PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
75Ҿ(07ӌ1+$1*,$1*
unite for
children
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
Tỉnh An Giang UNICEF
Viet Nam
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM
TỈNH AN GIANG
2012
iv
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
Lời cảm ơn
Báo cáo Phân tích tình hình này được thực hiện trong năm 2010 và 2011 thuộc Chương
trình Tỉnh bạn hữu trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Quốc gia giữa Chính phủ Việt
Nam và UNICEF giai đoạn 2006-2011. Tài liệu này thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa
tỉnh An Giang và UNICEF Việt Nam.
Nghiên cứu do nhóm nghiên cứu gồm Edwin Shanks, Nguyễn Tam Giang và Dương
Quốc Hùng thực hiện.
Các phát hiện từ nghiên cứu được rút ra từ các cuộc họp tham vấn, lấy ý kiến đóng góp
của các cơ quan liên quan ở địa phương trong chuyến công tác thực địa vào cuối năm
2010 và từ hội thảo góp ý ở An Giang được tổ chức vào tháng 4 năm 2011. Các chuyên
gia đến từ các Sở, ban ngành ở địa phương bao gồm Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao
động, Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục, Sở Y tế, Cục Thống kê, Sở Tài chính,Trung
tâm Bảo trợ xã hội, Hội Phụ nữ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm
cung cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn, Ủy ban Dân tộc, đại diện đến từ các
huyện Tịnh Biên, Tân Châu và thành phố Long Xuyên, các xã Vĩnh Trung, Châu Phong
và phường Mỹ Bình.
Văn phòng UNICEF Việt Nam hoàn thiện và biên tập báo cáo này.
Tỉnh An Giang và UNICEF Việt Nam xin chân thành cảm ơn các cơ quan, tổ chức và cá
nhân đã đóng góp xây dựng báo cáo này.
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
Mục lục
Lời cảm ơn ii
Lời nói đầu iii
Danh mục Hình vi
Danh mục Bản đồ vii
Danh mục các Khung vii
Danh mục Bảng vii
Từ viết tắt ix
Tóm lược báo cáo và các khuyến nghị chính 1
Những phát hiện chính của nghiên cứu 2
Những kiến nghị chính cho Kế hoạch Phát triển KT-XH của tỉnh
và của các ngành giai đoạn 2011-2015 18
1. Giới thiệu 27
1.1 Câu hỏi và mục đích nghiên cứu 27
1.2 Khung phân tích và phương pháp luận nghiên cứu 27
1.3 Đị
a bàn đi thực tế và những người tham gia nghiên cứu 29
1.4 Những hạn chế của đợt nghiên cứu 30
2. Bối cảnh phát triển 33
2.1 Thực trạng địa lý 33
2.2 Các đặc điểm và xu hướng dân số 34
2.3 Thực trạng và xu hướng đói nghèo 36
2.4 Nền kinh tế địa phương, thu nhập và chi tiêu hộ gia đình 38
2.5 Các hình thái di cư và di biến động của hộ gia đình 40
2.6 Biến đổi khí hậu và các rủi ro về môi trường 44
2.7 Những khác biệt và chênh lệch trong địa bàn tỉnh 45
3. Lập chương trình hoạt động và phân bổ ngân sách cho các vấn đề trẻ em 49
3.1 Ngân sách của tỉnh và chi tiêu trong các ngành xã hội 49
3.2 Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (2006-2010) 51
6.7 Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 114
6.8 Lạm dụng trẻ em và bạo lực học đường 116
6.9 Trẻ em vi phạm pháp luật 117
6.10 Phát triển hệ thống công tác xã hộ
i 117
7. Sự tham gia của trẻ em 121
7.1 Định nghĩa về sự tham gia của trẻ em 121
7.2 Ý kiến của trẻ em về quyền được tham gia 122
7.3 Giới và sự tham gia 122
7.4 Cơ hội vui chơi, giải trí và học tập ngoài nhà trường cho trẻ em 124
7.5 Các hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức 126
Danh mục các tài liệu nghiên cứu và tham khảo 127
viii
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
Danh mục Hình
Hình 1. Khung đánh giá năng lực thể chế 28
Hình 2. Các nguồn thông tin định lượng và định tính 29
Hình 3. Tháp dân số năm 1999 34
Hình 4. Tháp dân số năm 2009 35
Hình 5. Tỉ lệ nghèo trẻ em các vùng theo tiêu chí đa chiều và tiền tệ, 2008 38
Hình 6. Thu nhập bình quân theo đầu người theo nhóm thu nhập, cả nước
và An Giang 2008 39
Hình 7. Tỷ lệ dân số thành thị và nông thôn (2001-2009) 42
Hình 8. Các nguồn thu ngân sách của tỉnh, 2006-2009 49
Hình 9. Chi tiêu ngân sách của các ngành văn hóa, xã hội tỉnh, 2005-2009 50
Hình 10. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: so sánh số liệu cấp t
ỉnh, khu vực
và trên toàn quốc, 2009 65
Hình 11. Tỷ số giới tính khi sinh: so sánh số liệu cấp tỉnh, khu vực
và trên toàn quốc 2009 70
Khung số 1. Quỹ Bảo trợ Trẻ em tỉnh 55
Khung số 2. Phong trào mua thẻ bảo hiểm y tế cho những hộ cận nghèo 66
Khung số 3. Những thay đổi tích cực trong cách thức sinh con của
các bà mẹ ở xã Vĩnh Trung 68
Khung số 4. Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh ở xã Vĩnh Trung 82
Khung số 5. Học bổng đi học ở nước ngoài cho học sinh dân tộc Chăm 96
Khung số 6. Trẻ mồ côi, lang thang tại các trung tâm bảo trợ xã hộ
i 110
Khung Số 7. Buôn bán trẻ em liên tỉnh và liên quốc gia qua An Giang 114
Danh mục Bảng
Bảng 1. Các địa bàn nghiên cứu 30
Bảng 2. Tỉ lệ nghèo và dân số dân tộc thiểu số theo huyện, 2008-2010 37
Bảng 3. Tỉ lệ nghèo theo tiếp cận đa chiều ở trẻ em theo vùng và khu vực, 2008 37
Bảng 5. Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội của các địa bàn nghiên cứu 46
Bảng 6. Phân bổ vốn trong các Chương trình Mục tiêu Quốc gia, 2006-2010 52
Bảng 7. Nguồn vốn Chương trình MTQG Phòng chống Một số dịch bệnh
Xã hội và HIV/AIDS (2006 đến 2010) 53
Bảng 8. Vốn bảo trợ xã hội phân theo khu vực hành chính, 2007-2010 54
Bảng 9. Trách nhiệm của các ngành trong vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em 59
Bảng 10. Tiến độ thực hiện Chương trình Hành động Quốc gia
vì trẻ em, 2001-2010 60
Bảng 11. Các chỉ tiêu về dân số, sức khỏe sinh sản và tiêm chủng
trẻ em, 2006-2010 64
Bảng 12. Báo cáo chính thức con số và kết quả điều tra các chỉ tiêu
chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ
sinh và trẻ em tại 4 huyện, 2010 69
x
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
Bảng 13. Chỉ số HIV/AIDS tại An Giang, 2006-2009 71
Bảng 14. Tỷ lệ phần trăm suy dinh dưỡng ở trẻ em của cả nước,
PCFP Chương trình tỉnh bạn hữu với trẻ em
PEDC Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn
QLDA Quản lý dự án
TCTK Tổng cục thống kê
UBND Ủy ban nhân dân
UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc
UNICEF Quỹ nhi đồ
ng Liên hợp quốc
Tỷ giá: 1 US$ = VND 20,800
xii
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
1
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
TÓM LƯỢC BÁO CÁO VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ CHÍNH
1. Đây là nghiên cứu Phân tích Tình hình Trẻ em ở tỉnh An Giang, một tỉnh thuộc Khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long. Mục đích chính của nghiên cứu là cung cấp cho
Chính phủ Việt Nam, cộng đồng phát triển và công chúng thông tin cập nhật về
các vấn đề và ưu tiên của trẻ em trên địa bàn. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này
là: (i) hoàn thiện số liệu thống kê và phân tích tình hình trẻ em trong bối cảnh Phát
triển Kinh tế - Xã hội hiện nay của tỉnh; (ii) xác định những vấn đề liên quan ảnh
hưởng đến nhận thức về quyền trẻ em và thúc đẩy các quyền này; (iii) đưa ra những
khuyến nghị nhằm tăng cường, cải thiện tình hình trẻ em thông qua việc xây dựng
Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (SEDPs) và kế hoạch ngành phù hợp hơn với
vấn đề về trẻ em.
2. Cách tiếp cận phân tích được áp dụng trong nghiên cứu này gồm ba yế
u tố. Thứ
nhất, các vấn đề về trẻ em được phân tích theo các nhóm quyền trẻ em liên quan
tới các lĩnh vực khác nhau của ngành chuyên môn, bao gồm quyền được chăm sóc
sức khỏe, quyền sống còn, phát triển và học tập, quyền được bảo vệ và tham gia.
cũng như của các ngành trong giai đoạn từ 2011 đến 2015. Các con số [đặt trong
ngoặc vuông] để biểu thị những chương, phần trong nội dung chính của báo cáo nơi
trình bày chi tiết cho từng vấn đề được phân tích.
.
2
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
Các chỉ tiêu so sánh trên toàn quốc, trong khu vực và của tỉnh
1
Chỉ tiêu An Giang Cả nước
Khu vực
ĐBSCL
Nguồn
Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm (phần trăm) 0,5 1,2 0,6 i) 2009
Dân số dưới 15 tuổi (phần trăm) 24,8 25,0 24,4 i) 2009
Tỷ số giới tính khi sinh (sinh trai trên 100 sinh gái) 113,7 110,5 109,9 i) 2009
Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh (Trên 1000 trẻ để sống) 17,0 16,0 13,3 i) 2009
Tỷ lệ đói nghèo 2006 (phần trăm) 9,7 15,5 13,0 ii) 2006
Tỷ lệ đói nghèo 2008 (phần trăm) 8,5 13,4 11,4 ii) 2008
Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng (VND ‘000) 1,064 995 940 ii) 2008
Trẻ em <1 tuổi
được tiêm phòng đầy đủ (phần trăm)
1
91,0 94,0 94,5 iii) 2008
Trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
(phần trăm)
17,5 18,9 18,7 iv) 2009
Trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi
(phần trăm)
29,6 31,9 29,1 iv) 2009
Trạm y tế xã/phường có bác sỹ (phần trăm) 73,0 66,0 80,0 iii) 2008
6. Tăng trưởng kinh tế nhanh [Chương 2.4]. Trong những năm gần đây, An Giang
đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế rất đáng kể. Theo Báo cáo Phát triển
1 Tiêm chủng đầy đủ gồm ba loại vắc-xin chống Viêm gan B, Bại liệt, Ho gà, Bạch hầu, Uốn ván và một loại vắc-xin
phòng Lao và Sởi.
3
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
KT-XH của tỉnh, tỷ lệ tăng GDP đạt 14,2 phần trăm năm 2008, tuy các năm tiếp theo
giảm xuống còn 8,7 phần trăm năm 2009 và 10 phần trăm năm 2010 do ảnh hưởng
của suy thoái kinh tế toàn cầu. Tỉnh An Giang có nhiều thuận lợi về sản xuất nông
nghiệp và là tỉnh dẫn đầu về xuất khẩu lúa gạo và thủy sản. Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) của tỉnh
đã tăng vọt đặc biệt nhờ vào sự phát triển nhanh chóng của ngành
nuôi trồng thuỷ sản; giá trị nuôi trồng thủy sản tăng 224 phần trăm từ 772 tỷ đồng
trong năm 2000 lên tới 2.500 tỉ đồng trong năm 2009, với sản lượng hiện tại khoảng
300.000 tấn mỗi năm. Thương mại qua biên giới là một phần quan trọng trong cơ
cấu kinh tế của tỉnh. Trong giai đoạn từ 2006-2010 kim ngạch xuất, nhập khẩu qua
biên giới Campuchia đã đạt 3,9 tỷ đô la Mỹ. Đồng thời, khu vực biên giới này đã trở
thành hành lang buôn lậu hàng hóa cũng như buôn bán phụ nữ và trẻ em và là điểm
nóng về những bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS. Công tác phối, kết hợp qua biên
giới vì thế cũng trở thành vấn đề mấu chốt trong việc chống lại những ảnh hưởng,
tác động xấu của các vấn đề nêu trên đồng thời nâng cao hiệu quả của các hoạt
động liên kết cũng như phát triển kinh tế trong khu vực.
7. Các hộ di cư, di biến động và khả năng dễ bị tổn thương [Chương 2.5]. Cũng
giống như các tỉnh khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang có tỷ lệ
xuất cư khá cao. Theo số liệu Điều tra Dân số năm 2009 tỷ
số xuất cư của An Giang
là 55 trên 1000 dân và tỷ suất di cư thuần là âm bốn sáu (-46) trên 1000 dân. Số liệu
về di cư theo kết quả Điều tra 2009 chỉ bao gồm địa bàn cư trú cố định/bán cố định
và dân số từ 5 tuổi trở lên; chính vì thế những số liệu này không đưa ra được bức
tranh đầy đủ về sự di chuyển của dân số hoặc không nêu đầy đủ được thực trạng
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
• Lao động di cư trở lại quê nhà. Vấn đề hồi cư – một khía cạnh gắn liền với các
hình thức di cư trên đây – thường không được quan tâm một cách đầy đủ.
Những lý do phải hồi cư thường rất đa dạng và có thể có những tác động tích
cực cũng như tiêu cực đối với những người hồi cư và gia đình của họ. Mối quan
ngại l
ớn nhất của họ khi trở về là ở nông thôn thiếu việc làm thường xuyên và
nguồn thu nhập bị giảm sút.
• Di dân và sơ tán do ngập lũ. Để đối phó với ngập lũ, một bộ phận dân cư phải
sơ tán hoặc di chuyển đến nơi khác, nhất là vào những năm đỉnh lũ dâng cao.
Trẻ em và các hộ nghèo có thể lên các trung tâm đô thị để tránh ngập lũ. Sự
di chuyển theo mùa t
ới các khu vực thành thị là một vấn đề quan trọng đối với
những người phải tìm sinh kế thay thế. Một số hộ phải chuyển đi nơi khác lâu
dài hơn khi bị lũ tàn phá sinh kế cũng như khi việc cứu trợ khắc phục thiên tai
không đủ cho sự phục hồi.
• Quá trình Đô thị hoá. Trong vòng thập niên vừa qua, việc đô thị hóa ở An Giang
đã diễn ra khá mạnh. Từ
năm 2001 đến năm 2009 đã có 5,6 phần trăm tổng
dân số chuyển từ dân số nông thôn sang dân số thành thị, số dân ở nông thôn
giảm từ 77,2 phần trăm xuống còn 71,6 phần trăm. Việc này không hẳn là do
sự di chuyển của dân cư từ các vùng nông thôn ra đô thị trong địa bàn tỉnh, mà
chủ yếu do sự chuyển đổi một số huyện, xã nông thôn thành các địa bàn đô
thị - đây cũng là sự phản ánh thực tế đặc điểm chung quá trình “đô thị hóa nông
thôn” của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Điều đó sẽ đặt ra nhiều thách
thức cho các hộ sống ven đô do những hộ này phải chuyển đổi các hình thức
sinh kế, sản xuất dựa chủ yếu vào nông nghiệp sang cách tạo thu nhập và việc
làm mới.
• Các hộ di biến động dịch vụ vận chuyển, làm ăn, buôn bán trên sông.
Tuy xét
các cơ sở y tế, bệnh viện có chuyên môn tốt và đưa trẻ em đi tiêm phòng đầy đủ đã
trở thành thói quen thường nh
ật của hầu hết các gia đình ở An Giang. Đây là một
sự thay đổi lớn về hành vi chăm sóc sức khỏe của cộng đồng xã hội. Tuy nhiên bên
cạnh đó cũng có những ví dụ tiêu cực như sự gia tăng tỷ số giới tính khi sinh (SRB)
ở An Giang. Theo Điều tra Dân số 2009, tỷ số giới tính khi sinh của An Giang là
113,7 nam trên 100 nữ, cao hơn mức bình quân chung cả nước là 110,5. Tình hình
gia tăng tỷ số giới tính khi sinh trong thập niên qua ở Việt Nam là một mối quan ngại
trên phạm vi toàn quốc, trong đó liên quan tới vấn đề người dân có thể dễ dàng tiếp
cận với công nghệ hiện đại và dịch vụ y tế tư nhân để thực hiện ý muốn lựa chọn
giới tính thai nhi của mình.
10. Dân số trong độ tuổi lao động và việc làm [Chương 2.2 & 5.6]. Trong những
năm gần đây, lực lượng lao động của An Giang đ
ã tăng lên đáng kể và sẽ tiếp tục
gia tăng ở thập niên tới. Việc cung cấp đủ cơ hội dạy nghề và tạo việc làm cho học
sinh, sinh viên mới tốt nghiệp ra trường, cho lực lượng lao động trẻ nhất là từ các
vùng nông thôn hiện đang đặt thành một ưu tiên lớn. Để nâng cao sức cạnh tranh
cho lực lượng lao động ở An Giang trong thời gian tới, chính quyền tỉnh cần ưu tiên
đảm bảo đầy đủ các lớp dạy nghề gắn với tạo việc làm cho số lượng ngày càng gia
tăng các lao động trẻ tuổi và học sinh tốt nghiệp từ các trường phổ thông. Tuy nhiên
nhiều ý kiến trong đợt nghiên cứu cho thấy chất lượng của các chương trình dạy
nghề vẫn còn nhiều hạn chế. Kiến nghị đưa ra ở đây là cần nâng cao lợi ích cho các
doanh nghiệp, công ty tư nhân để họ tham gia trực tiếp vào công tác đào tạo nghề;
gắn nhiều hơn nữa các chương trình dạy nghề và tạo việc làm sau khi tốt nghiệp; và
nâng cao chất lượng của các lớp dạy nghề về phương pháp đào tạo, thời gian đào
đạo cho phù hợp với các đối tượng đi học.
11. Những yếu tố dẫn tới nghèo đói ở trẻ em [Chương 2.3]. Theo Kết quả đ
iều tra
Mức sống Hộ gia đình (VHLSS 2008), 52,8 phần trăm trẻ em khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long thuộc diện đói nghèo theo tiêu chí đa chiều, trong khi đó nếu sử
mưa và lưu lượng dòng chảy biến đổi đa dạng. Khả năng tác động tiêu cực tới hoạt
động nông nghiệp là rất lớn. Khả năng tác động tiêu cực tớ
i các hoạt động kinh tế
nông nghiệp là rất lớn. Mặc dù tác động của biến đổi khí hậu lên từng địa bàn trong
khu vực ĐBSCL là khác nhau, song sẽ có một hệ quả giống nhau trong số các tác
động và biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu, đó là: sự gia tăng mức độ di và sơ tán
dân ra khỏi vùng ngập. Trẻ em trong các hộ di cư nói chung và trong các gia đình
chịu ảnh hưởng lũ nói riêng rất dễ bị tổn thương trước các vấn đề sức khỏe, sinh tồn
và cơ hội đến trường.
14. Cần đưa vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu trở thành một phần không thể thiếu
trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của An Giang trong những năm tới. Về mặt
này, theo kiến nghị của Báo cáo gần đây cho Diễn đàn Biến đổi khí hậu khu vực
Đồng bằng sông Cử
u Long, chiến lược ‘sống chung với lũ’ của chính phủ cần được
cụ thể hóa một cách chi tiết và đầy đủ hơn nữa trên thực tế. Như vậy, cần có một
cách tiếp cận tổng hợp để kết nối những nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu về mặt
công nghệ với các hoạt động quy hoạch không gian và quy hoạch phát triển kinh
tế, và bảo trợ Xã Hội đồng thời tăng cường các hệ thống quản lý và khôi phục tài
nguyên thiên nhiên.
15. Những khác biệt, chênh lệch trong địa bàn tỉnh ảnh hưởng tới tình hình trẻ em
[Chương 2.7].Ở một số tỉnh của Việt Nam, sự chênh lệch về thực trạng đói nghèo và
tình hình trẻ em có mối liên hệ rất rõ với các yếu tố về địa lý và dân tộc. Tuy xét theo
mức độ nào đó thực trạng này cũ
ng đúng đối với bối cảnh ở An Giang nhưng nhìn
chung có thể nói sự chênh lệch và khác biệt trong địa bàn của tỉnh không bắt nguồn
nhiều từ yếu tố vị trí địa lý cũng như dân tộc. Mặc dù tỷ lệ đói nghèo của dân số Khơ
me thường cao hơn và thu nhập bình quân đầu người hàng tháng thường thấp hơn
so với các nhóm dân tộc thiểu số khác; người Khơ me vẫn gặp những bất lợi hơn
trong tiếp cận với các dịch vụ xã hội, giáo dục bậc trung học và cơ hội nghề nghiệp
do các rào cản về mặt xã hội và những khó khăn về ngôn ngữ phổ thông vv Tuy
nâng cao hiệu quả tác động đối với các chỉ tiêu xã hội ở một số ngành, đặc biệt là
thông qua việ
c bổ sung ngân sách thường xuyên cho các hoạt động cung cấp dịch
vụ (vốn sự nghiệp). Ví dụ như năm 2008 ngân sách của tỉnh thu được từ nguồn sổ
xố kiến thiết là 7 phần trăm (402 tỉ đồng). Tuy được nhập vào ngân sách tỉnh nhưng
theo các cán bộ cấp tỉnh cho biết khoảng 70 phần trăm số tiền đó được dành chi
cho y tế và giáo dục.Tỉnh cũng đã sử dụng nguồn thu ngân sách từ địa phương kết
hợp với huy động các nguồn lực khác ngoài xã hội để hỗ trợ cho việc thực hiện các
Chương trình Mục tiêu Quốc gia (NTPs).
19. Các Chương trình MTQG [Chương 3.3]. Chương trình Mục tiêu Quốc gia (NTP)
là một trong những phương tiện chủ yếu qua đó tập trung các chính sách và nguồn
vốn ngân sách để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội và tăng cường cung
cấp dịch vụ xã hộ
i. Theo số liệu của Sở Tài chính, tổng chi trong các chương trình
MTQG ở An Giang giai đoạn 2006-2010 là 2.289 tỷ đồng. Khoảng 65 phần trăm vốn
của các Chương trình MTQG được huy động từ ‘các nguồn khác’ trong khi đó vốn
từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh chỉ chiếm tương ứng là 23,5 phần trăm
và 11,5 phần trăm. Điều đó thể hiện mức đóng góp đáng kể của các nguồn lực ngoài
quốc doanh và của các chính sách xã hội hóa cho nguồn vốn thực hiện các Chương
trình MTQG. Cụ thể như, nguồn đóng góp huy động cho Chương trình về Giảm
nghèo; Chương trình Phòng chống Một số Dịch bệnh Xã hội Nguy hiểm và HIV/AIDS
(với các nguồn huy động xã hội chủ yếu dành cho dự án phòng chống HIV/AIDS)
và Chương trình MTQG về Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn (thông qua
các loại hình đầu tư vào hợp tác xã và doanh nghiệp cấp nước tư nhân).
20. Khả nă
ng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cho trẻ em [Chương 4.1]. Dịch vụ y
tế cho phụ nữ và trẻ em của An Giang trong vòng thập kỷ qua đã có những tiến bộ
đáng khích lệ. Cụ thể, đã có sự thay đổi hành vi đáng kể về đăng ký khai sinh, bảo
hiểm y tế và tiêm chủng cho trẻ em. Đảm bảo tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em
2
năm 2006 lên đến trên 95 phần trăm năm 2009 và năm 2010. Kể từ năm 2006,
trên 95 phần trăm các bà mẹ mang thai được tiêm phòng uốn ván và số phụ nữ
mang thai đi xét nghiệm HIV tự nguyện cũng đã tăng lên.
• Toàn bộ các xã, phường đều có nhân viên hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, đồng thời
lực lượng cán bộ này cũng tương đối ổn định; k
ể từ 2006, tỷ lệ phụ nữ sinh con
tại các cơ sở y tế đã tăng lên trên 99 phần trăm; tỷ lệ sinh con tại trạm y tế xã,
phường liên tục giảm từ 23,3 phần trăm năm 2006 xuống 14,6 phần trăm năm
2009. Việc này là do phần lớn số ca sinh hiện nay người dân đều tới các bệnh
viện huyện hoặc tỉnh nơi chất lượng của dịch vụ và cơ sở vật chất tốt hơn.
• Những tiến bộ trên đây được thể hiện rõ trong các số liệu về tỷ lệ tử vong mẹ
liên quan đến thai sản, tỷ lệ này đã giảm đáng kể từ 60 trên 100.000 ca sinh
sống năm 2000 xuống 28 năm 2006 và 20 năm 2009. Hơn thế nữa, những thay
đổi này diễn ra đồng thời ở tất cả các nhóm dân số. Điều đ
ó chứng tỏ rằng các
hoạt động thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, giáo dục thay đổi hành
vi về sức khỏe sinh sản đã được tăng cường, củng cố một cách hiệu quả.
22. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế,
song vẫn còn nhiều ý kiến quan ngại về vấn đề chất lượng. Cuộc đi
ều tra gần đây
của Sở Y tế tại 4 huyện cho thấy chỉ có 63,1 phần trăm phụ nữ mang thai được
khám thai 3 lần trở lên, dao động từ 54,8 phần trăm tại Tịnh Biên đến 72,8 phần
trăm tại Phú Tân. Những con số vừa nêu thấp hơn so với con số do Phòng Y tế
huyện cung cấp. Ngoài ra, chỉ có 19,7 phần trăm phụ nữ có thai được khám thai với
chất lượng đáp ứng đúng theo quy định của Bộ Y tế. Kết quả điều tra trên đây cho
thấy cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa để nâng cao chất lượng cho các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe sinh sản.
23. Có hai nhóm dân số cần được tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản. Thứ
nhất, phụ nữ di cư lao động và phụ nữ trong các hộ di biến động. Theo cán bộ các
c
tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn giữ ở mức cao, chỉ giảm nhẹ từ 30 phần trăm
năm 2005 xuống 28,7 phần trăm năm 2010. Con số vừa nêu thể hiện vấn đề lo ngại
trên toàn quốc về tác động đối với vấn đề sức khỏe cũng như kinh tế xã hội của
việc thiếu dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em. Nhìn chung ở các huyện, xã vùng sâu,
vùng dân tộc thiểu số Khơ me và trong các nhóm di biến động tỷ lệ suy dinh dưỡng
thường cao hơn. Số liệu của các huyện cho thấy có nhiều khác biệt về tình hình suy
dinh dưỡng trẻ em trên các địa bàn khác nhau với nhóm trẻ nhỏ dưới 2 tuổi có tỷ lệ
suy dinh dưỡng thấp hơn nhóm trẻ từ 3 - 5 tuổi. Đây là một vấn đề lớn liên quan đến
dinh dưỡng của trẻ lứa tuổi mẫu giáo và bắt đầu tiểu học.
26. Suy dinh dưỡng thể thấp còi gây ra do sự thiếu hụt dinh dưỡng triền miên trong quá
trình mang thai của bà mẹ và khi trẻ còn nhỏ, xuất phát từ cách ăn uống và ch
ăm
sóc thiếu hiểu biết trong đó bao gồm cả việc không cho bú mẹ đầy đủ trong vòng
24 tháng đầu. Những yếu tố khác gây thấp còi được biết tới bao gồm điều kiện vệ
sinh, chất lượng nước sinh hoạt kém và dịch bệnh truyền nhiễm. Vì vậy, suy dinh
dưỡng thể thấp còi là một chỉ số hữu hiệu thể hiện mức độ chất lượng của các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và điều kiện sinh hoạt của đời sống các hộ
gia đình. Cuộc điều tra 1.100 hộ ở An Giang cho thấy chỉ có dưới 10 phần trăm các
bà mẹ cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và 56,7 phần trăm bà
mẹ cho con bú uống bổ sung Vitamin A. Một cuộc điều tra khác tại 3 huyện của An
Giang cho thấy mức độ thiếu dinh dưỡng của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không
cao (19,2 phần trăm), nhưng tỷ lệ này lại khá cao ở phụ nữ độ tuổi từ 15 đến 19
(33,3 phần trăm). Cuộc điều tra này cũng thấy tỷ lệ thiếu sắt của phụ nữ mang thai
khá lớn (46,6 phần trăm), đặc biệt là trong ba tháng cuối của thai kỳ (50,6 phần
trăm), cũng như vậy đối với trẻ em dưới năm tuổi (65,7 phần trăm) nhất là ở Tịnh
Biên (84,4 phần trăm). Chỉ có 58 phần trăm hộ gia đình ở An Giang sử dụng muối
i-ốt cho bữa ăn hàng ngày. Kết quả là, phụ nữ và trẻ em trong tỉnh có nguy cơ thiếu
hụt i-ốt rất cao.
27. Một điểm cần lưu ý là vấn đề suy dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em ở An Giang
không phải do tình trạng thiếu th
tới nay chưa có những biện pháp giải quyết cụ thể, tuy nhiên nó cần được đưa vào
trong hoạt động của các chương trình dinh dưỡng. Chỉ riêng ngành Y tế sẽ không
thể đủ sức đối phó với vấn đề của toàn bộ cộng đồng xã hội này, vì vậy việc phối kết
hợp với ngành có liên quan, các cơ quan đoàn thể và các phương tiện thông tin đại
chúng là rất cần thiết.
29. Cung cấp nước [Chương 4.6]. Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, 62,9 phần
trăm hộ gia đình ở nông thôn và thành thị ở An Giang được tiếp cận với nước sạch;
tỉ lệ này thấp hơn so với mức trung bình trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
(77,9 phần trăm) và mức trung bình trên toàn quốc (86,7 phần trăm). Số liệu báo cáo
của tỉnh cho biết tính đến năm 2009, 61,64 phần trăm người dân nông thôn được
tiếp cận với hệ thống cung cấp nước sạch, trong khi 44,34 phần trăm người dân
sử dụng nước sạch theo đúng tiêu chuẩn chất lượng của Bộ Y tế. Tỉ lệ người dân
nông thôn dùng nước sạch cao nhất là ở Tịnh Biên (58 phần trăm), Tân Châu (67,1
phần trăm) và Châu Đốc (81,1 phần trăm). Ở Châu Thành, Chợ Mới và Thoại Sơn
tỉ lệ này thấp hơn, lần lượt là 27,5 phần trăm, 29,3 phần trăm và 30,2 phần trăm.
Chất lượng nước là vấn đề lớn ở ba huyện này –72 phần trăm xã nông thôn của ba
huyện này chưa có đến 25 phần trăm người dân được sử dụng nước có chất lượng
phù hợp.
30. Vệ sinh môi trường [Chương 4.6]. Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, 55,3
phần trăm hộ gia đình ở nông thôn và thành thị ở An Giang có nhà tiêu hợp v
ệ sinh,
cao hơn mức trung bình ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (42,4 phần trăm) và
cao hơn chút ít so với mức trung bình cả nước (54 phần trăm). Số liệu báo cáo của
tỉnh cho biết tính đến năm 2009, 46,08 phần trăm hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ
sinh, với tỉ lệ từ 34.5 phần trăm ở An Phú đến 56,8 phần trăm ở Thoại Sơn và 82,46
phần trăm hộ gia đình có nhiều loại nhà tiêu khác nhau. Vệ sinh môi trường ở các hộ
gia đình đã được cải thiện thông qua sự hỗ trợ phối hợp nhịp nhàng của Trung tâm y
tế dự phòng, Hội Phụ nữ và Trung tâm quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn nhằm nâng cao ý thức vệ sinh môi trường và thúc đẩy sử dụng nhà tiêu
11
an toàn giao thông cho trẻ em là vấn đề quan ngại lớn ở An Giang. Số lượng các
vụ tai nạn và tử vong do tai nạn giao thông ở An Giang vẫn chưa giảm nhiều trong
thời gian qua bất chấp những nỗ lực tuyên truyền, giáo dục và xử lý vi phạm. Để giải
quyết vấn đề bức xúc toàn xã hội trên đây, cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ hơn
trong việc khuyến khích thay đổi hành vi của bản thân các bậc cha mẹ cũng như
mọi thành phần trong xã hội kết hợp với theo dõi, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện
những quy định, pháp luật về an toàn giao thông. Cần có sự phối hợp ở các cấp để
giải quyết vấn đề này.
33. Một điểm đáng lưu ý là 5,2 phần trăm nguyên nhân có liên quan tới các vụ hành
hung, bạo lực, với tỷ lệ tăng từ 3,1 phần trăm ở nhóm tuổi 5-14 lên 9,3 phần trăm
ở nhóm tuổi 15-19. Số liệu báo cáo về tình hình tự tử cũng khá cao trong độ tuổi vị
thành niên từ 15-19 (4,8 phần trăm), phần lớn là các em nam. Đây là một vấn đề
đáng quan ngại. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã không có
điều kiện để tìm
hiểu thêm về những bối cảnh cụ thể đằng sau các con số thống kê này. Tuy nhiên,
một kiến nghị đưa ra ở đây là cần tiến hành một nghiên cứu xem xét sâu hơn và tìm
hiểu xem các nhóm trẻ em nào dễ bị tổn thương nhất cũng như những nguyên nhân
gây ra tình trạng nói trên. Đặc biệt, cần tập trung xem xét mức độ liên quan đến các
vấn đề trẻ em bắt nạt nhau ở trường và bạo lực học đường. Trong công tác xây
dựng và phát triển mạng lưới nghề công tác xã hội ở An Giang, cần tăng cường tập
trung cho việc cung cấp các dịch vụ tư vấn cho trẻ em và lứa tuổi vị thành niên cũng
như thanh niên mới lớn.
34. Giáo dục mầm non [Chương 5.2]. Khả năng đến lớp mẫu giáo và số lượng trẻ 5
tuổi ra lớp đã tăng đáng k
ể trong vòng thập niên qua ở tất cả các nhóm dân số của
12
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
An Giang, trong đó bao gồm cả trẻ em thuộc các nhóm dân tộc thiểu số tại các thôn,
xã vùng sâu, vùng xa. Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi ra lớp mẫu giáo đã tăng từ 26,8 phần trăm
năm 2000, lên 67,5 phần trăm năm 2005 và 91,8 phần trăm vào năm 2010, thấp hơn
trên địa bàn.
37. Nhiều tiến bộ đã đạt được trong việc hạn chế tỷ lệ trẻ em bỏ học các cấp tiểu học và
trung học cơ sở những năm vừa qua. Mặc dù vậy, cũng giống như các tỉnh khác ở
ĐBSCL đây vẫn tiếp tục là một v
ấn đề gặp nhiều khó khăn ở An Giang. Số liệu Điều
Tra Dân số 2009 cho thấy khoảng một phần tư (25,9 phần trăm) trẻ em ở độ tuổi 5
đến 15 bỏ học. Tuy tỷ lệ bỏ học các lớp cấp một nhìn chung không chênh lệch nhau
giữa các khu vực nông thôn và thành thị, song tỷ lệ bỏ học các lớp cấp hai và cấp
ba ở khu vực nông thôn lại cao hơn rất nhiều. Tỷ lệ bỏ học ở các vùng chủ yếu phụ
thuộc vào nhận thức của cha mẹ cũng như điều kiện kinh tế của hộ gia đình.
38. Tỷ lệ cân bằng giới trong số học sinh đến trường bậc tiểu học và trung học cơ sở có
mức độ tương ứng gần sát với tỷ lệ giới trong tổng số dân toàn tỉnh. Ở b
ậc trung học
phổ thông, tỷ số giữa học sinh nam và nữ cách xa nhau hơn (46,4 phần trăm nam và
53,6 phần trăm nữ). Cuộc điều tra Dân số 2009 cũng khẳng định tỷ lệ đi học đúng độ
tuổi của học sinh nữ bậc trung học phổ thông (36,3 phần trăm) cao hơn so với nam
(29,9 phần trăm). Điều này cho thấy lượng bỏ học của trẻ vị thành niên nam có thể
cao hơn vị thành niên nữ trên thực tế. Đây là một vấn đề đáng quan ngại. Tỷ lệ học
sinh dân tộc thiểu số giảm dần từ bậc tiểu học lên trung học - trong ba năm học từ
2007-2008 đến 2009-2010, học sinh dân tộc thiểu số chiếm 5,5 phần trăm tổng số
học sinh tiểu học và 4,6 phần trăm trung học cơ sở, riêng bậc trung học phổ thông tỷ
13
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
lệ này chỉ chiếm 2,8 phần trăm. Đây là con số thể hiện tình trạng chung ít đi học bậc
trung học của trẻ em dân tộc thiểu số, đặc biệt là trẻ em vị thành niên người Khơ me.
39. Giáo dục và đào tạo cho người dân [Chương 5.6]. Cũng giống như các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long khác, số liệu Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 cho thấy An
Giang đang phải
đối mặt với những thách thức to lớn trong việc giáo dục cho dân số
lớn tuổi trên địa bàn của mình. Trong tất cả các chỉ tiêu về hoàn thành giáo dục cho
nền kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và trong quan điểm của người dân
về việc giáo dục và học hành. Chính vì thế, cần phải có một chiến lược lâu dài để
giải quyết những nguyên nhân đó. Cụ thể như triển khai đồng bộ các nỗ lực, thực
hiện thắng lợi mục tiêu phổ cập giáo dục mầ
m non để tạo tiền đề xây dựng một ‘văn
hóa đi học’ cho trẻ em các thế hệ tiếp sau và việc này nên được đặt là ưu tiên cao
nhất trong giai đoạn phát triển KT-XH tới.
42. Cơ cấu tổ chức và thể chế trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em [Chương
3.5 & 6.2]. Chính quyền tỉnh An Giang đã tập trung nhiều nỗ lực để đẩy mạnh cơ
sở pháp lý và các tổ chứ
c bộ máy, thể chế cho vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Những nỗ lực có thể kể đến bao gồm các hoạt động nâng cao quyền của trẻ em
như tăng cường đăng ký khai sinh. Với việc giải thể Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ
em năm 2008, trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành trong công tác bảo vệ và
chăm sóc trẻ em đã được phân công lại. Nhìn chung các cơ quan cấp tỉnh, huyện đã
nhận thức và nắm rõ cơ chế tổ chức mới cũng như các trách nhiệm và vai trò của
mình trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Tỉnh cũng đã có các bước bổ sung
nguồn nhân lực để đảm bảo duy trì tốt hoạt động bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại các
14
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
xã/phường sau khi chuyển đổi, tách nhập, nhất là việc tiếp tục duy trì vị trí cán bộ
Gia đình và Trẻ em (ở 156 xã phường) sử dụng nguồn ngân sách của tỉnh.
43. Điều phối liên ngành trong chăm sóc trẻ em [Chương 3.5 & 6.2]. Nhiều cơ chế
hợp tác và điều phối liên ngành có hiệu quả đã được thiết lập xung quanh một số
vấn đề quan trọng về bảo vệ trẻ em, như
: (i) đăng ký khai sinh; (ii) phòng chống đuối
nước; (iii) buôn bán phụ nữ và trẻ em; (iv) khuyến học; và (v) vệ sinh môi trường
và vệ sinh hộ gia đình. Tuy nhiên, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phối, kết hợp liên
ngành cho một số vấn đề khác như: (i) phòng chống tai nạn thương tích trẻ em, nhất
là vấn đề an toàn giao thông; và (ii) triển khai một phương pháp tiếp cận sâu, rộng
lại báo cáo con số thấp hơn – 1.900 em. Sự chênh lệch số liệu nói trên là do khác
biệt trong định nghĩa khuyết tật và các tiêu chí mà mỗi ngành sử dụng. Một đợt điều
tra ti
ến hành tại hai huyện Phú Tân và An Phú đối với 6000 hộ gia đình và 22.000
trẻ em dưới 16 tuổi cho thấy có 2 phần trăm trẻ em nhóm tuổi nói trên bị khuyết tật.
Tuy nhiên, thực trạng tình hình trẻ em khuyết tật trên toàn bộ địa bàn tỉnh vẫn chưa
có sự hiểu biết đầy đủ.Theo Nghị định 67/2007/ND-CP và Nghị định 13/2010/ND-CP
về chính sách cho các đối tượng bảo trợ xã hội, số lượng các gia đình có trẻ em bị
khuyết tật được hỗ trợ tài chính đã tăng lên. Tuy nhiên không có số liệu về tổng tỷ lệ
trẻ em khuyết tật được nhận trợ cấp so với tổng số trẻ em khuyết tật đủ điều kiện để
nhận hỗ trợ. Đây là một hạn chế trong công tác xác định đối tượng hỗ trợ của Nghị
định 13. Cần làm rõ thêm các tiêu chí xác định đối tượng hỗ trợ đối với người bị tàn
tật ở cấp quốc gia.