LỜI MỞ ĐẦU
Lí do lựa chọn đề tài
Trong một nền kinh tế, doanh nghiệp thương mại giữ vai trò phân phối
lưu thông hàng hoá, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Hoạt động của
doanh nghiệp thương mại diễn ra theo chu kì T - H - T’ hay nói cách khác nó
bao gồm hai giai đoạn mua và bán hàng hoá. Như vậy, trong hoạt động kinh
doanh thương mại, tiêu thụ là nghiệp kinh doanh vụ cơ bản, nó giữ vai trò chi
phối các nghiệp vụ khác. Các chu kì kinh doanh chỉ có thể diễn ra liên tục
nhịp nhàng khi khâu tiêu thụ được tổ chức tốt nhằm quay vòng vốn nhanh,
tăng hiệu suất sinh lời,...
Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh là hiện tượng tất yếu. Nó vừa là
cơ hội vừa là thử thách đối với mỗi doanh nghiệp. Cơ chế thị trường cho phép
đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp
nào tổ chức tốt nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá đảm bảo thu hồi vốn và có lãi sẽ
có điều kiện tồn tại và phát triển. Ngược lại, doanh nghiệp nào tỏ ra “non
kém” trong tổ chức hoạt động kinh doanh thì chẳng bao lâu sẽ đi đến bờ vực
phá sản. Thực tế của nền kinh tế nước ta đã và đang chứng tỏ điều đó.
Bước sang năm 2008, thời gian 1 năm kể từ khi Việt Nam chính thức
là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việc tiêu thụ
hàng hoá của các doanh nghiệp thương mại phải đối mặt với không ít những
khó khăn và thử thách. Một là, sự gia tăng ngày càng nhiều của các doanh
nghiệp với các loại hình kinh doanh đa dạng làm cho sự cạnh tranh ngày càng
trở nên gay gắt. Thêm vào đó, cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế và
tham gia và “sân chơi chung” là WTO, các doanh nghiệp Việt Nam còn phải
đối mặt với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài. Hai là cơ chế
quản lí kinh tế còn nhiều điều bất cập gây không ít khó khăn trở ngại cho các
1
doanh nghiệp, hệ thống luật pháp không chặt chẽ và chồng chéo. Do vậy, để
có thể đứng vững trên thương trường thì doanh nghiệp phải tổ chức tốt công
tác tiêu thụ hàng hoá, có chiến lược tiêu thụ thích hợp cho phép doanh nghiệp
chủ động thích ứng với môi trường, nắm bắt các cơ hội, dự báo trước những
cường sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế
đang hội nhập mạnh mẽ. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài này
sẽ giúp tôi có thể phát triển một số kỹ năng, tiếp thu thêm nhiều kinh nghiệm
giúp ích cho các công việc sau này.
Phương pháp nghiên cứu
Đầu tiên, chuyên đề này đã sử dụng phương pháp nghiên cứu là phép
biện chưng duy vật của C.Mác và Ăng-ghen. Tức là thế giới vật chất là một
thể thống nhất, tất cả các hoạt động diễn ra trên thế giới vật chật đều vận động
và liên hệ mật thiết với nhau. Môi trường kinh tế luôn luôn thay đổi không
ngừng, một sự việc bất kỳ nào đó cũng sẽ dẫn đến một nguyên nhân tất yếu.
Và tât nhiên hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng không nằm ngoài quy luật
trên, những sự thay đổi từ chiến lược kinh doanh của công ty, từ một chính
sách kinh tế của Nhà nước hay từ môi trường kinh doanh khách quan bên
ngoài như: Việt Nam là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO),… chắc chắn sẽ dẫn đến sự thay đổi về tình hình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, và tất nhiên hoạt động tiêu thụ sản phẩm phải có sự thay
đổi để phù hợp với chiến lược chung của doanh nghiệp
Mặt khác, sử dụng phương pháp biện chứng duy vật cho ta biết mọi
vật đều phát triển từ thấp đến cao, từ chất cũ đến chất mới. Trong hoạt động
tiêu thụ sản phẩm cũng vậy, muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động này thì
3
doanh nghiệp phải luôn cố gắng xây dựng các mối quan hệ với khách hàng,
nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ càng hoàn hảo hơn đến với
người tiêu dùng.
Ngoài ra, để hoàn thiện hơn chuyên đề còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
thống kê
4
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THÉP VIỆT
NAM VÀ CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI NHẬT QUANG
thể thấy đó cũng là lời cảnh báo mạnh mẽ cho các doanh nghiệp Việt Nam và
các bộ ngành trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho ngành thép.
Những sự thách thức với thép Trung Quốc không chỉ đến với những sản
phẩm đang có mặt trên thị trường mà còn với cả những dự án đang và chuẩn
bị đầu tư lớn của Tổng công ty thép, của Tycoons hay Posco… Và có một
điều rất dễ nhận ra là khi môi trường đầu tư đầy rủi ro thì rất khó để thu hút
dòng vốn FDI.
Từ đầu năm đến nay, số lượng phôi thép và thép xây dựng nhập khẩu qua
cửa khẩu Lào Cai đường bộ và đường sắt tăng đột biến. Tại cửa khẩu đường
bộ Lào Cai, đã nhập khoảng 100 nghìn tấn phôi thép, 20 nghìn tấn thép cuộn
loại phi 6. Tại cửa khẩu đường sắt Lao Cai đã nhập khoảng 26 nghìn tấn phôi
thép và thép cuộn xây dựng. Hiện tại, có 12 doanh nghiệp trung ương và địa
phương, công ty TNHH tư nhân tham gia nhập khẩu. Đây là sự gia tăng đột
biến cả về số doanh nghiệp tham gia và số lượng phôi thép, thép cuộn nhập
khẩu ở cửa khẩu Lào Cai từ trước đến nay.
Những thông tin trên đòi hỏi các doanh nghiệp Thép cần thận trọng, phân
tích những hướng đi đúng đắn để có thể tránh khỏi bị loại ra khỏi cuộc cạnh
tranh đầy cam go và thử thách, khi mà đến năm 2010 mà một số loại thép sẽ
chịu mức thuế bằng không khi nhập khẩu vào Việt Nam.
1.1.2/ Phát triển ngành công nghiệp thép Việt Nam
Ngành thép Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành công trong phát triển!
Nhưng cũng có thực tế là từ hơn 10 năm nay, trong khi thị trường thép Việt
6
Nam phát triển rất mạnh, thì công nghiệp thép lại chưa phát triển tương ứng.
Và đó là điều bất bình thường của ngành thép Việt Nam.
Tại Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010 (ban hành
năm 2001), Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2005: sẽ đạt sản lượng sản xuất
1,2 - 1,4 triệu tấn phôi thép; 2,5 - 3,0 triệu tấn thép cán các loại; 0,6 triệu tấn
sản phẩm thép gia công sau cán. Còn đến năm 2010, kế hoạch đặt ra sẽ đạt
mức: sản xuất 1,8 triệu tấn phôi thép, 4,5 - 5,0 triệu tấn thép cán các loại; và
tiêu thụ, giá thép trên thị trường Việt Nam vẫn tăng với tốc độ rất nhanh.
Trong 5 năm (2003 - 2008) giá thép đã tăng gấp đôi. Và chỉ trong vài tháng
cuối năm 2007, đầu năm 2008, giá thép đã tăng tới 4 lần, lên tới "ngưỡng"...
18 triệu VND/tấn như hiện tại! Giá thép tăng gấp, không những làm các nhà
thầu xây dựng, người tiêu dùng khốn đốn; mà đã ảnh hưởng trực tiếp tới nền
kinh tế. Vì Nhà nước buộc phải bù giá vài nghìn tỷ VND cho các nhà thầu;
đồng thời yêu cầu khẩn trương ban hành quy chế mới xác định giá vật liệu
xây dựng đảm bảo sát với diễn biến của thị trường.
Có không ít ý kiến đã khẳng định thép tăng giá là do phân phối thao túng.
Hiệp hội Thép Việt Nam - với số hội viên hiện chiếm trên 80% sản lượng
thép xây dựng - thừa nhận hiện việc đầu cơ giá thép là có thật với hình thức
găm hàng để chờ giá. Cũng theo Hiệp hội thép, thực tế kinh doanh thép hiện
tại chỉ bán qua đại lý đã tạo điều kiện cho giới kinh doanh thép có cơ hội thao
túng giá. Thừa nhận này rõ ràng là nghiêm trọng. Vì Chính phủ đã chính thức
có ý kiến yêu cầu các ngành chức năng phải tăng cường giám sát "xử lý
nghiêm những vi phạm về liên kết độc quyền giá, nâng giá thép thành phẩm
bất hợp lý" (Công văn 1609/VPCP-KTTH của Chính phủ ngày 14/3/2008).
8
Dựa vào những thừa nhận của Hiệp hội thép và phản ứng của Chính phủ,
chúng ta có thể khẳng định thực tế thị trường thép Việt Nam hiện nay đang
chỉ do một số đầu mối phân phối thép làm chủ. Xa hơn, các nhà sản xuất thép
Trung Quốc cũng đang chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Vì sản lượng thép
thành phẩm nhập về Việt Nam từ Trung Quốc đang ngày càng tăng, đặc biệt
là phôi thép. Với những điều chỉnh về thuế của chính phủ Trung Quốc trong
thời gian gần đây, không ít DN Việt đã công bố ý định, thậm chí nhập khẩu
thép thành phẩm của Trung Quốc để sử dụng thay cho thép trong nước sản
xuất. Và trong thời gian trước mắt, đó dường như là giải pháp kinh doanh có
lợi nhất đối với DN.
Đối với các nhà quản lý và không ít DN, thực tế ấy là hạn chế, nhưng cũng
lại là cơ hội để ngành thép trong nước phát triển. Bằng chứng là có hàng loạt
giá trên thị trường, các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Thép như Thép Thái
Nguyên, Thép miền Nam đã buộc phải tăng giá, tuy nhiên việc tăng giá cũng
hạn chế chỉ từ 100-200 nghìn đồng/tấn, nhưng giá này vẫn thấp hơn giá của
các công ty ngoài (không thuộc Tổng công ty Thép) từ 500 nghìn - 1 triệu
đồng/tấn. Do biết được thông tin này, một số doanh nghiệp thương mại đã đặt
hàng của hai công ty Thép Thái Nguyên và Thép miền Nam với số lượng
hàng nghìn tấn và trả tiền trước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thương mại
đã tích trữ tới vài vạn tấn thép đợi đợt tăng giá thép mới bán ra. Theo một số
chuyên gia trong ngành thép cho biết, với tốc độ phát triển nhanh cùng với
nhu cầu xây dựng tăng cao thì nhu cầu thép của thị trường trong năm 2008
tăng khoảng 20% so với năm 2007, sẽ khiến giá thép tiếp tục tăng cao trong
thời gian tới. Tuy nhiên, sẽ không có chuyện khan hiếm hàng, bởi các doanh
nghiệp không hề giảm sản lượng mà ngược lại còn tăng lên. Theo thống kê
10
của Hiệp hội Thép, trong mấy tháng cuối năm 2007 sản lượng thép tăng khá
cao, trung bình đạt 330 nghìn tấn/tháng, nhất là trong tháng 10/2007 sản
lượng thép đạt mức 380 nghìn tấn.
1.1.4/ Thị trường thép tấm, thép lá và xà gồ
Thị trường thép tấm, lá và xà gồ nói chung cũng có tình trạng tương tự như
thị trường ống thép đó là cung không đủ đáp ứng cầu, gía cả phụ thuộc và lên
xuống theo giá nguyên liệu đầu vào và nhu cầu của khách hàng. Đôi khi sự
lên xuống đó là thất thường. Gía thép tấm, lá vào hai quý cuối năm 2007 có
xu hướng tăng mạnh do nguồn cung thế giới giảm mạnh và nhu cầu trong
nước tăng cao, trong khi năng lực sản xuất toàn ngành không đáp ứng được
nhu cầu Đến năm 2008 thì giá thép tấm, lá lại tăng gấp đôi so với giá năm
2005. Riêng đối với thị trường xà gồ thì do điều kiện thời tiết nước ta vẫn
chưa vào mùa mưa nên các công trình công nghiệp vẫn đang được xây dựng
nhiều. Do vậy làm cho nhu cầu, giá cả xà gồ tăng lên nhưng tăng một cách
chậm dần.
Sau khi nước ta gia nhập WTO được một năm, nhu cầu đầu tư xây dựng
1.2.2/ Cơ sở hạ tầng, vật chất, kĩ thuật của nhà máy Đức Giang
Đối với Nhật Quang, nhà máy Đức Giang là một bộ phận quan trọng trong
hoạt động của công ty, nhà máy cán thép Đức Giang có hai hệ thống nhà
xưởng sản xuất và 3 kho hàng (kho cuộn, kho ống, kho băng), với diện tích
hơn 1600 m2, được xây dựng và thiết kế theo những tiêu chuẩn đảm bảo về
chất lượng được yêu cầu của hoạt động sản xuất và lưu kho.
Hệ thống các máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất, lưu kho
và phân phối bao gồm:
12
Máy cắt dùng để cắt tôn cuộn ra thành các loại tôn tấm khác nhau theo
độ dày. Gồm 4 cái: Máy cắt loại 3 li, loại 4.5 li, máy cắt tự động.
Máy xả băng gồm 4 cái: Dùng để xả tôn cuộn ra thành các bản băng là
nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất ống thép, xà gồ.
Máy ống gồm 3 cái: CD 20, CD 50, CD 76 để sản xuất ra các loại ống
tương ứng là ống nhỏ, ống trung bình, ống lớn.
Máy xà gồ có 5 cái để sản xuất ra 3 loại xà gồ khác nhau là U, C, Z.
Dàn cẩu trục gồm 10 cái có thể cẩu được hàng hoá có trọng lượng từ
5-20 tấn.
Một máy tôi để gia công một số loại thép nhằm đảm bảo độ cứng cần
thiết để phục vụ tiếp cho quá trình sản xuất.
Một hệ thống các thiết bị điện để chiếu sáng; để vận hành các loại máy
móc.
Một hệ thống cân gồm hai cân điện tử cố định và 6 cân treo điện tử mới
được mua sắm thêm để làm cho việc cân hàng trở nên linh hoạt hơn.
Một máy tiện, một máy rửa lưỡi cưa.
Nhìn chung các loại máy móc đều đang trong tình trạng sử dụng tốt, đáp
ứng được yêu cầu của sản xuất. Hơn nữa chúng luôn được bảo dưỡng định kì
để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, trôi chảy.
Nhà máy Đức Giang còn có:
Một toà nhà 2 tầng khang trang, với đầy đủ trang thiết bị hiện đại đảm
1.2.3.2/ Sự luân chuyển của dòng thông tin giữa khách hàng và công ty
Khách hàng khi có nhu cầu sẽ liên hệ với công ty qua hệ thống điện thoại
và fax để đặt hàng công ty. Công ty sẽ thông tin lại cho khách hàng biết khả
năng đáp ứng của mình, và nhiều những thông tin cần thiết khác.
14
Khách hàng có thể đưa ra những thông tin phản hồi tích cực và tiêu cực
đến công ty. Công ty sẽ cảm ơn, ghi nhận, và lưu tâm những phản ứng, góp ý
của khách hàng để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn.
Công ty cũng sẽ chủ động thông tin đến khách hàng những khi cần thiết
qua các kênh thông tin khác nhau, chẳng hạn như trong những chiến dịch
quảng cáo.
1.2.3.3/ Sự luân chuyển dòng hàng hoá, tiền tệ
Công ty nhập nguyên liệu đầu vào và thanh toán cho nhà cung ứng chủ
yếu thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng.
Nhà máy xuất hàng bán cho khách hàng, rồi thu tiền về (thường là tiền
mặt). Sau đó tiền mặt sẽ được chuyển một phần vào quỹ chung của công ty,
còn một phần thì được chuyển vào tài khoản ngân hàng.
1.2.4/ Khách hàng mục tiêu và đối thủ cạnh tranh của công ty
1.2.4.1/ Khách hàng mục tiêu
Khách hàng mục tiêu hiện nay của NQ bao gồm nhiều đối tượng khách
hàng khách hàng khác nhau: Các công ty thương mại, cửa hàng kinh doanh
sắt thép, vật liệu xây dựng, các công ty xây dựng, kết cấu thép, các công ty cơ
khí chế tạo. Trong số đó có một số công ty lớn, nổi tiếng trên thị trường đang
là khách hàng của NQ như Nhà máy ô tô Xuân Kiên, Công ty kim khí Thăng
Long, Công ty lắp máy LiLaMa Hà Nội, Công ty nội thất và điện lạnh Hoà
Phát v.v...
Hiện nay các công ty thương mại, và các cửa hàng chuyên doanh sắt thép
chiếm một tỷ trọng rất lớn (trên 90%) trong tổng số khách hàng của công ty.
Các công ty, cửa hàng này không phải là thành viên trong kênh phân phối của
NQ, mà hoàn toàn độc lập với NQ. Họ mua hàng hoá của công ty về, bán lại
hiệu của nhóm sản phẩm ống thép bị chi phối một phần bởi thương hiệu mẹ
SIMCO. Song VG Pipe vẫn có sự độc lập nhất định, có chiến lược phát triển
riêng. Tiêu chí định vị của VG Pipe là định vị dựa vào đặc tính chất lượng cao
của sản phẩm. Điều đó được thể hiện một phần qua khẩu hiệu: “Đẳng cấp
châu âu”. Logo của VG Pipe là một hình tròn chứa hai chữ VG được cách
điệu bên trong với màu xám và màu tím than phối hợp với nhau có thể làm
cho khách hàng liên tưởng đến màu sắc của sắt thép.
VG Pipe hiện nay thực hiện các hoạt động truyền thông thương hiệu qua
website (www.vgpipe.com), qua catalog.
Năm 2006, VG Pipe đạt sản lượng hơn 30.000 tấn ống thép các loại;
chiếm hơn 20% thị phần ống thép VN.
Mới bắt đầu gia nhập thị trường từ năm 2003, nhưng đến nay VG Pipe đã kịp
vươn lên là một trong 4 nhà máy sản xuất ống thép lớn, thương hiệu VG Pipe
đã được khẳng định, có uy tín trên thị trường VN và khu vực. Có thể nói rằng
VG PIPE là một đối thủ cạnh tranh rất lớn của Nhật Quang trên thị trường
ống thép.
Ống thép Hoà Phát thuộc Tập đoàn Hoà Phát là một trong những tập
đoàn kinh tế lớn hàng đầu Việt Nam. Thương hiệu Hoà Phát đã xuất
hiện trên thị trường Việt Nam từ lâu và đã tạo được niềm tin yêu
trong rất nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Mục tiêu của
thương hiệu Hoà Phát là trở thành thương hiệu nổi tiếng trên thị
trường thế giới. Thương hiệu ống thép Hoà Phát hiện nay không
thực hiện hoạt động quảng bá trên các phương tiện truyền thông đại
chúng, chỉ thực hiện quảng cáo trên các tấm pa nô khổ lớn ngoài
trời. Thương hiệu ống thép Hoà Phát cũng không có logo, khẩu hiệu
riêng. Nhưng do chịu ảnh hưởng tích cực từ thương hiệu Hoà Phát,
nên sản phẩm ống thép mang thương hiệu Hoà Phát từ khi gia nhập
17
thị trường đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của khách hàng và
đến nay đã có thị phần khoảng 25% thị trường ống thép Việt Nam.
trung thành, họ hoàn toàn tin tưởng rằng mức giá mà công ty đưa ra là hợp lý.
Ap lực cạnh tranh này chỉ đáng kể khi thương lượng với các khách hàng mới.
Nhà cung ứng cũng sẽ tạo nên áp lực cạnh tranh cho công ty thông qua
việc chào bán giá cao các nguyên liệu đầu vào. Nhưng các nhà cung ứng là
những đối tác lâu năm của công ty, nên sự ép giá đến từ các nhà cung ứng
cũng ít khi xảy ra.
Nhật Quang không chỉ phải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh hiện hữu
mà còn với những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có thể nhảy vào thị trường bất
cứ lúc nào. Những đối thủ này rất nguy hiểm ở chỗ bất ngờ xuất hiện, nếu như
công ty không có sự chủ động chuẩn bị về nguồn lực để đối phó từ trước thì
có thể sẽ phải “lao đao” trước những cơn “gió lạ”. Nhất là trong giai đoạn
hiện nay sau khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO,
nên những năm tới đây thị trường sắt thép chắc chắn sẽ có sự xuất hiện của
nhiều đối thủ đến từ nước ngoài. Họ hơn hẳn các doanh nghiệp trong nước về
nhiều mặt như nguồn lực tài chính lớn, công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý
tốt hơn...Do vậy mà tất cả các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh
vực sắt thép chứ không riêng gì NQ sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh lớn đến từ
những “đại gia” ngoại quốc này.
1.2.5/ Một số nét văn hoá đặc trưng của công ty
Phương châm hành động: Mọi hoạt động của công ty đều hướng theo thị
trường, lấy sư thoả mãn của khách hàng là mục tiêu phấn đấu, đồng thời là
19
động lực phát triển của Nhật Quang. Công ty luôn nỗ lực trong cải tiến chất
lượng sản phẩm, hoàn thiện các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách
hàng ngày càng tốt hơn.
Triết lý kinh doanh là: “Đoàn kết, hoà hợp cùng phát triển” và “Gắn liền
lợi ích, kết nối tương lai”. Theo triết lý kinh doanh, thì Công ty luôn coi nhân
tố con người là trung tâm của mọi hoạt động, là nền tảng thành công của
Công ty, lợi ích mà Công ty có được là từ sự đảm bảo lợi ích của các thành
viên và lợi ích của mỗi thành viên hoà hợp với lợi ích chung của công ty.
thành phẩm không tiên tiến, điều này gây nên một số hậu quả không tốt đến
công ty. Trong năm 2006, một số đơn hàng đã bị trả lại do không đạt yêu cầu
21
về chất lượng sản phẩm, một số sản phẩm bị sai sót trong quá trình sản xuất
nhưng máy kiểm tra chất lượng không thể phát hiện được. Vì vậy cuối năm
2006, lợi nhuận của công ty đạt không cao lắm, chỉ đạt 50% chỉ tiêu đề ra so
với kế hoạch (kế hoạch đặt ra đầu quí I năm 2006 là : lợi nhuấn sau thuế năm
2006 khoảng 1 tỷ đồng).
Bảng sau sẽ cho biết tình hình hoạt động sản xuất của nhà máy trong 3
năm qua :
BẢNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM THÉP CỦA NHÀ MÁY ĐỨC GIANG
Năm
Công suất
thiết kế
Sản lượng
sản xuất (cái)
Tỷ lệ huy
động công
suất tk (%)
2005 35.000 21.673 62
2006 45.000 34.870 74.5
2007 55.000 41.647 75.7
(Nguồn: phòng Kế toán –Tài chính)
2.1.2/ Tình hình kinh doanh của công ty TNHH Thương mại Nhật
Quang
Trong 3 năm: 2005, 2006, 2007 thị phần của tất cả các loại sản phẩm của
công ty đều có xu hướng tăng, năm sau tăng nhanh hơn năm trước, qua đó
công ty ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường miền Bắc.
Thị phần của công ty năm 2005 khu vực miền Bắc là 8%, năm 2006 thị phần
các sản phẩm thép của công ty là 10,3%, cho đến năm 2007 là 15%.
9. Thu nhập khác 31 33.600.000 33.600.000
10. CP khác 32 3.211.540 3.211.540
11. Lợi nhuận khác (40=31-32) 40 30.388.460 30.388.460
12. Tổng lợi nhuận trước thuế (50=30+40) 50 -2.204.663.349 -2.204.663.349
13. Thuế thu nhập DN phải nộp 51
14. Lợi nhuận sau thuế (60=50-51) 60 -2.204.663.349 -2.204.663.349
( Nguồn : Phòng Kế toán – Tài chính )
Từ bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh trên đây, ta có thể thấy rằng:
tình hình kinh doanh của công ty TNHH TM Nhật Quang khá kém hiệu quả,
công ty phải chịu lỗ hơn 2 tỷ đồng. Một nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng
kém hiệu quả như vậy, đó là doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ
không cao, lợi nhuận gộp về bán bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ đạt 3,2%
so với tổng doanh thu, tỷ suất về lợi nhuận quá thấp đã không bù đắp chi phí
bỏ ra. Bên cạnh đó chi phí tài chính và chi phí quản lý doanh nghiệp phải bỏ
23
ra đến gần 7 tỷ đồng đã vượt quá lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch
vụ. Từ những phân tích trên cho thấy công tác bán hàng và cung cấp dịch vụ
của công ty không tốt. Vì vậy trong năm 2006, công ty cần cải tiến công tác
bán hàng để đạt được doanh thu cao nhất.
2.1.2.2/ Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2006
Năm 2006 là một năm hoạt động kinh doanh khá tốt của công ty TNHH
TM Nhật Quang, công ty đã cải thiển khá nhiều mặt còn yếu của năm 2005,
và tạo đà phát triển cho năm 2007 – khi Việt Nam chính thức là thành viên
thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều đó được thể hiện vào
kết quả sản xuất kinh doanh 2006 sau đây:
24
BẢNG 4: BÁO CÁO KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
Từ ngày: 01/01/2006 đến ngày: 31/12/2006
( Nguồn : Phòng Kế toán – Tài chính )
Xét về mục chi phí trong báo cáo kết quả kinh doanh, phần lãi vay phải trả
DV(20=10-11)
20 10.548.973.521 5.340.997.490 10.548.973.521
4. Doanh thu hoạt động tài chính 21 27.828.078 29.521.546 27.828.078
5. CP tài chính 22 7.315.245.876 4.828.203.484 7.315.245.876
-Trong đó: Lãi vay phải trả 23 6.748.738.761 4.292.500.960 6.748.738.761
6. CP bán hàng 24 809.788.142 662.469.287 809.788.142
7. CP quản lý DN 25 2.334.909.736 2.114.898.074 2.334.909.736
8. Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD 30 116.857.845 -2.235.051.809 116.857.845
9. Thu nhập khác 31 636.132.5410 33.600.000 636.132.5410
10. CP khác 32 3.958.665 3.211.540 3.958.665
11. Lợi nhuận khác (40=31-32) 40 632.173.875 30.388.460 632.173.875
12. Tổng lợi nhuận trước thuế
(50=30+40)
50 749.031.720 -2.204.663.349 749.031.720
13. Thuế thu nhập DN phải nộp 51 194.897.723 194.897.723
14. Lợi nhuận sau thuế (60=50-51) 60 501.165.572 -2.204.663.349 501.165.572
25