Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội ở an giang trong mùa nước nổi - Pdf 11

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nằm ở phần cuối của lãnh thổ Việt Nam thuộc khu vực hạ lưu sông
Cửu Long, với một địa bàn 13 tỉnh gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, có diện tích tự nhiên là 3.956.900 ha, dân số
trên 16 triệu người, chiếm 12% diện tích và 21% dân số cả nước, hàng năm
đóng góp trên 80% sản lượng gạo và 60% sản lượng thủy sản để xuất khẩu.
Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ được đánh giá là một vùng đất trù phú,
màu mỡ, nhiều tài nguyên, là vùng đồng bằng lớn nhất Việt Nam, được thiên
nhiên ưu ái dành cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, mà còn được
xem như là một vùng kinh tế có vị trí và vai trò chiến lược trong nền kinh tế
nước ta nhất là trong sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng trong đảm
bảo an ninh lương thực không chỉ cho quốc gia, mà còn cho xuất khẩu.
Tuy nhiên, đồng bằng sông Cửu Long cũng là vùng đất phải chịu nhiều
thiên tai lũ lụt có tính chu kỳ hàng năm theo kiểu 6 tháng mùa khô, 6 tháng
mùa nước. Chính lũ lụt là điều kiện ưu đãi của thiên nhiên giúp cho đồng
bằng sông Cửu Long thêm màu mỡ, trù phú thông qua tác dụng tháo chua, rửa
phèn, bồi đắp phù sa, tạo lợi thế riêng có về khai thác và nuôi trồng thủy
sản… Đồng thời cũng chính lũ lụt lại là nguyên nhân chính gây nhiều thiệt
hại về người và của, tàn phá cơ sở hạ tầng kỹ thuật…
Bên cạnh đó, do đặc thù về tự nhiên, đồng bằng sông Cửu Long có hệ
thống sông ngòi chằng chịt, vừa có tác dụng đưa nước vào đồng, phục vụ sinh
hoạt và lưu thông lại vừa có tác dụng thoát lũ nên không giống như vùng
đồng bằng sông Hồng là đắp đê chống lũ triệt để, vùng đồng bằng sông Cửu
Long phải chọn giải pháp là sống chung với lũ. Sống chung với lũ là một hiện
1
tượng tự nhiên, xã hội đã và đang được cư dân vùng đồng bằng sông Cửu
Long tiếp nhận trong suốt quá trình hình thành và phát triển của vùng đất này.
Từ chỗ sống chung với lũ một cách thụ động, con người ngày càng hiểu thêm
về lũ, nắm bắt được nhiều hơn những quy luật của lũ để dần hạn chế đến mức

Hiện nay, việc nghiên cứu về lũ ở châu thổ sông Cửu Long đã các
công trình sau:
GS.TS Nguyễn Ngọc Trân (Chủ biên): "Đồng bằng sông Cửu Long
tài nguyên - môi trường - phát triển", Ủy ban Khoa học Nhà nước (Chương
trình điều tra cơ bản tổng hợp vùng đồng bằng sông Cửu Long), Hà Nội -
Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng bằng sông Cửu Long, 1990. Đây là công
trình của Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước về điều tra, nghiên cứu, đánh
giá tài nguyên và điều kiện thiên nhiên của đồng bằng sông Cửu Long, từ đó
đưa ra những nhận định về tiềm năng nông nghiệp và những kiến nghị khoa
học về sử dụng và bảo vệ tài nguyên, cung cấp các tư liệu điều tra, nghiên cứu
khoa học làm luận cứ cho quy hoạch phát triển vùng đồng bằng sông Cửu
Long.
Nguyễn Công Bình (Chủ biên): "Đồng bằng sông Cửu Long nghiên
cứu phát triển", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995. Đây là những chuyên đề
khảo cứu về đồng bằng sông Cửu Long dưới góc độ các ngành khoa học về
lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, tự nhiên, môi trường, kỹ thuật, nông nghiệp.
PGS.TS Phương Ngọc Thạch: "Định hướng và một số giải pháp chuyển
dịch cơ cấu kinh tế vùng ngập lụt đồng bằng sông Cửu Long", Trung tâm
Nghiên cứu kinh tế miền Nam, 1998.
PGS.TS Phương Ngọc Thạch: "Những biện pháp thúc đẩy công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long",
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Tác giả đã phân tích đặc điểm và thực
3
trạng kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long, những nhân tố tác
động và mối quan hệ giữa đồng bằng sông Cửu Long với các tỉnh phía Nam
nhất là đối với Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một
số giải pháp nhằm đưa nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Cửu Long
phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
PGS.TS Đào Công Tiến (Chủ biên): "Kinh tế - xã hội và môi trường
vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

Cửu Long nói chung và trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở phát huy hiệu quả của các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ
cho việc chủ động chung sống và phát triển kinh tế - xã hội trong mùa nước
nổi; nghiên cứu những lợi thế của mùa nước nổi có thể khai thác để phục vụ
cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang; từ thực tiễn phát triển kinh
tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi, nêu lên được những vấn đề đã và
đang đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang và đề xuất
một số giải pháp cơ bản để giải quyết những vấn đề đó.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích được tác hại và lợi thế của mùa nước nổi đối với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trên cơ sở có tác động của các công
trình đã và đang xây dựng để chung sống trong mùa nước nổi.
- Phân tích, đánh giá những thành công bước đầu của quá trình phát
triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi; những tác động của
5
phát triển kinh tế - xã hội trong mùa nước nổi đối với phát triển kinh tế - xã
hội ở An Giang.
- Xác định được những vấn đề đã và đang đặt ra cũng như đề xuất
những giải pháp cơ bản để giải quyết những vấn đề đó.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề đã và đang đặt ra
cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang.
Phạm vi nghiên cứu là địa bàn tỉnh An Giang, tuy nhiên trong một
chừng mực nhất định, luận văn có đề cập đến những tác động chung của mùa
nước nổi đối với đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian nghiên cứu khi có chủ
trương chung sống với lũ từ năm 2000 đến nay. Trong quá trình nghiên cứu,
một số dữ liệu phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi chỉ
có từ 2002 đến nay do nguyên nhân khách quan là những chương trình đó
được triển khai trong thực tiễn từ 2002.

hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu, chảy ra biển theo 9 cửa là: cửa
Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu,
cửa Đình An, cửa Bát Xác và cửa Tranh Đề, nên đoạn sông Mêkông chảy vào
Việt Nam được gọi là sông Cửu Long và đồng bằng sông Cửu Long cũng
được gọi theo tên sông.
Là một vùng đất trù phú, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều lợi thế để
phát triển nhưng đồng bằng sông Cửu Long cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của
lũ lụt. Hàng năm, vào khoảng tháng 6 đến tháng 12, nước từ sông chính, theo
các nhánh phụ và hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt của sông Cửu
Long chảy vào đồng (người dân thường gọi là nước tràn đồng), gây ngập trên
một diện tích rộng khoảng 1,87 triệu ha. Phần diện tích ngập này (còn được
gọi chung là: vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long) nằm trong diện tích
của 9 tỉnh là: An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên
Giang, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long. An Giang là một trong ba tỉnh có
toàn bộ diện tích tự nhiên nằm trong vùng ngập lũ.
Vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long được chia thành 4 tiểu vùng
là: vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tây sông Hậu và
8
vùng giữa sông Tiền và sông Hậu. Vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng Tây
sông Hậu có địa hình thấp dần về phía vịnh Thái Lan, có dạng ngập lũ hở.
Vùng Đồng Tháp Mười được bao bọc bởi các vùng đất cao nên có dạng ngập
lũ kín. Vùng giữa sông Tiền và sông Hậu có những vùng đất cao ven dòng
sông, trũng ở giữa, có dạng ngập lũ lòng máng.
Mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long kéo dài khoảng 6 tháng,
là hiện tượng tự nhiên, có chu kỳ thường xuyên hàng năm, không xuất hiện bất
thình lình, đột ngột. Thường bắt đầu từ cuối tháng 6 và kết thúc vào tháng 12
hàng năm, lúc này cũng chính là mùa mưa ở châu thổ sông Cửu Long. Ta có thể
tạm chia mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu
mùa lũ là lúc nước bắt đầu tràn từ thượng nguồn về các vùng trũng thường tính

m
3
, còn lại thì tràn đồng và theo hệ thống kênh rạch đổ ra sông chính. "Trong
các trận lũ lớn, lượng nước lũ theo dòng chính chiếm khoảng 83,2 - 90,86%
và tràn đồng khoảng 9,14 - 16,8%. Nước lũ tràn đồng là tác nhân chính gây
ngập lụt cho vùng trũng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên" [47, tr.
25].
Có nhiều nguyên nhân làm tác động đến mùa lũ ở vùng ngập lũ đồng
bằng sông Cửu Long như: triều cường của thủy triều biển Đông, mùa mưa
hàng năm, lũ thượng nguồn, chế độ mưa nội đồng, sự điều tiết của Biển Hồ,
tác động khai phá thiên nhiên của con người Trong đó, tác nhân chính tạo
nên tính đặc trưng của mùa lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long là:
do địa hình đặc trưng của lưu vực sông Mêkông và lượng mưa hàng năm.
Khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng của Trung Quốc, đi qua các nước
Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia vào Việt Nam và chảy ra
biển Đông. Lưu vực sông MêKông có diện tích rộng (khoảng 795.000 km
2
),
kéo dài (khoảng 4.200 km), trên một địa hình phức tạp có nhiều đồi núi cao,
bị chia cắt bởi các thung lũng sông và thấp dần về phía hạ lưu. Lượng mưa
bình quân toàn lưu vực khoảng 1.600 mm (có nhiều nơi có lượng mưa cao
10
như: cao nguyên Boloven - Lào là 3.000 mm, Tây Trường Sơn là 2.000 -
3.000 mm), phân phối không đồng đều giữa các vùng đã tạo nên sự tập trung
và tích tụ nước không đồng đều giữa các vùng làm cho lượng nước đổ về hạ
lưu không ồ ạt nhưng kéo dài trong suốt mùa mưa. Kết hợp với lượng mưa tại
chỗ, hai nguyên nhân trên đã tạo nên tính đặc trưng của mùa lũ ở vùng ngập
lũ đồng bằng sông Cửu Long là tính chu kỳ, tốc độ chậm, tràn trên một diện
rộng, không đột ngột, nhanh, mạnh như lũ ở miền Trung và miền Bắc. Nói
một cách khác, đối với mùa lũ ở vùng châu thổ sông Cửu Long, con người có

sông Cửu Long". Đây là cách gọi đúng và đủ nhưng mang nặng tính bi quan,
thiên về những tác hại do lũ gây ra (lũ, lụt được ông cha ta từ xưa xếp vào
một trong những thiên tai nguy hiểm nhất), bao hàm những ý nghĩa tiêu cực
của những thiệt hại về tài sản, tính mạng không bao hàm được tính lạc quan
trong chung sống với lũ.
Vì thế, ta không thể dùng khái niệm lũ, lụt, hay lũ lụt để gọi chung
cho mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì:
Mùa nước nổi: Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long do nước
sông Tiền và Hậu tràn bờ, làm ngập cả châu thổ với các độ sâu khác
nhau và thời gian dài ngắn khác nhau khiến chỉ cấy được một vụ lúa
nổi nhưng có tác dụng rửa mặn, xổ phèn, cả châu thổ có nước ngọt
đưa vào một lượng phù sa đáng kể [70, tr. 1049].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì:
Mùa nước nổi: mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long. Mùa
nước nổi đưa về một khối lượng nước ngọt lớn, cùng với phù sa chi
12
phối toàn bộ hoạt động nông nghiệp, chế độ canh tác, các hệ thống
sản xuất ở châu thổ sông Cửu Long. Cảnh quan của châu thổ trong
mùa nước nổi có những nét đặc trưng, cũng là mùa khai thác các
loài thủy sản [25, tr. 959].
Như vậy, cách gọi mùa nước nổi là cách gọi vừa ngắn, diễn tả một
cách đầy đủ nhất những đặc trưng riêng có của lũ ở đồng bằng sông Cửu
Long vừa thể hiện tính lạc quan trong quá trình chung sống và chinh phục
vùng đất này của cư dân nơi dây.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng vùng đất Nam bộ
nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng không phân biệt thành
bốn mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt hay có nắng nóng, mưa dầm, gió bấc như
miền Bắc mà chỉ có hai mùa là mùa nắng và mùa mưa (tương ứng là mùa khô
và mùa nước). Dân gian đồng bằng sông Cửu Long thường dùng câu nói "sáu

lũ theo không gian.
Kiểm soát lũ là khái niệm rộng hơn, trong đó chủ yếu là làm
thay đổi hướng truyền lũ, thoát lũ (theo không gian), song cũng có phần
phân bố lại lũ theo thời gian (như sử dụng một số dung tích trống,
vùng trũng để làm chậm lũ, cắt lũ, trữ nước cuối mùa lũ [46, tr. 91].
Với cách hiểu như trên, điều tiết lũ là giải pháp phòng chống lũ theo
thời gian, có tác dụng làm chậm tốc độ gia tăng của lũ trên phạm vi cả khu
vực ngập; điều khiển lũ là giải pháp phòng chống lũ theo không gian, có thể
làm giảm lũ ở vùng này và gia tăng lũ ở vùng khác, tránh hướng lũ vào những
vùng có thể gây nhiều thiệt hại, đưa hướng lũ vào những vùng ít thiệt hại;
Kiểm soát lũ là giải pháp tổng hợp của hai giải pháp điều tiết lũ và điều khiển
14
lũ. Kiểm soát lũ là mục tiêu lâu dài không thể chỉ thực hiện trong phạm vi
vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long mà phải có một chiến lược cấp vĩ mô
liên quan đến các nước, nơi lưu vực sông đi qua, là cái đích cuối cùng mà các
nhà hoạch định chính sách đang hướng tới. Hiện tại, các công trình phòng
chống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long mà chúng ta đang xây dựng là hệ thống
những giải pháp nhằm từng bước kiểm soát lũ thông qua các kênh thoát lũ,
cống, đê bao kết hợp giao thông…
Với những đặc trưng riêng có của mình, mùa nước nổi có những tác
động nhất định đến phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ngập lũ đồng bằng sông
Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng.
1.2. LỢI THẾ CỦA MÙA NƯỚC NỔI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI
1.2.1. Mang một lượng phù sa lớn, màu mỡ bồi đắp cho đồng bằng
sông Cửu Long
Lưu lượng trung bình của sông Cửu Long là 10.700 m
3
/s, cao nhất vào
mùa nước nổi là 53.000 m

;
điểm số 22: 10851,0 g/m
2
; điểm số 23: 10734,4 g/m
2
; điểm số 19:
7696,4 g/m
2
; điểm có lượng thấp nhất là 1124,5 g/m
2
- điểm số 5,
lượng bồi tích trung bình: 7965,6 g/m
2
, như vậy có thể suy ra lượng
phù sa phủ lên đồng ruộng trên 1 ha khoảng 80 tấn/ha .
Thành phần hóa học của phù sa có ưu thế về "chất lượng"
hơn so với thành phần phần hóa học đất ở tầng 0 - 5 cm trước lũ
thể hiện rõ nét qua các chỉ tiêu pH, Ca
2+
, đạm dễ tiêu và lân tổng
số [21, tr. 7-8].
Lượng phù sa mới, có chất lượng cao hơn lớp đất mặt được bồi đắp
hàng năm do mùa nước nổi mang lại góp phần nâng dần độ cao cho vùng
trũng của đồng bằng (Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười) và là một
nhân tố chính làm cho đồng bằng sông Cửu Long luôn trù phú, làm tăng diện
tích canh tác, tăng năng suất và tiết kiệm chi phí sử dụng phân bón.
Bên cạnh tác dụng bồi đắp phù sa làm cho đồng bằng thêm màu mỡ,
nâng dần độ cao của các vùng trũng lưu lượng nước, độ dốc của dòng chảy
còn có tác dụng to lớn đối với vùng châu thổ là ngăn chặn mặn xâm nhập sâu
vào châu thổ sông Mêkông.

rất nhiều thức ăn và thuận lợi trong cư trú. Trong những tháng mùa nước, với
những điều kiện thuận lợi trên, cá sinh sản và sinh trưởng nhanh tạo nên một
trữ lượng cá tự nhiên nội đồng khá lớn. Khi nước rút, từ nội đồng, cá lại quay
về sông và người dân rất dễ dàng đánh bắt bằng những biện pháp đơn giản
như: làm đăng, đặt dớn, kéo lưới mang lại nguồn lợi khai thác tự nhiên to
lớn cho cư dân vùng ngập lũ.
Cũng trong mùa nước nổi, lượng cá bột tự nhiên từ thượng nguồn theo
nước đổ về đã góp phần hình thành những nghề như vớt cá bột, ươm cá giống,
nuôi cá Cư dân vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long đã sớm khai thác
ưu thế được thiên nhiên ưu đãi về lượng nước, dòng chảy, nguồn cá bột tự
nhiên để nuôi trồng các loài thủy sản có giá trị xuất khẩu cao. Tuy nhiên, từ
năm 1999 đến nay, khi ngành nghề nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh,
lượng con giống tự nhiên không đủ cung cấp và việc vớt cá bột ươm giống đã
bị cấm theo pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản nên đã hình thành và phát
triển nghề sinh sản con giống nhân tạo. Trong đó phát triển mạnh nhất là nuôi
cá da trơn, chủ yếu là cá tra, ba sa… đã và đang là những thương hiệu hàng
hóa có uy tín, và chiếm lĩnh được thị trường trong nước và trên thế giới.
Bên cạnh đó, mùa nước nổi còn đem lại cho vùng ngập lũ đồng bằng
sông Cửu Long một khối lượng nước ngọt lớn, trên một diện tích rộng hàng
trăm ngàn ha, trong thời gian tương đối dài, có độ ngập nông sâu khác nhau
tùy vùng đất, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác diện tích mặt nước
trên đồng cho nuôi nhiều loại thủy sản và trồng nhiều loại cây thủy sinh.
1.2.3. Tháo chua, rửa phèn, giảm dịch hại và độc chất trong đất
làm sạch đất tạo điều kiện thuận lợi cho khai hoang, làm tăng diện tích
đất nông nghiệp
Do tác động của các yếu tố thiên nhiên, đất đai vùng đồng bằng sông
Cửu Long có nhiều loại đất, khi nghiên cứu, các nhà khoa học thường phân
18
chia thành 7 nhóm đất chính là đất phù sa, đất phèn, đất mặn, đất phèn mặn,
đất phù sa cổ, đất than bùn, đất núi. Trong diện tích tự nhiên của vùng đồng

Bảng 1.2: Quá trình tháo chua, rửa phèn cho đất nhiễm phèn
trong mùa nước nổi
Thời điểm Đất phèn Nước
Đầu mùa khô (I-II) Bắt đầu ôxy hóa. Độ chua gia
tăng nhanh.
Ít đến không chua sau thời
gian dài ngâm lũ.
Giữa đến cuối mùa
khô (III-V)
Độ chua ngày càng gia tăng,
đạt cực điểm vào cuối mùa khô.
Độ chua tăng dần theo quá
trình tiêu nước vụ Đông xuân.
Đầu mùa mưa (VI) Rửa trôi các ion vào môi trường
nước. Độ chua vẫn cao vì
khoáng chất bắt đầu bị công phá.
Chua cực độ do dịch phèn đậm
đặc hòa tan trong nước.
Đầu mùa lũ (VII-VIII) Độ chua bắt đầu giảm. Độ chua vẫn còn cao.
Giữa mùa lũ (IX-X) Độ chua giảm mạnh đến thấp
nhất nhờ vào quá trình ngâm lũ.
Độ chua bắt đầu giảm do lượng
nước về nhiều và một phần
nước phèn đã được tải về hạ lưu.
Cuối mùa lũ (XI-XII) Đất ít chua. Nước ít chua nhất.
Nguồn: [46, tr. 132].
Bên cạnh tác động tháo chua, rửa phèn, mùa nước nổi còn giúp rửa
sạch những độc chất mà chủ yếu là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật còn tồn
đọng trên đồng ruộng trong quá trình sử dụng; thời gian ngập lâu cũng góp
phần đáng kể vào việc giảm thiểu hay tiêu diệt các loài sâu bệnh có nguy cơ

mang hàm lượng phù sa lớn gây khó khăn trong xử lý nước sinh hoạt nhất
21
là vùng nông thôn quen sử dụng nước sông là nước sinh hoạt chính; dòng
nước bị ô nhiễm với chất thải, chất vi sinh, các hóa chất khác từ các vùng
khác trên lưu vực chảy về; một số vùng, nước còn bị nhiễm phèn; tốn kém
nhiều chi phí trong xây dựng nhà vệ sinh tự hoại; xử lý rác thải sinh hoạt
Những nguy hiểm trên nếu không có biện pháp phòng chống thích hợp, có
thể sẽ là nơi phát sinh những "ổ dịch" lớn và nguy hiểm như: sốt xuất
huyết, dịch tả …
Ta có thể thấy tác hại của mùa nước nổi qua một số năm nước lớn (báo
chí thường gọi là lũ lớn) như: năm 1994 (tương ứng mực nước 453 cm, tại
trạm Tân Châu), làm cho 407 người chết, gây thiệt hại tài sản trị giá khoảng
2.284 tỷ đồng. Trận lũ năm 1996 (tương ứng mực nước 487 cm, tại trạm Tân
Châu), làm cho 217 người chết, gây thiệt hại tài sản trị giá khoảng 2.182 tỷ
đồng Trận lũ năm 2000 (tương ứng mực nước 506 cm, tại trạm Tân Châu),
làm cho 453 người chết, gây thiệt hại tài sản trị giá khoảng 4.000 tỷ đồng.
Trận lũ lịch sử năm 2000 là trận lũ lớn và gây thiệt hại nghiêm trọng
nhất trong hơn 70 năm qua. Tính đến 5/11/2000, thiệt hại do lũ gây ra ở đồng
bằng sông Cửu Long như sau:
Bảng 1.3: Thiệt hại trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2000
Thiệt hại Đơn vị tính Số lượng
1. Người chết/trẻ em Người 448/319
2. Số hộ bị ngập Hộ 865.166
3. Số trường/phòng học bị ngập Điểm /phòng 2.751/12.282
4. Số học sinh nghỉ học Học sinh 830.899
5. Trạm xá, bệnh viện bị ngập, hư hỏng Điểm 376
6. Đường giao thông bị ngập Km 11.010
7. Thiệt hại về thủy lợi
- Sạt lở bờ bao, kênh M
3

dạng được tính hai mặt, là đặc trưng riêng có của mùa lũ ở vùng ngập lũ
đồng bằng sông Cửu Long.
Từ thế kỷ thứ 19, Ph. Ăngghen cũng đã chỉ ra rằng, con người có thể
thống trị được giới tự nhiên không phải bằng cách chinh phục và đối đầu với
giới tự nhiên mà phải tìm, nắm bắt và nhận thức được những quy luật của giới
tự nhiên để phục vụ cho quá trình phát triển của loài người.
… Và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên
biểu hiện ở chỗ là chúng ta có ưu thế hơn tất cả các sinh vật khác,
nghĩa là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có
thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác.
Và trên thực tế, chúng ta học hỏi để hiểu được một cách
chính xác hơn những quy luật đó, và biết được những hậu quả gần
gũi cũng như xa xôi của những sự can thiệp tích cực của chúng
ta vào trong tiến trình bình thường của các sự vật trong giới tự
nhiên [1, tr. 269-270].
Các kết quả nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây cũng cho
thấy bên cạnh những tác hại, lũ ở đồng bằng sông Cửu Long cũng mang lại
nhiều lợi ích thiết thực mà nếu biết khai thác hợp lý vào quá trình phát triển
thì đó sẽ chính là những tặng phẩm quý giá mà thiên nhiên đã ban cho vùng
đất này. Vì thế, đối sách với lũ được chọn cho vùng ngập lũ đồng bằng sông
Cửu Long là "không chống lũ triệt để như đồng bằng Bắc bộ, không xa lánh
lũ, hãy chung sống hòa thuận với lũ một cách chủ động, ổn định và khai thác
những lợi thế của lũ mang lại để phát triển", đây chính là là con đường đúng
đắn và hiệu quả nhất cho vấn đề ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội ở
vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện có lũ hàng năm.
24
Đối sách này có những đặc trưng cơ bản là: phải nắm được quy luật
hoạt động tự nhiên của lũ để có được những dự báo lũ kịp thời và thích hợp;
chủ động nghiên cứu để có đánh giá cơ bản về những diễn biến bất thường
của lũ dưới tác động khai phá thiên nhiên của con người; phải có những giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status