Hoàn thiện chính sách lãi suất huy động vốn ở Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam - Pdf 64

Hoàn thiện chính sách lãi suất huy động vốn ở Ngân hàng
thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt
Nam.
3.1. Mục tiêu phát triển của Ngân hàng trong những năm tới:
Trong những năm tới, Ngân hàng đề ra những mục tiêu chiến lược cơ bản
để phấn đâu như sau: Phấn đấu trở thành ngân hàng thương mại cổ phần hàng
đầu khu vực phia bắc trên cơ sở định hướng mục tiêu là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ và dân cư; trở thành một ngân hàng có công nghệ hiện đại, tiên tiến, hội
nhập tốt vào khu vực và thế giới trong quá trình Việt Nam hội nhập vào nền
kinh tế thế giới. Trên cơ sở đó, nâng cao thương hiệu, hình ảnh của Ngân hàng,
thu hút sự chú ý và sự tin cậy của khách hàng trong và ngoài nước.
Về công tác huy động vốn, Ngân hàng đặt ra mức phấn đấu mỗi năm tăng
trưởng khoảng 35% so với năm trước, chú trọng mở rộng các biện pháp tăng
cường huy động vốn để nâng cao quy mô, chất lượng nguồn vốn, góp phần đẩy
nhanh tăng trưởng tín dụng và nâng cao uy tín cho Ngân hàng.
3.2. Các giải pháp.
Một chính sách lãi suất huy động tốt của ngân hàng là chính sách hướng
đến các giải pháp nhằm làm hạ thấp lãi suất đầu vào, tiết kiệm chi phí cho ngân
hàng, không gây áp lực cho việc tăng lãi suất đầu ra, nhưng đồng thời vấn phải
đảm bảo mở rộng được quy mô vốn huy động, từ đó nâng cao được khả năng
cạnh tranh của ngân hàng, đưa ngân hàng phát triển mạnh mẽ hơn. Xây dựng
được một chính sách lãi suất huy động vốn hoàn thiện hiện nay là yếu tố cơ bản
trong việc duy trì và mở rộng tiền gửi.
Tùy thuộc vào mục tiêu trong ngắn hạn và mục tiêu trong dài hạn về hoạt
động huy động vốn, ta có các giải pháp trong ngắn hạn và dài hạn để hoàn thiện
chính sách lãi suất huy động vốn như sau.
3.2.1. Các giải pháp trong ngắn hạn.
Ngày nay, cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các NHTM trong huy động
vốn mà còn cạnh tranh với các tổ chức tiết kiệm, công ty tài chính, quỹ tín dụng
nhân dân,... Với quy mô cạnh tranh này, chính sách lãi suất huy động vốn đưa ra
có thể làm gia tăng nguồn vốn nhưng cũng có thể tiền gửi sẽ tự rò rỉ bằng cách

của Ngân hàng để giảm bớt áp lực tăng lãi suất huy động vốn.
Phải duy trì mối tương quan giữa lãi suất đầu vào và chỉ số lạm phát. Do
có sự tăng chỉ số giá tiêu dùng trong thời gian qu, Ngân hàng cần phải đảm bảo
mức lãi suất huy động sao cho lãi suất được hưởng của người gửi tiền thực
dương. Có như vậy, người gửi tiền vào ngân hàng mới yên tâm và tin tưởng gửi
các khoản tiền nhàn rỗi của mình vào ngân hàng.
Điều chỉnh mức lãi suất tại các kỳ hạn: Do cơ cấu kỳ hạn các khoản tiền
gửi còn chưa phong phú đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, trong thời
gian tới Ngân hàng cần nghiên cứu đưa ra các kỳ hạn mới, với các mức lãi suất
chia nhỏ hơn, để bảng biểu lãi suất có sự hấp dẫn về tính đa dạng cho khách
hàng nhiều sự lựa chọn. Đối với mức lãi suất VNĐ tại các kỳ hạn 1 tháng và 2
tháng ngân hàng có thể giảm xuống một chút ít để góp phần tiết kiệm chi phí trả
lãi cho các khoản tiền gửi, và có thể khuyến khích khách hàng bằng cách tăng
lãi suất cho kỳ hạn gửi thực tế, nếu khách hàng gửi với kỳ hạn gửi thực trên 3
tháng sẽ được hưởng mức lãi của kỳ hạn 3 tháng. Mục đích của việc tính như
vậy là do: mức lãi suất hiện tại ở ngân hàng của 2 kỳ hạn này đang ở mức không
chênh lệch so với kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng là mấy. Mà như ta thấy, trong thực
tế, khách hàng khi đến ngân hàng để gửi với kỳ hạn này thường đã có mục đích
tiêu dùng sẵn có của mình, nên lãi suất thấp hơn một chút thì họ vẫn có nhu cầu
gửi. Mặt khác đồng thời, ngân hàng cũng phải tạo ra tiện ích và sự thuận lợi cho
khách hàng để họ đạt được sự hài lòng trong việc sử dụng vốn vào mục đích
của mình. Lãi suất tiền gửi USD của ngân hàng tại các kỳ hạn là thấp hơn so với
mặt bằng lãi suất trên thị trường hiện nay từ 0,2 đến 0,5% do vậy, để thu hút
thêm nguồn tiền này, ngân hàng cần tăng lãi suất của tiền gửi tiết kiệm USD lên.
Từng bước thay đổi cơ cấu nguồn tiền gửi huy động để tăng thêm hiệu
quả cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Tình hình nguồn tiền gửi trong
thanh toán của ngân hàng chiếm tỷ trọng rất thấp so với tổng nguồn vốn huy
động. Vì vậy, ngân hàng có thể tăng lãi suất của nguồn không kỳ hạn lên một
chút, đây sẽ là động lực kích thích người gửi tiền vào ngân hàng với mục đích
thanh toán. Đồng thời kết hợp với tăng cường nâng cao chất lượng dịch vụ

thỏa thuận mức giá mà mình được hưởng.
Đối với chỉ tiêu quản lý lãi suất, ngân hàng có thể tham khảo phương pháp
tính lãi suất huy động biên đã được trình bày ở phần lý thuyết (Phần 1.2.4.3).
Đối với phương pháp tính lãi suất huy động bình quân như ngân hàng thực hiện
đôi khi ngân hàng bỏ lỡ cơ hội kinh doanh tốt của mình. Ví dụ như, khi lãi suất
trên thị trường có xu hướng giảm đáng kể, chi phí huy động biên đối với nguồn
vốn mới này giảm đáng kể,có thể xuống dưới mức chi phí nguồn vốn bình quân
của ngân hàng. Một khoản tín dụng và đầu tư có thể bị xem là không sinh lời
khi đánh giá theo chi phí nguồn vốn trung bình, nhưng lại có thể sinh lợi khi
đánh giá theo chi phí lãi cận biên vì ngân hàng đang huy động bới lãi suất thấp
hơn để thực hiện các khoản đầu tư, tín dụng này. Mặt khác, với cách đánh giá
này, Ngân hàng đã bỏ qua một bộ phận trong nguồn vốn huy động không mang
lại thu nhập cho ngân hàng, đó là phần dự trữ bắt buộc, từ đó chi phí huy động
bao hàm cả chi phí khác liên quan đến huy động. Nên chi phí này thiếu độ tin
cậy nếu Ngân hàng sử dụng làm cơ sở để quyết định huy động theo loại nào khi
lãi suất có sự biến động lớn. Nhưng điều cần thiết để thực hiện theo phương
pháp này là ngân hàng phải đánh giá được chi phí huy động biên của mỗi nguồn
vốn mới, rất phức tạp, đòi hỏi ngân hàng có kỹ thuật cao để đánh giá được chính
xác và cụ thể. Để tính toán chi phí huy động vốn của mình một các chính xác,
biết được chi phí huy động thực của ngân hàng là bao nhiêu và thu nhập thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status