 24,30
Công nghiệp - Xây dựng 27,3 29,6 30,7 32,49 36,61
Dịch vụ 38,8 41,7 42,1 41,75 39,09

bảng 1.3).

Tuy nhiên, theo các nhà phân tích kinh tế thì tỷ trọng dịch vụ trong các ngành còn
thấp chưa tương xứng với tiềm năng của một số ngành; ví dụ: dịch vụ trong nông nghiệp
năm 1999 tổng giá trị sản xuất đạt 102.932,9 tỷ đồng trong đó trồng trọt chiếm 82.945,6 tỷ
đồng, chăn nuôi 17.337,0 tỷ đồng còn các dịch vụ phục vụ trồng trọt và chăn nuôi chỉ
chiếm 2.650,3 tỷ đồng. Như vật tỷ lệ dịch vụ trong nông nghiệp còn rất thấp khoảng 2%
trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Do đó cần phải có những biện pháp cụ thể kịp thời
để đưa nhanh tỷ lệ của dịch vụ trong kinh tế nông nghiệp và một số lĩnh vực kinh tế khác.
Xác định được vai trò vị trí và tầm quan trọng của kinh tế dịch vụ trong cơ cấu
nền kinh tế nước ta. Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã đề cập đến vai trò của dịch vụ
trong sản xuất và đời sống:
1. Phát triển rộng rãi các loại hình dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất và
đời sống nhân dân.
2. Kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và lưu thông dịch vụ trên địa bàn
từng huyện, từng tỉnh, từng vùng kinh tế.
3. "Cho phép những nhà tư sản nhỏ … sản xuất kinh doanh trong một
số ngành nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi cần thiết trong cả
nước [8, tr. 60].
Trong Văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam thì kinh tế dịch vụ lần
đầu tiên được đặt ra như một bộ phận cấu thành của cơ cấu kinh tế. Trong khoa học kinh tế
cũng như trong thực tiễn kinh doanh nội dung, phạm trù kinh tế dịch vụ cũng như tỷ trọng
kinh tế dịch vụ có vị trí ngày càng quan trọng. Trước mắt nó có vai trò to lớn trong sản
xuất, phân phối lưu thông và tiêu dùng có tính xã hội và có tính chất hệ thống. Văn kiện
cũng xác định rõ chúng ta sẽ phải mở rộng kinh tế dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn.
Cần phát triển nhanh các dịch vụ như: vận tải, bưu điện, thông tin, ngân hàng, bảo hiểm,
khoa học và chuyển giao công nghệ, các dịch vụ về quảng cáo tư vấn đầu tư pháp lý, xuất
khẩu lao động và chuyên gia v.v Trong kinh tế dịch vụ sự phát triển thương nghiệp nhiều
thành phần được tự do lưu thông hàng hóa theo pháp luật coi đây là khâu quan trọng cần
được tổ chức lại theo cơ cấu kinh tế mới.

- Dịch vụ phải trở thành một lĩnh vực kinh tế quan trọng của đất nước, nhằm thúc đẩy
sản xuất và thúc đẩy quan hệ giao lưu trong và ngoài nước, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho
người lao động, đáp ứng tốt hơn đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân, tức là

dịch vụ phải nhằm trực tiếp nhu cầu của con người, phục vụ con người vì lợi ích của con người
và do con người.
- Phát triển mạnh mạng lưới dịch vụ phục vụ cho các ngành sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp, và các ngành sản xuất khác; việc nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ có ý
nghĩa quan trọng thúc đẩy sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đó là những dịch vụ hướng
tới cả "đầu vào" và "đầu ra" của sản xuất như: cung ứng các loại vật tư phân bón, giống, thuốc
trừ sâu, thủy lợi, bảo vệ thực vật, hỗ trợ chăn nuôi thú y, thông tin tư vấn, cố vấn, bồi dưỡng
cán bộ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, giao dịch, giới thiệu sản phẩm, tín dụng v.v
- Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ như: cung ứng tàu biển, hàng
không, bưu điện, kiều hối, du lịch, hợp tác lao động, thông tin số liệu, bảo hiểm, an ninh
tài sản v.v
- Phát triển mạnh mạng lưới dịch vụ công cộng như: đi lại, nhà ở, văn hóa nghệ
thuật, bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm xã hội, dịch vụ tư vấn, đơn từ tố cáo, khiếu nại v.v Các
dịch vụ sinh hoạt như: ăn, ở, mặc, sửa chữa đồ dùng gia đình, cưới xin, làm đẹp v.v
Với sự phát triển đa dạng, phong phú nhiều loại hình dịch vụ cùng với những điều
kiện, những chính sách hợp lý thì mục tiêu đến năm 2010 kinh tế dịch vụ nước ta chiếm
42- 43% là hoàn toàn có cơ sở thực hiện.
Để thực hiện các mục tiêu phát triển các ngành dịch vụ cần phải có những nội
dung cơ bản như:
Một là, dịch vụ phải được coi là một bộ phận của cơ cấu kinh tế là một trong
những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của đất nước bởi vì: cơ cấu kinh tế có tác động quyết
định đến tốc độ hiệu quả phát triển kinh tế đến toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội. Nếu bố trí
không hợp lý cơ cấu kinh tế sẽ dẫn đến những thiệt hại cho sản xuất và đời sống, gây lãng
phí lao động xã hội và đương nhiên sẽ kìm hãm sự phát triển nền kinh tế; thực tế nước ta
trong những năm trước đây là một bài học sống động để chứng minh cho điều này. Do vậy
ở mỗi thời kỳ phát triển nhất định phải lựa chọn một cơ cấu kinh tế tương xứng lúc đó Nhà

thực hiện hạch toán và đang khẳng định sự tồn tại của mình trên thị trường dịch vụ; còn đối
với các cơ sở quốc doanh cần phải tiếp tục đổi mới hơn nữa để có thể gắn dịch vụ với thị
trường, chủ động mọi vấn đề có liên quan đến hoạt động dịch vụ đảm bảo kinh doanh phải có

Trích đoạn Những khĩ khăn NHữNG ĐịNH HƯớNG Và MụC TIÊU PHáT TRIểN KINH Tế DịCH Vụ CủA TỉNH Bà RịA – VũNG TàU Từ NAY ĐếN NĂM Ưu tiên phát triển các dịch vụ cho cơng nghiệp dầu khí Các giải pháp phát triển dịch vụ thủy sản Các giải pháp chủ yếu phát triển dịch vụ du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status