Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại pot - Pdf 11

Các hình thức Huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Tóm tắt: Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương
mại
Tác giả: Lê Anh Tú
Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội để hoạt động là lẽ sống
quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại. Đặc biệt là các ngân hàng có
quy mô lớn. Trong vòng ba thập niên từ sau cuộc đại suy thoái 1930, hầu hết
các Ngân hàng thương mại trên thế giới đều quan tâm nhiều nhất tới việc quản
lý tài sản có, hay nói khác đi là kế hoạch và phương hướng đầu tư các nguồn đã
có. Tuy nhiên, từ thập niên 60 đến nay, khi chế độ lãi suất trả cho tiền gửi được
thả nổi linh hoạt, tài sản nợ trở nên đa dạng và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các
Ngân hàng thương mại với nhau trong việc tìm kiếm vốn hoạt động đã dần dần
hướng các ngân hàng chú ý đến sự giao động của tài sản nợ. Vả lại từ thập niên
60 trở đi thì với sự phát triển nhanh của các thị trường tài chính liên quốc gia,
đã có rất nhiều loại tài sản có lợi tức ổn định và thanh khoản cao được mở ra
trước mắt các ngân hàng ở các nước phát triển. Cho nên, vấn đề khó khăn không
còn là đầu tư vào đâu mà là làm thế nào có đủ vốn cho đầu tư giữa môi trường
cạnh tranh đầy kịch tính trong hệ thống ngân hàng thế giới.
1. Các hình thức huy động tiền gửi của Ngân hàng Thương mại.
Đây là hình thức huy động vốn mà ngân hàng huy động được từ các tổ
chức kinh tế, các nhân, trong xã hội thông qua hoạt động nhận tiền gửi tiết
kiệm, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh
doanh khác.
Các hình thức nhận tiền gửi của các Ngân hàng Thương mại tuỳ thuộc
vào các tiêu thức khác nhau mà được chia thành từng loại khác nhau:
1.1. Phân loại theo tiêu thức kỳ hạn.
Ngày nay, người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức
này để có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi, và là cơ sở để ngân hàng xây
dựng chiến lược dự trữ phù hợp.
Edit by: Đỗ Hoàng Cường Trang 1
Các hình thức Huy động vốn của Ngân hàng thương mại

Các hình thức Huy động vốn của Ngân hàng thương mại
tiền bán hàng, Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế
được ngân hàng tập trung lại. Các cá nhân và tổ chức thường gửi tiền với
mục đích và kỳ hạn khác nhau. Cá nhân gửi tiền thường với mục đích là để
hưởng lãi, các doanh nghiệp thường là để sử dụng các dịch vụ của ngân
hàng.
- Tín dụng tạo tiền gửi: Đây cũng là một hình thức nhận tiền gửi, khi ngân
hàng cho khách hàng vay tiền thì ngân hàng chuyển số tiền này vào tài
khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong ngân hàng. Khi khách hàng chưa
có nhu cầu rút tiền ngay lập tức thì ngân hàng có thể sử dụng số tiền đó mặc
dù với thời hạn rất ngắn.
1.3. Phân loại theo tiêu thức mục đích sử dụng.
- Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của các cá nhân với mục
đích là tìm kiếm một khoản thu nhập. Thường thì mỗi khoản tiền gửi tiết
kiệm có khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn. Những người gửi tiền tiết kiệm là
những đối tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với hy vọng là sẽ tăng được chi
tiêu trong tương lai.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước phát
triển, thường được sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình.
Người gửi để dành một khoản tiền gửi vào ngân hàng (thường là các khoản
tiết kiệm đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất
định. Đây là hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính
ổn định, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân mua
sắm nhà cửa, phương tiện.
- Tiền gửi thanh toán: Là khoản ký gửi của các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Họ gửi tiền mục đích không phải là để hưởng
thu nhập mà là hưởng các dịch vụ của ngân hàng. Thông thường các khoản
tiền gửi thanh toán có khối lượng lớn. Do đó, khi các khoản tiền này tạm thời
chưa sử dụng thì ngân hàng có thể sử dụng vào kinh doanh.
Edit by: Đỗ Hoàng Cường Trang 3

Các hình thức Huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Tuy nhiên, khả năng vay vốn từ thị trường thông qua việc phát hành
chứng thư tiền gửi hay tín phiếu tuỳ thuộc vào 4 yếu tố: Mức độ chấp nhận của
nhân dân đối với nó như một phương tiện thanh toán trong lưu thông- Sự
khuyến khích hay không của Ngân hàng Trung ương- Hiệu quả của việc sử
dụng đồng vốn đã vay được- Sự phát triển của thị trường tài chính, tiền tệ.
2.1. Vay ngắn hạn tại Ngân hàng Trung ương.
Trong quá trình hoạt động của mình, do có những ngày cho vay quá
nhiều, sự thiếu hụt dự trữ tại Ngân hàng Trung ương là điều thường xảy ra đối
với các ngân hàng thương mại. Trong khi có một số ngân hàng thương mại thiếu
dự trữ, thì nó cũng có một vài bộ phận khác thừa dự trữ. Để đảm bảo dự trữ theo
quy định của Ngân hàng Trung ương, các ngân hàng thương mại điện thoại hoặc
liên lạc bằng Computer vay lẫn nhau dự trữ trong một ngày là chuyện bình
thường. Thủ tục vay được tiến hành qua Fax hoặc điện tín.
Việc vay qua vay lại như thế diễn ra hàng ngày trong hệ thống ngân hàng
thương mại. Nó hình thành nên một loại tài sản nợ khá thường xuyên. Tuy
nhiên, khoản nợ này thường rất ngắn không quá một tuần, và thường là chỉ một
hay hai ngày vì mọi ngân hàng đều tự ý thức không thể lạm dụng kéo dài thời
gian gây khó khăn cho ngân hàng có thiện chí giúp mình.
2.2. Vay ngắn hạn thông qua hợp đồng mua lại.
Hợp đồng mua lại là hình thức vay ngắn hạn trên thị trường của ngân
hàng thương mại. Trong hoạt động mỗi ngày, việc thiếu tiền mặt bất ngờ cho
những thượng vụ đầu tư đã được ký kết hoặc hụt dự trữ tại Ngân hàng Trung
ương là chuyện không có gì lạ đối với các ngân hàng thương mại. Ngoài những
biện pháp nêu trên, trong những trường hợp cấp thiết, ngân hàng thương mại có
thể vay của thị trường trong vài ngày đến vài tuần bằng cách phát hành hợp
đồng mua lại.
Đây là một hợp đồng bán chứng khoán giữa ngân hàng và đối tượng kinh
doanh chứng khoán tương đối thừa tiền mặt trong thị trường như các công ty tài
Edit by: Đỗ Hoàng Cường Trang 5

Edit by: Đỗ Hoàng Cường Trang 6
Các hình thức Huy động vốn của Ngân hàng thương mại
- Chi phí giao dịch mà ngân hàng sẽ trả cho đại lý chính là tiền lãi từ thương
vụ cho vay này đứng về phía người mua là các đại lý. Thông thường giá
bán và giá mua lại(gồm cả lãi) đã được thống nhất sắn trong hợp đồng với
những khoảng thời gian đã định trược. ở các nước có thị trường tài chính
phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Anh, ý, Các ngân hàng
thương mại vay nợ dưới hình thức này gần như mỗi tuần trong tài sản nợ
của họ luôn luôn có khoản mục vay ngắn hạn thông qua hợp đồng mua lại,
nằm trong khoản vay ngắn hạn từ thị trường.
2.3. Vay ngắn hạn bằng giấy nợ phụ
Đây là khoản mục cuối cùng trong các khoản vay từ thị trường và cũng là
loại tài sản ít thông dụng nhất. Ngân hàng có thể vay nóng, với lãi suất khá cao
và thời gian từ ngắn đến rất ngắn, mỗi khi quá kẹt tiền mặt bằng những thoả
thuận với các thân chủ giàu có vẫn quan hệ thường xuyên với ngân hàng như
các công ty, các tập đoàn kinh doanh, các đại lý tài chính khác, Hình thức vay
này được thực hiện thông qua một hợp đồng trong đó thuyết minh rõ người cho
vay chấp nhận rõ khoản tiền mà họ cho vay sẽ là loại tài sản nợ được đền bù sau
chót trong trường hợp ngân hàng vỡ nợ. Vì sao có thoả thuận này! vì họ đã được
lãi suất cao hơn bất kỳ một khoản vay nào khác.
Chứng thư mà ngân hàng giao cho họ khi vay là một loại giấy nợ của
ngân hàng (Bank debentures). ở Hoa Kỳ, nó có một tên gọi rộng là giấy nợ
phụ (subordinated debentures). Những khoản vay này khá phổ biến ở Mỹ, và
một thời kỳ ở Nhật và Hàn Quốc.
2.4. Vay của Ngân hàng Trung Ương
Các ngân hàng thương mại hầu như đều được sự cho phép thành lập của
Ngân hàng Trung ương, cho nên nó đều được quyền vay tiền tại Ngân hàng
Trung ương trong những tình huống thiếu hụt dự trữ.
Trường hợp không may diễn ra khi ngân hàng thương mại đến vay giữa
lúc Ngân hàng Trung ương không muốn khuyến khích sự bàng trướng tín dụng,

huy động khác.
Edit by: Đỗ Hoàng Cường Trang 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status