Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Tiếng Việt
ODA Viện trợ phát triển chính thức
ODF Tài chính phát triển chính thức
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
UNDP Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc
DAC Uỷ ban Viện trợ Phát triển
NGOs Các tổ chức Phi Chính phủ
WB Ngân hàng Thế giới
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
AfDB Ngân hàng Phát triển Châu Phi
IBRC Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế
JBIC Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản
NIB Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
UNCDF Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên hợp quốc
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
IFAD Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế
KFAED Quỹ phát triển kinh tế Ảrập của Côoet
NDF Quỹ Phát triển Bắc Âu
OFID Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
UNODC Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc
2 Bảng 2.2 Cơ cấu giải ngân vốn ODA thời kỳ 2001 - 2005 44
3 Bảng 2.3
Cơ cấu sử dụng vốn ODA theo ngành, lĩnh vực thời
kỳ 1993 - 2007
46
4 Bảng 2.4
Cơ cấu sử dụng vốn ODA theo vùng lãnh thổ thời
kỳ 1993 - 2007
48
5 Bảng 3.1
Cơ cấu vốn ODA cho các ngành, lĩnh vực thời kỳ
2001 - 2007
69
6 Bảng 3.2
Cơ cấu vốn ODA cho các ngành, lĩnh vực cho đến
năm 2015
70
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Hình số Tên hình Trang
1 Hình 1.1 Chu trình quản lý dự án ODA 20
2 Hình 2.1
Giá trị vốn ODA cam kết tài trợ cho Việt Nam giai
đoạn 2001 - 2007
40
3 Hình 2.2 Các khâu trong chu trình ODA 49
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
MỞ ĐẦU
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý các dự án
ODA tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ
sau đây:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về nguồn vốn ODA và vấn đề quản lý
dự án ODA.
- Đánh giá công tác quản lý dự án ODA tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên
cơ sở phân tích thực trạng, từ đó chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của những
tồn tại đó.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý các dự án ODA.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động quản lý các dự án
ODA.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề chỉ nghiên cứu trong phạm vi sau:
- Về không gian: Chỉ nghiên cứu các dự án ODA do Bộ Kế hoạch và Đầu
tư quản lý thực hiện.
- Về thời gian: Từ năm 2001 đến nay.
- Về giác độ nghiên cứu: Nghiên cứu trên giác độ vi mô những vấn đề
quản lý dự án ODA.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
4. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề được chia làm 3
chương:
nước Tây Âu phục hồi kinh tế, vừa để chi phối, kiểm soát các nước này và ngăn
chặn việc mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô. Trong thời kỳ từ năm 1947 đến
1951 Mỹ đã rót khoảng 2,5% tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của mình vào công
cuộc tái thiết Tây Âu. Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước
châu Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế và thành lập Tổ chức Hợp
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
tác kinh tế châu Âu, về sau trở thành Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD).
Được thúc đẩy bởi những tính toán lợi ích về mặt kinh tế và chính trị, Mỹ
tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình thông qua việc tăng cường viện trợ ODA
cho các nước đang phát triển, những quốc gia ở Thế giới thứ ba trong thập niên
1950. Đồng thời, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRC), tiền thân
của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng bắt đầu chuyển trọng tâm từ công cuộc tái
thiết châu Âu sang quá trình phát triển ở Thế giới thứ ba. Các tổ chức chuyên
biệt của Liên hợp quốc, ví dụ như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO),
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng lớn mạnh cả về số lượng và quy mô trong
các thập niên 1950 và 1960.
Cùng với sự hình thành đông đảo các tổ chức đa phương là sự ra đời của
rất nhiều tổ chức viện trợ tại các nước phát triển Tây Âu cũng như ở các nơi
khác. Trong vòng 20 năm tiếp theo, chương trình viện trợ song phương từ các
nước cung cấp viện trợ khác còn tăng hơn rất nhiều so với của Mỹ. Trong khuôn
khổ hợp tác và phát triển, các nước OECD đã lập ra những uỷ ban chuyên môn,
trong đó có Uỷ ban Viện trợ Phát triển (DAC), nhằm giúp các nước đang phát
triển đẩy nhanh phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Thập niên 1970 còn chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của viện trợ nước
ngoài từ các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC mới nổi lên. Trong thập niên 1980,
Nhật Bản tăng nhanh viện trợ nước ngoài, vượt qua Mỹ trở thành nước cung cấp
viện trợ lớn nhất thế giới vào cuối thập niên này. Đầu thập nhiên 1990, viện trợ
trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải
chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”.
ODF là tài trợ phát triển chính thức, là tất cả các nguồn tài chính mà
Chỉnh phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang và
kém phát triển, loại vốn vay này gồm có ODA và các hình thức ODF khác, trong
đó ODA chiếm tỷ trọng lớn.
Theo định nghĩa của UNDP: “ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ
không hoàn lại và các khản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là:
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
Do khu vực chính thức thực hiện, chủ yếu nhằm thúc đẩy kinh tế và phúc lợi,
cung cấp với các điều khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần
không hoàn lại ít nhất là 25%)”.
Theo Nghị định số 17/2007/NĐ-CP ngày 04 tháng 05 năm 2001 của
Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức định nghĩa: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) là hoạt
động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài và các tổ
chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia”.
Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa về ODA, song tóm lại ta có thể
định nghĩa ODA như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn từ
các cơ quan chính thức bên ngoài cung cấp (hỗ trợ) cho các nước đang và kém
phát triển hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính (thông qua các cơ quan
chính thức) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế - xã
hội của các nước này”.
1.1.1.2. Đặc điểm
Có thể tổng quát ODA có 5 đặc điểm chính sau:
ODA do Chính phủ của một nước hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho các cơ
quan chính thức của một nước.
trong khoản mua sắm bằng viện trợ nước ngoài. Thông thường, các nhà tài trợ
thường yêu cầu các nước nhận viện trợ phải dùng 50% viện trợ để mua hàng hoá
và dịch vụ của họ. Viện trợ có điều kiện còn mở ra cơ hội đặt hàng trong tương
lai cho các nhà xuất khẩu ở nước cung cấp ODA. Một khi nước tiếp nhận viện
trợ lắp đặt máy móc thiết bị từ một nhà cung cấp nhất định, họ chắc chắn sẽ
quay lại nhà cung cấp này để mua linh kiện, phụ tùng thay thế.
ODA còn như một công cụ để thực hiện ý đồ chính trị đối ngoại, xác định
vai trò và ảnh hưởng chính trị của các nước phát triển tại các quốc gia và khu
vực tiếp nhận. Như Mỹ là một trong các quốc gia thường xuyên sử dụng các
điều kiện chính trị để “mặc cả” với các quốc gia tiếp nhận viện trợ. Nhật Bản
dùng ODA để bình thường hoá quan hệ với các nước Đông Nam Á, mở rộng
2
Trung bình viện trợ có điều kiện làm giảm khoảng 20% giá trị của nó. Hơn nữa, các công ty
của các nước tài trợ được hưởng lợi từ việc viện trợ có điều kiện lại là những nhóm lợi ích luôn
vận động hành lang cho cho các dự án viện trợ cần nhiều đầu vào từ các nước tài trợ cho dù các
dự án này không phải là thích hợp nhất theo quan điểm của nước nhận viện trợ.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
giao lưu chính trị - văn hoá với các nước này nhằm tìm kiếm sự ủng hộ cho
tham vọng trở thành trung tâm văn hoá - chính trị của thế giới.
Ngoài ý đồ chính trị, các quốc gia phát triển còn gắn viện trợ với việc giải
quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo.
ODA có khả năng tạo thành gánh nợ. Do tính chất ưu đãi của ODA nên
khi sử dụng nó người ta không ý thức ngay được gánh nặng nợ nần trong tương
lai. Nhiều dự án ODA thường không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất, kinh
doanh, nhất là cho xuất khẩu. Chính vì thế, những nước sử dụng ODA không có
hiệu quả có thể có sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian sẽ rơi vào
cảnh nợ nần hết sức nặng nề.
1.1.2. Phân loại nguồn vốn ODA
trong một số trường hợp cá biệt, trước hết là các dự án góp phần tạo việc làm;
giải quyết các vấn đề xã hội ở nước nhận viện trợ…
Viện trợ không hoàn lại được thực hiện dưới 2 dạng: Hỗ trợ kỹ thuật (các
tổ chức tài trợ thực hiện việc chuyển giao công nghệ, hoặc truyền đạt những
kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật… cho nước nhận ODA) và Viện trợ nhân
đạo bằng hiện vật (các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật).
+ Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi), chiếm tỷ trọng
cao trong tổng số vốn ODA trên thế giới: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một
khoản tiền (tuỳ theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời
gian trả nợ thích hợp. Tín dụng ưu đãi là nguồn thu phụ thêm để bù đắp thâm
hụt Ngân sách Nhà nước, vì vậy nó được sử dụng dưới hình thức tín dụng ưu đãi
đầu tư cho các dự án có khả năng thu hồi vốn, hoàn trả lại cho Nhà nước cả vốn
và lãi để trả nợ nước ngoài.
Tín dụng ưu đãi thường để ưu tiên đầu tư cho các chương trình quốc gia,
đặc biệt là các dự án và chương trình xây dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội thuộc các lĩnh vực: năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp, thuỷ lợi,
thông tin liên lạc, thúc đẩy đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước; bù đắp thâm
hụt cán cân thanh toán quốc tế… hoặc hỗ trợ để Chính phủ nước tiếp nhận quản
lý tốt hơn ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
hệ thống kinh tế (điều chỉnh cơ cấu) hoặc dùng để xoá đói giảm nghèo, tạo điều
kiện thuận lợi cho nước nhận ODA phát triển mạnh hơn cả về kinh tế và đời
sống kinh tế - xã hội.
Những điều kiện ưu đãi thường là: Lãi suất thấp, thời hạn vay nợ dài (từ
20 – 30 năm), có thời gian không trả lãi hoặc hoãn trả nợ (thời gian ân hạn) từ
10 – 12 năm.
+ ODA cho vay hỗn hợp: Kết hợp một phần ODA không hoàn lại
và một phần tín dụng ưu đãi theo các điều kiện của bên cung cấp; hoặc kết hợp
+ ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này
đến nước kia (nước phát triển viện trợ cho nước đang và kém phát triển) thông
qua hiệp định được ký kết giữa hai hay nhiều Chính phủ. Tuy nhiên, viện trợ
song phương thường có những ràng buộc về điều kiện cho vay, chẳng hạn bên
viện trợ sẽ đảm nhận việc đào tạo chuyên gia, cố vấn về các vấn đề có liên quan
đến việc tiếp nhận và sử dụng vốn vay cho các nước nhận, ngược lại nước nhận
viện trợ phải mua máy móc, hàng hoá của các nước viện trợ; theo các nhà phân
tích kinh tế những người hưởng lợi từ những khoản viện trợ này là những nhà
sản xuất của nước viện trợ mà các sản phẩm của họ đang mất địa vị cạnh tranh
trên thị trường quốc tế.
Xu hướng hiện nay là loại hình ODA có ràng buộc đang tăng lên, thường
có 3 loại ràng buộc: Ràng buộc về chính trị (nước cung cấp muốn nước tiếp
nhận đi theo đường lối đối nội, đối ngoại mà nước cung cấp đặt ra); Ràng buộc
về điều kiện kinh tế (những điều kiện ràng buộc được đưa ra nhằm mục đích
đảm bảo lợi ích kinh tế của nước cung cấp như: Bên nhận phải ưu tiên cho các
công ty bên cấp ODA trong việc nhận thầu các công trình sử dụng vốn ODA
hoặc nước nhận ODA phải dành phần lớn hoặc hầu hết vốn viện trợ để chi tiêu
cho các khoản ở nước cung cấp như mua hàng hoá, dịch vụ, thiết bị…; Ràng
buộc về điều kiện kinh tế - chính trị (nước cấp ODA đưa ra những điều kiện
nhằm mục đích tác động đến chính sách kinh tế - xã hội của nước nhận theo
chiều hướng mà bên cung cấp mong muốn).
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
+ ODA đa phương: Là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc
tế (IMF, WB, ADB…) hay tổ chức khu vực (KFAED - Quỹ phát triển kinh tế
Ảrập của Côoet – Kuwait Fund for Arab an Economic Development, EU…)
hoặc của Chính phủ một nước dành cho Chính phủ một nước nào đó, nhưng
thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP, UNICEF… Có thể các
khoản viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên
công cuộc phát triển kinh tế.
- Đồng thời nguồn ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển
nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo… Những công trình cơ sở hạ tầng về giao
thông nông thôn, điện khí hoá nông thôn, mở rộng mạng điện thoại về nông
thôn… là những dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế nhưng lại mang ý nghĩa
phát triển xã hội một cách sâu sắc nếu chúng được hỗ trợ từ nguồn ODA. Thông
qua ODA, nước tiếp nhận có thể giải quyết rất nhiều việc làm cho người lao
động, một trong những vấn đề xã hội rất nhạy cảm đối với hầu hết các nước
đang phát triển. Đó là do số lượng việc làm được hình thành từ chính quá trình
triển khai các dự án ODA, và nhiều dự án đầu tư trong nước hoặc FDI kèm theo
được triển khai và điều đó dẫn đến nhu cầu tuyển dụng lực lượng lao động của
nước sở tại.
- Thông qua các dự án ODA, các nước đang phát triển có điều kiện trang
bị, tiếp nhận những công nghệ cao ở nhiều lĩnh vực, trong đó có cả những lĩnh
vực mũi nhọn phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình, làm
tiền đề cho việc phát triển các ngành công nghiệp chế tạo khác. Đây thực sự là
cơ hội lớn cho các quốc gia đang phát triển, bởi lẽ có nhiều loại công nghệ mà
các nước này không thể có được qua phương thức thương mại thuần tuý do các
rào cản bảo vệ công nghệ của các nước phát triển. Đồng thời, hàng loạt bí quyết
công nghệ cũng được chuyển giao.
- ODA hỗ trợ các nước tiếp nhận hoàn thiện các thể chế và chính sách từ
khâu hoạch định đến các biện pháp thực thi. ODA giúp các nước nghèo cải cách
hành chính kinh tế thông qua các chương trình viện trợ dự án, làm cho cơ chế
quản lý kinh tế ở những nước này tiếp cận với những chuẩn mực chung quốc tế.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
- ODA tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của các
địa phương và vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn: Nguồn vốn này
trực tiếp giúp cải thiện điều kiện về vệ sinh, y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ
với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo
ra một thực thể mới”.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: “Dự án là
những nỗ lực có thời gian nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịnh vụ duy nhất”.
Khái niệm quản lý dự án: “Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều
phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm
bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và
đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng
những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”.
Khái niệm quản lý dự án ODA: “Quản lý ODA là quá trình lập kế hoạch,
tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra việc thu hút và sử dụng ODA nhằm đạt được mục
tiêu của bên tài trợ và bên nhận tài trợ”.
1.2.2. Đặc điểm của quản lý dự án ODA
1.2.2.1. Đặc điểm của quản lý dự án nói chung
Quản lý dự án có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Tổ chức quản lý dự án là một tổ chức tạm thời. Tổ chức quản lý dự án
được hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn. Trong thời gian
tồn tại dự án, nhà quản lý dự án thường hoạt động độc lập với các phòng ban
chức năng. Sau khi kết thúc dự án, cần phải tiến hành phân công lại lao động, bố
trí lại máy móc thiết bị.
- Công việc của dự án đòi hỏi có sự tham gia của nhiều phòng chức năng.
Người đứng đầu dự án và những người tham gia quản lý dự án là những người
có trách nhiệm phối hợp mọi nguồn lực, mọi người từ các phòng chuyên môn
nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của dự án. Tuy nhiên, giữa họ thường nảy
sinh mâu thuẫn về vấn đề nhân sự, chi phí, thời gian và mức độ thoả mãn các
yêu cầu kỹ thuật.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
1.2.2.2. Đặc điểm riêng của quản lý dự án ODA
quản lý dự án.
- Môi trường thực hiện dự án: Môi trường tự nhiên, văn hoá xã hội, môi
trường chính sách và quốc tế. Các yếu tố này ảnh hưởng đến cấu trúc tổ chức dự
án, do đó nó cũng ảnh hưởng tới quản lý dự án.
- Hệ thống chính sách, pháp luật của các bên tham gia và các Hiệp định
được ký kết. Nếu hệ thống chính sách, pháp luật của các bên có nhiều điểm
tương đồng và Hiệp định ký kết cuối cùng đạt được sự nhất trí cao giữa các bên
thì sẽ giúp cho việc quản dễ dàng hơn, ít có xung đột. Tuy nhiên, nếu hệ thống
pháp luật giữa các bên có điểm mâu thuẫn thì dễ dấn đến việc dự án bị tạm
ngừng, treo dự án nếu không tìm được cách giải quyết thoả đáng.
- Mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội giữa các bên. Nếu mối quan hệ này
tốt đẹp, ổn định thì sẽ góp phần thúc đẩy công tác quản lý tốt các dự án ODA và
ngược lại, sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lý theo chiều hướng
không tốt.
1.2.3.2. Nhân tố chủ quan
Bên cạnh những nhân tố khách quan thì quá trình quản lý các dự án ODA
còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan sau:
- Mô hình tổ chức, quản trị, điều hành nguồn vốn ODA của các bên. Tuỳ
theo trình độ quản lý, nguồn nhân lực của mỗi bên, tuỳ vào từng dự án mà sử
dụng các mô hình quản lý khác nhau. Bên tài trợ là những chuyên gia nước
ngoài được cử đi công tác làm nhiệm vụ quản lý, do đó thường sử dụng mô hình
cấu trúc dạng dự án vì đơn giản và huy động nguồn lực ở mức tối thiểu mà đạt
được hiệu quả công việc cao. Còn bên nhận tài trợ có thể áp dụng một trong ba
mô hình là mô hình cấu trúc dạng chức năng, dạng dự án và dạng ma trận. Mỗi
một loại cấu trúc thì cách thức tổ chức quản lý lại khác nhau.
- Quá trình quản lý cần phải tính đến mức độ hấp thụ vốn của nước nhận
viện trợ. Mức độ hấp thụ vốn ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ thời gian của dự án,
giải ngân nhanh hay chậm là phụ thuộc vào yếu tố này.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
Hình 1.1: Chu trình quản lý dự án ODA
1.2.4.1. Lập kế hoạch
Lập kế hoạch dự án là giai đoạn chứa đựng những công việc phức tạp và
quan trọng nhất của một dự án. Lập kế hoạch tốt cho phép hoàn thành các mục
tiêu đề ra và thực hiện dự án thành công. Trong giai đoạn này bên tiếp nhận
ODA phải trải qua các bước sau:
- Tổ chức và tham dự Hội nghị những nhà tài trợ chính (CG - Consultance
Group), tại đây đại biểu của nước xin viện trợ sẽ nêu những yêu cầu về viện trợ
của nước mình, đồng thời cam kết một số vấn đề theo yêu cầu của bên tài trợ.
Thời gian và địa điểm tổ chức Hội nghị CG do bên tiếp nhận phối hợp với WB
đề nghị.
- Thẩm định dự án: Quá trình thẩm định dự án có khi do phía nhận viện
trợ thực hiện, nhưng cũng có khi cả 2 bên cung cấp và tiếp nhận cùng phối hợp
thẩm định.
- Đàm phán và ký kết các Hiệp định cấp Chính phủ về viện trợ.
- Thoả thuận và ký kết Hiệp định khung về chi tiết (nguồn cung cấp, hình
thức viện trợ, vốn đối ứng trong nước…).
- Lập dự án: Có thể bên nhận viện trợ lập dự án; nhưng thường các nhà tài
trợ muốn quản lý nguồn vốn cho vay nên sẽ tự lập dự án hoặc tư vấn cho bên
nhận viện trợ lập dự án. Lập dự án bao gồm các công việc: Thành lập nhóm dự
án, xác định cấu trúc tổ chức của nhóm dự án; phân tích công việc của dự án; lập
kế hoạch tiến độ thời gian; lập kế hoạch ngân sách; lập kế hoạch thực hiện dự án;
lập kế hoạch nguồn lực cần thiết; lập kế hoạch chi phí và dự báo dòng tiền thu.
Kết thúc giai đoạn này, tiến trình thực hiện dự án có thể được bắt đầu.
Thành công của dự án phụ thuộc vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của
các kế hoạch trong giai đoạn này.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
23
Lập kế hoạch
lý thời gian là làm sao để dự án hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân
sách và nguồn lực cho phép, đáp ứng những yêu cầu đã định về chất lượng.
Quản lý thời gian là cơ sở để giám sát chi phí cũng như các nguồn lực khác cần
cho công việc dự án.
Nguồn lực sử dụng cho dự án bao gồm tiền vốn, lao động, máy móc thiết
bị, nguyên vật liệu… và trong quản lý dự án, yếu tố thời gian được xem là một
loại nguồn lực rất quan trọng, đặc biệt, khi xem xét mối quan hệ của thời gian
với các yếu tố nguồn lực khác. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của
quản lý dự án là đúng tiến độ, tiến độ thời gian sẽ được thực hiện đúng nếu có
đủ quy mô nguồn lực cần thiết.
Ngân sách dự án trình bày kế hoạch chi và thu của dự án. Nó được chi tiết
theo các khoản mục và từng công việc của dự án. Bằng việc lập ngân sách, cán bộ
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
quản lý dự án có thể cụ thể hoá mục tiêu dài hạn, các kế hoạch để thực hiện mục
tiêu đó và phân phối các nguồn lực cần thiết. Trên cơ sở so sánh giữa chi phí và
kết quả có thể kiểm soát và điều phối các hoạt động dự án. Đồng thời, cán bộ
quản lý dự án có thể điều chỉnh ngân sách cho phù hợp mục tiêu và nguồn lực.
Kết thúc giai đoạn này, các hệ thống được xây dựng và kiểm định, dự án
được vận hành.
1.2.4.3. Giám sát, đánh giá dự án
Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình
hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng
mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá
dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm,
kiến nghị các pha sau của dự án.
Quản lý dự án trong giai đoạn này là việc đo lường, thu thập, ghi chép, so
sánh đối chiếu và phân tích thông tin về tiến độ thời gian, chi phí và tiến trình
thực hiện nhằm đánh giá thường xuyên mức độ hoàn thành và đề xuất những