Di sản nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Champa
Cách đây mười năm (1999), khu thánh địa của người Chăm ở Mỹ
Sơn, thuộc tỉnh Quảng Nam, đã được công nhận là di sản văn hoá
thế giới. Sự kiện này, ngoài những lợi ích cụ thể về mặt kinh tế địa
phương và du lịch ra, còn có một ý nghĩa quan trọng khác, đứng
về mặt văn hoá, nghệ thuật. Đó là : những di sản văn hoá, nghệ
thuật của người xưa để lại không phải là của riêng của một quốc
gia, một dân tộc, hay một cộng đồng văn hoá nào, mà là của chung
của nhân loại, do những giá trị nhân bản phổ biến của chúng.
Cách đây mười năm (1999), khu thánh địa của người Chăm ở Mỹ
Sơn, thuộc tỉnh Quảng Nam, đã được công nhận là di sản văn hoá
thế giới. Sự kiện này, ngoài những lợi ích cụ thể về mặt kinh tế địa
phương và du lịch ra, còn có m
ột ý nghĩa quan trọng khác, đứng về
mặt văn hoá, nghệ thuật. Đó là : những di sản văn hoá, nghệ thuật
của người xưa để lại không phải là của riêng c
ủa một quốc gia, một
dân tộc, hay một cộng đồng văn hoá nào, mà là của chung của
cảm của tâm hồn và khiếu thẩm mỹ của người xem ?
Tư thế và nụ cười an nhiên và bình thản của Siva, Tháp Bánh Ít,
Bình Định (thế kỷ XI)
Nghệ thuật, đạt tới một trình độ nào đó, có một sức truyền cảm
mãnh liệt, vượt qua mọi ranh giới văn hoá và tín ngưỡng.
Đứng trước những chiếc tháp Chăm uy nghiêm, hùng vĩ, hay đứng
trước một pho tượng vũ nữ Trà Kiệu mềm mại, uyển chuyển,
dù là
người Á đông, hay là người Âu, Mỹ, bạn đều có thể có được những
cảm xúc thẩm mỹ sâu sắc. Nghệ thuật Chăm, ở vào những thời kỳ
rực rỡ của nó, có một sức thuyết phục và một khả năng truyền
cảm mạnh mẽ, đó là dấu hiệu của những nền nghệ thuật lớn.
Vậy mà, dân tộc Chăm, người không đông, đất không rộng, lịch sử
của họ cũng không phải là có từ lâu đời, vẻn vẹn tất cả kể từ lúc
lập nước, thế kỷ II (192, theo Mã Đoan Lâm, sử gia Trung Quốc –
thế kỷ XIII, và nhiều giả thuyết của các học giả tây phương), cho
đến lúc mất nước, thế kỷ XIX (1832) được đúng 1640 năm. Lịch sử
nghệ thuật của họ lại còn ngắn ngủi hơn thế nữa, ít ra nếu chỉ tính
từ những thời kỳ hưng thịnh (bắt đầu từ thế kỷ VII), với những
tượng, tháp đầu tiên ở Mỹ Sơn, cho đến lúc suy vong (thế kỷ XV-
XVI), với các phong cách Yang Mum, Po Rome, Po Klaung Garai,
một phong cách nghệ thuật bắt đầu bị thoái hoá cùng với Ấn Độ
giáo đang đi vào giai đoạn suy đồi.
So với lịch sử nghệ thuật của các nền văn minh lớn như Ấn Độ,
Trung Quốc, hay lịch sử nghệ thuật Kitô giáo ở Âu châu, chẳng
hạn, thì đương nhiên không thể nào so sánh được. Song, về mặt
kiến trúc và nhất là về điêu khắc, nghệ thuật Chăm đã đ
ạt đến một
trình độ ngang bằng với những nền nghệ thuật lớn, ở quy mô thế
diệt. Các tháp Chiên Đàn, Khương Mỹ (Tam Kỳ, Quảng Nam),
tháp Dương Long (Bình Định), đều là những bộ ba tháp thờ cả ba
vị thần này ở cùng một nơi.
Song, nét đặc thù trong tín ngưỡng của người Chăm, so với các
dân tộc vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá
Ấn Độ, là họ chủ yếu thờ thần Siva, và do đó trong các tượng thờ,
tượng Siva có nhiều nhất và xuất hiện dưới nhiều hình thức nhất.
Thánh địa Mỹ Sơn, được bắt đầu xây dựng từ thế kỷ IV-V bởi vua
Bhadravarman, chính là nơi dành riêng cho các vua chúa đ
ể thờ vị
thần này.
Hiện tượng nghệ thuật điêu khắc Chăm không khỏi làm cho người
ta nghĩ đến những nền nghệ thuật của các dân tộc theo Ấn Độ giáo
và Phật giáo ở vùng núi Hy Mã Lạp Sơn, và cũng đã chịu nhiều
ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ : Népal, Tây Tạng, v.v. Các tác
phẩm nghệ thuật, đặc biệt là các bức tượng bằng kim loại và tranh
thờ của họ, đã làm cho thế giới phải ngạc nhiên.
Đó là những nền nghệ thuật tôn giáo, trong đó tất cả những biểu
hiện nghệ thuật đều có nội dung tôn giáo và nh
ằm phục vụ tôn giáo
(Bà La Môn giáo, Ấn Độ giáo và Phật giáo). Những truyện tích,
trong các tôn giáo tự chúng đã có tính chất đạo lý, và tính chất văn
học, nghệ thuật cao, cho nên chúng luôn luôn là những nguồn cảm
hứng phong phú, những động cơ thúc đẩy, tạo nên những tác
phẩm có sức thuyết phục, và sức truyền cảm mạnh mẽ. Thêm vào
đó là đức tin, là tình yêu, là lòng đam mê của những nghệ nhân
thực hiện các tác phẩm ấy.
Phải chăng, vì mục đích của tôn giáo là đem đến lời giải đáp cho
những nỗi đau khổ, và những khát vọng, của con người, cho nên
không lấy gì làm lạ là nghệ thuật tôn giáo trước hết là một nền
đầu của nhạc và múa trong văn hoá và tôn giáo của người Chăm.
Thần Siva thường được thể hiện trong động tác múa. Ngo
ài ra, còn
có cả tượng của những người dân thường (như tượng Người đàn
ông đóng khố, thế kỷ VI, nhưng đây chắc cũng là một “nhân vật”,
có thể là một đô vật, trong lễ hội của người Chăm.
Nói tóm lại, các tượng vũ nữ, tượng hàng vú, tượng thú vật, có
thật, hay thần thoại, đều là những tác phẩm có tính chất dân gian
rõ rệt. Tính chất đó được thể hiện không phải bằng những nét
châm biếm, hài hư
ớc, hoặc bằng những nét chạm khắc khoẻ mạnh,
mộc mạc, như trong nghệ thuật điêu khắc gỗ ở các đình chùa Việt
Nam thời Lý, Trần, Lê, song nó cũng toát ra được một sức sống
dồi dào, một niềm hưng phấn, thể hiện bằng những nhịp điệu và
hình khối sinh động.
Những biểu tượng như chiếc linga, hay vũ nữ, đều là những đề tài
được thể hiện dưới muôn hình dạng, được cách điệu hoá đến mức
trừu tượng, song ở mức độ nào thì người ta cũng nhận biết ra
ngay, và chấp nhận sự cách điệu đó một cách dễ dàng, một khi
những vật thể, hay những tín ngưỡng đó là những gì quá quen
thuộc, và trở nên một đề tài có tính chất dân gian.
Hiện tượng này càng cho ta thấy, là ở đằng sau nghệ thuật bao giờ
cũng có cả một nền văn hoá. Ở đây chủ yếu là tín ngưỡng, nhưng
trên cái nền phông tín ngưỡng ấy, là cả một cõi nhân gian có thật
và đầy sự sống : chiếc linga với ý nghĩa biểu tượng phồn thực và
tính dục, những vũ nữ điệu nghệ, duyên dáng, những tràng vú đầy
khêu gợi, những thú vật sinh động. Ngay cả thần Siva cũng nhảy
múa như người thường, với tất cả sự khêu gợi tính dục ! Trong
nghệ thuật tôn giáo của người Ấn Độ, Népal, hay Tây Tạng, ta
cũng đều bắt gặp hiện tượng này : lồng trong nghệ thuật, là văn