Chính sách lãi suất huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam - Pdf 64

Chính sách lãi suất huy động vốn của Ngân hàng thương mại
cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam.
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng.
Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt
Nam (dưới đây sẽ được gọi là Ngân hàng) được thành lập theo Giấy phép hoạt
động số 0042/NH-GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày
12 tháng 8 năm 1993 với thời gian hoạt động 99 năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt
động từ ngày 04 tháng 9 năm 1993 theo Giấy phép thành lập số 1553/QĐ-UB
ngày 04 tháng 9 năm 1993. Là một ngân hàng thương mại cổ phần, được thực
hiện các hoạt động của ngân hàng thương mại và các hoạt động kinh doanh
khác có liên quan theo quy định của pháp luật vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần
thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt
Nam có tên viết tắt bắng tiếng Việt là: Ngân hàng Ngoài quốc doanh; có tên
đầy đủ bằng tiếng Anh là: Vietnam Commercial Joint-Stock Bank for Private
Enterprises; tên viết tắt bằng tiếng Anh là: VPBank.
Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập của Ngân hàng là 20 tỷ VNĐ. Sau
đó đáp ứng nhu cầu phát triển, Ngân hàng đã tiếp tục tăng số vốn điều lệ lên 70
tỷ VNĐ theo quyết định số 193/QĐ-NH5 ngày 12/9/1994 và tiếp tục tăng lên
174,9 tỷ VNĐ theo quyết định số 53/QĐ-NH5 vào ngày 18/3/1996 của Ngân
hàng Nhà nước. Đến cuối năm 2004, Ngân hàng nhận được quyết định số
689/NHNN-HAN7 của Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho Ngân hàng được
nâng vốn điều lệ lên 198,4 tỷ VNĐ. Hiện tại sổ Cổ đông của Ngân hàng là 124
pháp nhân và thể nhân thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó
có một cổ đông người nước ngoài tên là Dragon Capital nắm giữ 10,9 % vốn
điều lệ.
Từ khi bắt đầu hoạt động cho đến nay, Ngân hàng đã trải qua không ít
những khó khăn thử thách, mỗi lần vượt qua những khó khăn đó Ngân hàng đã
tự hoàn thiện mình, luôn chú ý đến việc mở rộng quy mô, tăng cường mạng
lưới hoạt động tại các thành phố lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh. Cuối năm

triển kinh tế xã hội đất nước.
Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng:
2.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng.
Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt
Nam hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng dựa trên
cơ sở thực hiện các nghiệp vụ: Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn của
các tổ chức và cá nhân; Huy động gửi góp; Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và
phát triển của các tổ chức trong nước; Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước và các
tổ chức tín dụng khác; Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đối với các tổ chức
Đại hội cổ đông
Ban Kiểm soát
Hội đồng tín dụng Hội đồng quản trị
P.KTKT nội bộCác Ban tín dụng
Ban Điều hành
Hội sở Hà Nội
Chi nhánh HCM
Chi nhánh Hải Phòng
Chi nhánh Đà Nẵng
Chi nhánh cấp II và các
Phòng Giao dịch
và cá nhân; Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá; Hùn vốn liên
doanh, mua cổ phần theo pháp luật hiện hành; làm dịch vụ thanh toán giữa các
khách hàng; Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, huy động các
nguồn vốn từ nước ngoài và làm các dịch vụ thanh toán quốc tế khác; Thực
hiện các dịch vụ chuyển tiền trong nước và quốc tế dưới nhiều hình thức, đặc
biệt chuyển tiền nhanh Western Union.
Hoạt động huy động vốn được Ngân hàng đặc biệt quan tâm trong những
năm gần đây với mục tiêu bảo đảm nguồn vốn để cho vay, an tòan thanh khoản
và tăng nhanh tài sản từ đó nâng cao vị thế của mình trong hệ thống ngân hàng
thương mại của cả nước. Khu vực dân cư được Ngân hàng tăng cường khai thác

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản đem lại nguồn
thu lớn cho Ngân hàng. Trong những năm qua, các chiến lược về quan hệ khách
hàng và tiếp thị khách hàng luôn được chú ý và đấy mạnh; nguồn nhân sự cho
các bộ phận phục vụ khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp luôn
được tăng cường bổ sung, được đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ. Ngân
hàng luôn chú ý đến xây dựng một hệ thống các tiêu chí, quy trình phù hợp chặt
chẽ trong công tác thẩm định tín dụng, giúp Ngân hàng hạn chế rủi ro tín dụng
và tạo điều kiện cho khách hàng của mình có điều kiện thuận lợi hơn khi tiếp
xúc với nguồn vốn của Ngân hàng.
Doanh số cho vay toàn hệ thống năm 2003 đạt 1.525 tỷ đồng, tăng 38,2%
so với thực hiện năm 2002;
Doanh số cho vay toàn hệ thống năm 2004 đạt 2.155 tỷ đồng, tăng 23% so
với thực hiện năm 2003;
Đặc biệt, Ngân hàng đã rất chú trọng và tập trung tiếp thị đến các đối
tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân, khách
hàng thuộc tầng lớp trung lưu, nhờ vậy mà số khách hàng đến vay vốn tại đây
đã tăng lên rất nhiều so với các năm trước. Như vậy, đã chứng tỏ chiến lược đi
tới là một trong những ngân hàng bán lẻ hàng đầu đã được triển khai và bước
đầu có hiệu quả.
Những năm trước đây, Ngân hàng có một “thể trạng” yếu ớt với những tồn
đọng quá lớn. Nợ quá hạn cuối năm 2000 là 335 tỷ đồng , trong đó nợ quá hạn
khó đòi là trên 90%, ở tình trạng đóng băng; nợ quá hạn L/C trả chậm trên 36
triệu USD. Chính vì vậy công tác thu hồi nợ quá hạn được chỉ đạo rất sát sao
trên tòan hệ thống theo chiều sâu. Sự nỗ lực của Ngân hàng đã mang lại kết quả
đáng mừng, tỷ lệ nợ quá hạn giảm dần đã mang lại cho Ngân hàng một niềm tin
mới để vững bước tiến tới tương lai.
Điều này thể hiện ở bảng sau:
(Đơn vị: triệu VNĐ)
Năm 2002 2003 2004
Tổng dư nợ 1.103.426 1.525.212 1.900.452

gia trên toàn thế giới, và hơn 1.300 điểm đại lý chi trả trên toàn nước Việt Nam.
Điều này tạo điều kiện cho khách hàng có thể nhận chuyển tiền tại bất kỳ điểm
nào gần nơi ở của mình nhất.
2.1.3. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng.
2.1.3.1. Tình hình huy động tiền gửi.
Hoạt động thường xuyên và chủ yếu của Ngân hàng là huy động lượng tiền
nhàn rỗi trong dân cư và sử dụng nguồn này để cho vay. Để đạt được tốc độ
tăng trưởng nguồn vốn như những năm vừa qua ( như ta thấy trong bảng 1),
Ngân hàng đã phải luôn phối hợp hài hòa những yếu tố tích cực như hình thức
huy động vốn đa dạng, hấp dẫn; lãi suất tiền gửi phù hợp cho từng đối tượng
khách hàng; đẩy mạnh triển khai áp dụng công nghệ tin học hiện đại vào công
tác thanh toán; phong cách giao tiếp văn minh lịch sự, tận tình chu đáo với
khách hàng; có đội ngũ cán bộ thường xuyên được đào tạo nâng cao nghiệp vụ
chuyên môn, ý thức trách nhiệm để có thể tư vấn cho khách hàng lựa chọn hình
thức gửi tiền phù hợp... Trong năm 2004 vừa qua, Ngân hàng đã thực hiện liên
tiếp 3 đợt khuyến mãi huy động bốc thăm trúng thưởng, tổ chức cuộc hội nghị
khách hàng, tổ chức bốc thăm trúng thưởng, khuyễn mãi tặng quà cho khách
hàng,...được người gửi tiền hưởng ứng rất nhiệt tình. Bên cạnh đó, Ngân hàng
đa dạng hóa các hình thức tiền gửi như tiết kiệm “An sinh”, tiết kiệm dự
thưởng; đa dạng hóa các các mức lãi suất theo kỳ hạn quy mô khoản tiền gửi;
đa dạng hóa các cách thức trả lãi như trả lãi trước han, trả lãi khi đến hạn, trả lãi
hàng tháng, trả lãi theo kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng,...Đặc biệt trong dịp cuối năm
2004, Ngân hàng đã đưa ra hình thức huy động mới: “Tiết kiệm VND được bù
đắp trượt giá USD, sản phẩm này đã đáp ứng được tâm lý khách hàng e ngại sự
mất giá của đồng VND so với USD nhưng lại muốn hưởng lãi cao của tiền
VND.
Mặt khác, trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam phát triển tạo điểu
kiện nâng cao đời sống của dân cư, không những tiêu dùng của họ được mở
rộng mà tiết kiệm cũng được tăng lên. Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh
tế cũng tạo ra môi trường cho các doanh nghiệp mới thành lập và hoạt động

Tiền gửi thanh toán chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nguồn tiền gửi của
ngân hàng, (khoảng 16%). Phần lớn trong cơ cấu tiền gửi là tiền gửi tiết kiệm
có kì hạn và không có kì hạn của dân cư. Tốc độ tăng tỷ trọng tiền gửi thanh
toán chậm hơn so với tốc độ tăng tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm. Nguồn tiền gửi tiết
kiệm tuy có tính ổn định cao hơn, nhưng chi phí cho việc chi trả lãi suất để huy
động nguồn lại cao; còn tiền gửi thanh toán là nguồn có chi phí rẻ hơn vì ngân
hàng phải trả lãi thấp hơn. Tỷ trọng nguồn vốn như hiện nay khiến chi phí trả
lãi của Ngân hàng phải lớn. Nguồn phí thu từ kinh doanh dịch vụ thanh toán
cũng thấp ảnh hưởng đến lợi nhuận cộng với chi phí cao để trả lãi huy động sẽ
khiến Ngân hàng phải cắt giảm các nguồn chi phí khác như chi quản lý, lương
nhân viên, ... để đảm bảo hoạt động kinh doanh của mình. Lý do tỷ trọng tiền
gửi thanh toán nhỏ như hiện nay là bởi khách hàng của Ngân hàng ít những
doanh nghiệp lớn hay những công ty gửi tiền để thực hiện thanh toán qua ngân
hàng.
Nhìn chung trong năm vừa qua, tình hình huy động vốn từ dân cư không
chỉ của Ngân hàng mà cả các NHTM khác trong toàn hệ thống nước ta đều có
xu hướng tăng chậm. Nguyên nhân là vì trong quá trình chuyển động của nền
kinh tế theo xu hướng hội nhập, người dân ngày càng có nhiều sự lựa chọn chủ
động và linh hoạt các kênh đầu tư khác chứ không phải hầu như là gửi vào
ngân hàng. Đây là một thách thức lớn đối với hệ thống ngân hàng. Vì vậy muốn
mở rộng thị phần thu hút người dân gửi tiền thì Ngân hàng cần phải cạnh tranh
trên mọi mặt, nâng cao uy tín về huy động vốn trong dân.
2.1.3.2. Tình hình huy động từ nguồn khác.
Kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng được Ngân hàng rất chú trọng.
Trong năm qua, Ngân hàng tiếp tục duy trì mối quan hệ tốt với các ngân hàng
thương mại khác đặc biệt là các ngân hàng quốc doanh lớn như Ngân hàng
Công Thương, Ngân hàng Ngoại Thương, Ngân hàng Đầu Tư,... để khai thác
các nguồn vốn nhàn rỗi từ các ngân hàng này. Tổng số huy động trên thị trường
đạt kết quả vượt bậc, đạt được hơn 2000 tỷ đồng, vượt kế hoạch và tăng 112%
so với thực hiện năm 2003. Nguồn huy động trên thị trường liên ngân hàng chủ

Tài sản nợ khác bao gồm tiền ký quĩ, giữ hộ, chờ thanh toán,...và các
khoản phải trả khác chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng cũng góp
phần hỗ trợ vốn kinh doanh cho Ngân hàng trong thời gian mà ngân hàng có thể
tận dụng nguồn này.
Hoạt động huy động vốn từ phát hành trái phiếu, kỳ phiếu với các kỳ hạn
còn hạn chế, Ngân hàng chưa phát huy được phương thức huy động này.
2.2. Chính sách lãi suất huy động vốn của Ngân hàng.
2.2.1. Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN chi phối cơ chế quản lý lãi suất nói
chung và lãi suất huy động của các NHTM và của Ngân hàng cổ phần các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam.
Quyết định 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/05/2002 của Thống đốc NHNN
VN viết đã xóa bỏ cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, chuyển sang cơ chế lãi suất
thỏa thuận, mà theo đó, việc kiểm soát lãi suất thị trường bằng công cụ hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status