MỤC LỤC
CHƯƠNG I : TÔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THÉP VIỆT NAM VÀ
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI NHẬT QUANG
1.1 Tổng quan về thị trường thép Việt Nam
1.1.1 Thị trường thép Việt Nam trước sức ép của thị trường thép Trung
Quốc
1.1.2 Phát triển ngành công nghiệp thép Việt Nam
1.1.3 Thị trường ống thép và phôi thép
1.2 Giới thiệu khái quát về công ty TNHH Thương mại Nhật Quang
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
1.2.2 Phương thức hoạt động của công ty TNHH Thương mại Nhật Quang
1.2.2.1 Sự luân chuyển của dòng thông tin nội bộ
1.2.2.2 Sự luân chuyển của dòng thông tin giữa khách hàng và công ty
1.2.2.3 Sự luân chuyển dòng hàng hoá, tiền tệ
1.2.3 Một số nét văn hoá đặc trưng của công ty
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TIÊU
THỤ SẢN PHẨM THÉP CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MAI
NHẬT QUANG
2.1 Thực trạng kinh doanh của công ty TNHH Thương mại Nhật Quang
2.1.1 Tình hình sản xuất của nhà máy Đức Giang
2.1.2 Tình hình kinh doanh của công ty TNHH Thương mại Nhật Quang
2.1.2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2005.
2.1.2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2006
1
2.1.2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2007
2.2 Tình hình tiêu thụ sản phẩm thép của công ty TNHH Thương mại Nhật
Quang
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
2.2.2 Phân tích các hình thức tiêu thụ sản phẩm của Công ty
2.2.2.2 Tiêu thụ qua kênh phân phối ngắn.
2.2.2.3 Chính sách đối với người mua hàng là các đại lý.
hưởng chênh lệch 5% thay vì 10% thuế nhập khẩu nếu mang danh thép dây.
3
Vốn sức cạnh tranh đã yếu, lại thêm tư tưởng cạnh tranh lẫn nhau, nên
ngành Thép Việt Nam bất lực trước sự đổ bộ của Thép Trung Quốc.
Gần đây, thị trường thép xôn xao xung quanh thông tin Công ty thép Việt
– Ý (VIS) đặt đơn hàng 5.000 tấn thép mác C3 tại Trung Quốc sau đó nhập
khẩu trở lại Việt Nam nhằm phân tán đầu tư để giảm thiểu rủi ro. Chưa bàn
đến những tranh chấp pháp lý cũng như ảnh hưởng của chúng đối với cả
ngành thép và việc giải quyết hài hoà các nhóm lợi ích khác nhau, nhưng có
thể thấy đó cũng là lời cảnh báo mạnh mẽ cho các doanh nghiệp Việt Nam và
các bộ ngành trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho ngành thép.
Những sự thách thức với thép Trung Quốc không chỉ đến với những sản
phẩm đang có mặt trên thị trường mà còn với cả những dự án đang và chuẩn
bị đầu tư lớn của Tổng công ty thép, của Tycoons hay Posco… Chủ tịch Hiệp
hội thép cho biết, một khi môi trường đầu tư đầy rủi ro thì rất khó để thu hút
dòng vốn FDI.
Từ đầu năm đến nay, số lượng phôi thép và thép xây dựng nhập khẩu qua
cửa khẩu Lào Cai đường bộ và đường sắt tăng đột biến.
Tại cửa khẩu đường bộ Lào Cai, đã nhập khoảng 100 nghìn tấn phôi thép,
20 nghìn tấn thép cuộn loại phi 6. Tại cửa khẩu đường sắt Lao Cai đã nhập
khoảng 26 nghìn tấn phôi thép và thép cuộn xây dựng.
Hiện tại, có 12 doanh nghiệp trung ương và địa phương, công ty TNHH tư
nhân tham gia nhập khẩu.
Chi Cục phó Hải quan cửa khẩu Lào Cai cho biết, đây là sự gia tăng đột
biến cả về số doanh nghiệp tham gia và số lượng phôi thép, thép cuộn nhập
khẩu ở cửa khẩu Lào Cai từ trước đến nay.
Những thông tin trên đòi hỏi các doanh nghiệp Thép cần thận trọng, phân
tích những hướng đi đúng đắn để có thể tránh khỏi bị loại ra khỏi cuộc cạnh
tranh đầy cam go và thử thách, khi mà đến năm 2010 mà một số loại thép sẽ
chịu mức thuế bằng không khi nhập khẩu vào Việt Nam.
nguồn không phải sản xuất trong nước, đã làm sai lệch hẳn theo hướng... nhập
phôi thép! Và, phần lớn sản lượng là thép xây dựng, thì rõ ràng thị trường
thép Việt Nam đang phát triển... một cách tự phát!
Tốc độ tăng sản lượng sản xuất trong nước đã không đáp ứng kịp nhu cầu
tăng trưởng, đồng thời dự báo tốc độ tăng trưởng không chính xác, đã... đẩy
thị trường thép Việt Nam tới thực tế phụ thuộc vào nguồn thép nhập khẩu. Có
nghĩa là tính chủ động trong chiến lược phát triển ngành và hoạch định thị
trường đã bị suy giảm, bị hạn chế! Và, đó là thực tế không tốt, không bình
thường của ngành thép Việt Nam, với tư cách là công nghiệp cơ bản, đóng vai
trò thúc đẩy các ngành công nghiệp khác của nền kinh tế. Nói một cách hình
tượng: nếu mục tiêu của Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm
2010 của Việt Nam là một đường thẳng, thì thực tế phát triển để đi đến mục
tiêu ấy lại mang dáng vẻ gấp khúc hình chữ... Z!
Ai làm chủ thị trường?
Bất chấp sự tăng trưởng của sản lượng sản xuất trong nước và sản lượng
tiêu thụ, giá thép trên thị trường Việt Nam vẫn tăng với tốc độ... phi mã.
Trong 5 năm (2003 - 2008) giá thép đã tăng gấp đôi. Và chỉ trong vài tháng
cuối năm 2007, đầu năm 2008, giá thép đã tăng tới 4 lần, lên tới "ngưỡng"...
18 triệu VND/tấn như hiện tại! Giá thép tăng gấp, không những làm các nhà
thầu xây dựng, người tiêu dùng khốn đốn; mà đã ảnh hưởng trực tiếp tới nền
kinh tế. Vì: Nhà nước buộc phải bù giá vài nghìn tỷ VND cho các nhà thầu;
đồng thời yêu cầu khẩn trương ban hành quy chế mới xác định giá vật liệu
xây dựng đảm bảo sát với diễn biến của thị trường.
Có không ít ý kiến đã khẳng định thép tăng giá là do phân phối thao túng.
Hiệp hội Thép Việt Nam - với số hội viên hiện chiếm trên 80% sản lượng
thép xây dựng - thừa nhận hiện việc đầu cơ giá thép là có thật với hình thức
găm hàng để chờ giá. Cũng theo Hiệp hội thép, thực tế kinh doanh thép hiện
tại chỉ bán qua đại lý đã tạo điều kiện cho giới kinh doanh thép có cơ hội thao
6
túng giá. Thừa nhận này rõ ràng là nghiêm trọng. Vì Chính phủ đã chính thức
tình trạng cung lớn hơn cầu. Hiện nay, năng lực sản xuất ống thép toàn ngành
đạt khoảng 4 triệu tấn/ năm. Trong khi nhu cầu thị trường chỉ ở mức khiêm
tốn là 2 triệu – 3 triệu tấn/năm. Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp sản xuất
thép VN vẫn đang phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài. Lượng phôi thép
ngoại nhập chiếm tới 70% trong tổng các nguồn phôi. Hơn nữa cung luôn
trong tình trạng lớn hơn cầu, làm cho giá bán đôi khi thấp hơn giá thành sản
phẩm. Thực trạng này đang đặt ra một thách thức to lớn cho người “đứng mũi
chịu sào” là Hiệp hội thép VN phải tìm ra một hướng đi mới, một giải pháp
mới cho việc tự chủ nguồn phôi, nguyên liệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động cho ngành sản xuất thép trong nước.
“ Hiện nay, giá thép của một số đơn vị trong Tổng công ty Thép Việt
Nam chỉ ở mức hơn 13 triệu đồng/tấn đối với các loại thép cuộn và thép cây.
Giá thép của Công ty gang thép Thái Nguyên (đã tính 5% VAT) đối với thép
cây là 13,65 triệu đồng/tấn và thép cuộn là 13,7 triệu đồng/tấn. Trong khi đó,
giá bán tại các đại lý lên tới 15 - 16 triệu đồng/tấn, thậm chí có nơi bán tới 17
triệu đồng/tấn, đã gây ra sự chênh lệch lớn về giá trên thị trường thép xây
dựng.
Ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng, nguyên
nhân quan trọng khiến cho giá thép liên tục tăng cao là do phụ thuộc vào
nguồn phôi thép nhập khẩu, đến 50% nhu cầu thép trong nước, mà phần lớn
nhập từ Trung Quốc. Trong khi, giá phôi thép Trung Quốc liên tục có những
biến động khó lường. Đặc biệt, để siết chặt xuất khẩu, đầu năm 2008 Trung
Quốc đã chính thức nâng thuế xuất khẩu phôi thép từ 15% lên 25% và từ 10%
lên 15% đối với thép thành phẩm.
Tuy nhiên, việc mua phôi thép từ Trung Quốc cũng đang rất khó khăn do
nước này cắt giảm sản lượng phôi thép và thép thành phẩm nhằm hạn chế ô
8
nhiễm môi trường. Do vậy, các doanh nghiệp phải tìm mua phôi từ các nước
trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan và các nước khác như Thổ
Nhĩ Kỳ, Nga, Ucraina thậm chí là từ Nam Phi hay Brazil. Tuy nhiên, việc mua
tăng cao trong thời gian tới.
Tuy nhiên, sẽ không có chuyện khan hiếm hàng, bởi các doanh nghiệp
không hề giảm sản lượng mà ngược lại còn tăng lên. Theo thống kê của Hiệp
hội Thép, trong mấy tháng cuối năm 2007 sản lượng thép tăng khá cao, trung
bình đạt 330 nghìn tấn/tháng, nhất là trong tháng 10/2007 sản lượng thép đạt
mức 380 nghìn tấn.
Ông Cường cho rằng, để giải quyết tình trạng căng thẳng về nguồn cung
phôi chỉ còn cách duy nhất là đẩy mạnh sản xuất phôi trong nước. Như vậy, sẽ
không những chủ động được đầu vào mà giá cũng sẽ thấp hơn nhập khẩu. Bởi
lẽ, giá thành phôi sản xuất trong nước thấp hơn nhập khẩu tới 200 USD/tấn.
Tuy nhiên, hiện nay các nhà sản xuất trong nước lại đang gặp khó khăn
trong nhập khẩu thép phế do chưa có quy định rõ ràng của các cơ quan chức
năng. Hiệp hội thép cũng đã có kiến nghị với Bộ Tài nguyên Môi trường và Bộ
Công Thương cần có những quy định thoáng hơn các tiêu chuẩn môi trường,
tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước được nhập khẩu thép phế, giảm
giá thành sản xuất phôi nội. ”
( Nguồn từ website : http.//www.yb.com.vn )
1.1.4/ Thị trường thép tấm, thép lá và xà gồ
Thị trường thép tấm, lá và xà gồ nói chung cũng có tình trạng tương tự như
thị trường ống thép đó là cung thường lớn hơn cầu, gía cả phụ thuộc và lên
xuống theo giá nguyên liệu đầu vào và nhu cầu của khách hàng. Đôi khi sự
lên xuống đó là thất thường. Gía thép tấm, lá vào hai quý cuối năm 2004 có
xu hướng tăng mạnh do nguồn cung thế giới giảm mạnh, Nhưng đến năm
2005 thì xu hướng giảm mạnh giá bán lại xuất hiện trên thị trường do nhu cầu
thị trường giảm xuống. Đến quý 1 năm 2007, nhu cầu thép tấm, lá tương đối
10
ổn định, do vậy giá cả cũng không có nhiều biến động. Riêng đối với thị
trường xà gồ thì do điều kiện thời tiết nước ta vẫn chưa vào mùa mưa nên các
công trình công nghiệp vẫn đang được xây dựng nhiều. Do vậy làm cho nhu
cầu, giá cả xà gồ tăng lên nhưng tăng một cách chậm dần.