Chơng 1 ngân hàng thơng mại với hoạt động cho vay
trung và dài hạn
1.1. ngân hàng thơng mại và vai trò của ngân hàng thơng mại trong nền kinh tế thị
trờng.
Khái niệm về Ngân hàng thơng mại.
Nghề kinh doanh tiền tệ ra đời gắn liền với quan hệ thơng mại. Trong thời
kỳ cổ đại đã xuất hiện việc giao lu thơng mại giữa các lãnh địa với các loại tiền
khác nhau lu hành thì nghề kinh doanh tiền tệ xuất hiện để thực hiện nghiệp vụ đổi
tiền. Mác viết nghề đổi tiền ng ời ta coi là một trong những nền tảng phát sinh
một cách tự nhiên của nghề buôn bán tiền hiện thời .
Những nghiệp vụ đầu tiên của tổ chức kinh doanh tiền tệ bao gồm: đổi tiền,
nhận tiền gửi và bảo quản tiền, cho vay và chuyển tiền. Nghiệp vụ cho vay trong
thời kỳ này là cho vay nặng lãi.
Đến thời kỳ phục hng các tổ chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở
rộng thêm nhiều nghiệp vụ mới nh chi trả bằng thơng phiếu, tổ chức thanh toán bù
trừ, thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh Chính trong thời kỳ này một số tổ chức
kinh doanh tiền tệ đã ra đời và có tính đặc trng nh Ngân hàng thời nay đồng thời
NHTM cũng thành lập.
Ngân hàng thơng mại (NHTM) là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà
nhiệm vụ chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho
vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. NHTM không trực tiếp tham gia sản
xuất và lu thông hàng hoá nhng nó góp phần phát triển nền kinh tế xã hội thông
qua việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, thực hiện chức năng trung gian
thanh toán và dịch vụ ngân hàng để giúp cho quá trình hoạt động sản xuất đợc tiến
hành một cách thờng xuyên liên tục.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng đã làm cho NHTM đã ra
đời, đó là một tất yếu khách quan đồng thời để đáp ứng đợc nhu cầu về vốn cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đầy sự phát triển của toàn bộ
nền kinh tế quốc dân.
1.1.2. Các chức năng của Ngân hàng thơng mại.
Ngân hàng thơng mại ra đời và phát triển trên cơ sở nền sản xuất hàng hóa
đầy đủ cho Nhà nớc, mà còn có tích luỹ, đảm bảo sự phát triển không ngừng của
bản thân Ngân hàng.
Với chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế một chức năng cơ bản
nhất và quan trọng nhất của Ngân hàng thơng mại. Ngân hàng thơng mại đã góp
phần quan trọng vào việc điều hoà lu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền,
kiềm chế lạm phát.
b. Trung gian thanh toán
Nếu nh mọi khoản chi trả của xã hội đều đợc thực hiện ở bên ngoài Ngân
hàng thì chi phí lu động bỏ ra để thực hiện những hoạt động này sẽ rất lớn. Chúng
bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền, chi phí tiếp nhận bảo quản,
vận chuyển tiền của ngời trả và ngời nhận,
Từ khi Ngân hàng thơng mại ra đời, phần lớn các khoản chi trả về hàng hoá
và dịch vụ của xã hội đều đợc thực hiện qua Ngân hàng với rất nhiều hình thức
thanh toán thích hợp, thủ tục đơn giản và kỹ thuật ngày càng tiên tiến.
Nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội vào Ngân hàng nên việc trao
đổi hàng hoá, dịch vụ trở nên thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm hơn rất
nhiều.
Không những vậy, thông qua thực hiện chức năng trung gian thanh toán,
Ngân hàng thơng mại có điều kiện huy động tiền gửi trong xã hội, phần lớn là của
các doanh nghiệp, từ đó tạo nguồn vốn cho vay và đầu t, góp phần đẩy mạnh hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng.
Chính qua chức năng này, Ngân hàng thơng mại đã góp phần giám sát kỷ
luật tài chính, giữ gìn kỷ cơng, trật tự trong toàn xã hội.
c. Chức năng tạo tiền
Nhờ hoạt động huy động vốn, cho vay và thanh toán mà các Ngân hàng th-
ơng mại có khả năng tạo tiền bằng cách chuyển khoản để thay thế cho tiền mặt.
Điều này đã đa Ngân hàng thơng mại lên vị trí là nguồn tạo tiền. Quá trình tạo tiền
của Ngân hàng thơng mại đợc nhân lên gấp bội khi Ngân hàng cho vay thông qua
cơ chế thanh toán chuyển khoản giữa các Ngân hàng. Sức tạo tiền của Ngân hàng
thơng mại phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ dôi d, giữa tiền gửi lu
Nhận tiền gửi của các tầng lớp dân c, của các tổ chức kinh tế - xã hội; vay của các
NH khác, các tổ chức tín dụng khác; huy động vốn bằng cách phát hành kỳ phiếu,
trái phiếu
1.1.3.2. Hoạt động cho vay, đầu t
Với nguồn vốn huy động đợc NHTM có thể sử dụng vào hoạt động cho vay,
đầu t cũng nh các hoạt động khác. Trong đó hoạt động cho vay đem lại nguồn lợi
nhuận chủ yếu cho NH lãi. Hoạt động cho vay ra có vai trò quyết định đến sự tồn
tại và phát triển của bản thân các NHTM. Bởi vì nếu sau khi huy động vốn đợc mà
các NHTM không cho vay đợc để thu lãi thì NH sẽ không có tiền để trang trải
khoản chi phí huy động nguồn vốn của NH sẽ bị ứ đọng, hoạt động của NH sẽ
không phát triển đợc, thậm trí NH có thể thua lỗ và phá sản.
Hoạt động cho vay, đầu t của các NHTM đợc thực hiện chủ yếu với các tổ
chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực SX - KD, thơng mại, dịch vụ NH cho họ
vay vốn với thời hạn và lãi suất khác nhau để các tổ chức kinh tế này có nguồn lực
tài chính phục vụ cho các hoạt động của mình. Bên cạnh đó, các NHTM cũng có
thể cho vay đối với các tầng lớp dân c, hộ gia đình, tổ chức xã hội phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng, hay sản xuất kinh doanh
1.1.3.3. Các dịch vụ của Ngân hàng thơng mại.
Ngoài nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn các Ngân hàng thơng mại
còn có thể cung cấp các dịch vụ cho khách hàng và thu lệ phí thực hiện dịch vụ đó.
Ngày nay khi công nghệ ngân hàng ngày càng phát triển thì các hoạt động này
cũng ngày càng phát triển. Các nghiệp vụ này bao gồm:
Dịch vụ thanh toán: Với nghiệp vụ này, Ngân hàng thực hiện thanh toán
theo các yêu cầu của khách hàng và nhận dịch vụ thanh toán. Về mặt kỹ thuật các
nghiệp vụ này đợc thực hiện nhờ các chứng từ chuyển tiền nh: Séc chuyển tiền,
phiếu chuyển tiền Hoặc đối với khách hàng có tài khoản tại ngân hàng thì ngân
hàng cũng có thể thực hiện các yêu cầu của khách hàng liên quan đến các tài
khoản của họ nh yêu cầu thu hộ, chi hộ, thông qua các loại chứng từ nh: Uỷ nhiệm
thu, uỷ nhiệm chi, séc
Việc Ngân hàng đứng ra thực hiện các dịch vụ này giúp cho khách hàng vừa
Thứ nhất, Ngân hàng thơng mại giúp các doanh nghiệp có vốn đầu t mở
rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trờng để mở rộng đợc quy mô sản xuất đòi hỏi doanh
nghiệp phải có lợng vốn lớn để đổi mới thiết bị và công nghệ lạc hậu, áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Trong điều kiện đó, Ngân hàng thơng
mại một mặt đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn thiếu hụt, cung cấp dịch vụ
thanh toán và các dịch vụ khác nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tốt kế
hoạch sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, thông qua các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, tiền tệ, các Ngân
hàng thơng mại hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh.
Thứ hai, các Ngân hàng thơng mại góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực
giữa các vùng trong quốc gia, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trờng, các Ngân hàng thơng mại một mặt góp phần
hình thành duy trì và phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu ngành và khu vực nhất
định. Mặt khác, các Ngân hàng thơng mại góp phần điều chỉnh ngành, khu vực khi
xuất hiện sự phát triển mất cân đối hoặc khi cần có sự thay đổi cho phù hợp với
yêu cầu của thị trờng.
Thứ ba, Ngân hàng thơng mại tạo môi trờng cho việc thực hiện chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng.
Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ơng. Để thực
thi chính sách tiền tệ phải sử dụng các công cụ nh lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thị
trờng mở Nghiệp vụ chính các Ngân hàng th ơng mại là chủ thể chịu sự tác động
trực tiếp của những công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc
chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế. Bởi vì hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng thơng mại gắn liền với các hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể kinh tế. Mặt khác cũng qua Ngân
hàng thơng mại và các định chế tài chính trung gian khác, tình hình sản lợng, giá
cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, lãi suất, tỷ giá của nền kinh tế đ ợc phản
hồi về cho Ngân hàng trung ơng, để Chính phủ và Ngân hàng Trung ơng có những
Hoạt động của tín dụng Ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc 1 : Tiền vay đợc sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
Trớc tiên, theo nguyên tắc này, tiền vay phát ra phải đợc sử dụng đúng cho
các nhu cầu đã đợc Ngân hàng cho vay chấp thuận. Đó là các khoản chi phí, những
đối tợng thuộc và phù hợp với nội dung sản xuất kinh doanh của bên đi vay. Ngân
hàng có quyền từ chối và huỷ bỏ mọi yêu cầu vốn vay sai mục đích để hạn chế
những rủi ro cho tiền vay. Do đó, quán triệt nguyên tắc này, khi cho vay Ngân hàng
có quyền yêu cầu buộc bên vay phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết và
thờng xuyên giám sát quá trình sử dụng tiền vay.
Tính mục đích của tiền vay gắn liền với hiệu quả kinh tế của khoản vay.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bên vay gắn liền với hiệu quả cho
vay của Ngân hàng. Hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng vay vốn là cơ sở cho sự an toàn của khoản vay. Thiếu yêu cầu này
không thể nói đến sự tồn tại và phát triển của các quan hệ vay vốn. Vì vậy, hiệu
quả kinh tế của tiền vay đợc đa ra nh một sự đảm bảo, một sự cam kết của bên vay
vốn. Việc thoả thuận và sự cụ thể hoá nguyên tắc này nh một trong những điều
kiện cho vay đợc sử dụng là cơ sở để Ngân hàng thiết lập quan hệ tín dụng và
giám sát hoạt động của các khách hàng vay vốn.
Các bên hữu quan luôn luôn cố gắng xác định hiệu quả sử dụng tiền vay của
Ngân hàng. Mối liên quan hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn
nói riêng của khách hàng với hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng là tất
yếu, nhng có tính độc lập tơng đối. Thực tế đã cho thấy doanh nghiệp thành đạt ở
các ngành kinh tế mũi nhọn luôn luôn nhận đợc sự ủng hộ từ phía các Ngân hàng
và các nhà tài trợ.
Nguyên tắc 2 : Tiền vay phải đợc hoàn trả cả gốc lẫn lãi đầy đủ và đúng hạn
đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Đây là nguyên tắc quan trọng để duy trì hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng.
Trong nền kinh tế thị trờng, nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của tín
dụng đó là sự chuyển quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Trong
quyết, xử lý hậu quả của nó rất phức tạp. Điều này có ảnh hởng đến uy tín, sự tồn
tại và tơng lai phát triển của Ngân hàng.
Việc tuân thủ nguyên tắc này còn bảo đảm điều kiện vật chất (về thu nhập)
cho sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Hơn nữa, do phơng thức hoạt động của
ngành Ngân hàng là đi vay để cho vay nên tính hoàn trả của tín dụng càng đợc
khẳng định nh một cơ chế tồn tại của Ngân hàng.
1.2.2. Điều kiện cho vay
Điều kiện cho vay là những yêu cầu của ngân hàng đối với bên vay để làm
căn cứ xem xét, quyết định thiết lập quan hệ tín dụng. Các khách hàng muốn đợc
vay vốn ngân hàng phải có điều kiện cơ bản sau đay :
Thứ nhất : Điều kiện về t cách pháp lý.
Khách hàng là pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự. Khách hàng là
t nhân kinh doanh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Các hoạt
động của bên vay phải hoạt động theo đúng pháp luật hiện hành của Việt Nam,
nh có đăng ký kinh doanh, có tài khoản tại ngân hàng, thực hiện đúng chính sách
thuế của Nhà nớc .
Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nớc ngoài : Phải có năng
lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nớc
mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nớc
ngoài đó đợc Bộ Luật Dân sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam các
văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc đợc điều ớc quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định.
Thứ hai: Hiệu quả sản xuất kinh doanh có lãi, nếu bị lỗ thì phải có phơng án
khả thi khắc phục, hoặc đợc cơ quan có thẩm quyền xác nhận cấp bù lỗ.
Thứ ba: Phải có đủ khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay
theo quy định theo hợp động tín dụng.
Thứ t : Phải có dự án, ph ơng án sản xuất kinh doanh, ph ơng án tiêu dùng
khả thi và có hiệu quả kinh tế.
Thứ năm: Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của
Chính phủ và hớng dẫn của Ngân hàng.
tin bằng những phơng pháp thẩm định nhất định và đi đến những kết luận cụ thể,
xác đáng đợc ghi trong tờ trình thẩm định dự án xin vay vốn.
1.2.3.3 Ký hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng (hợp đồng cho vay) là một văn bản đợc ký kết giữa
Ngân hàng cho vay và khách hàng vay vốn, ghi nhận những thoả thuận giữa bên
cho vay và bên đi vay về đối tợng cho vay, điều kiện cho vay, hình thức cho vay,
số tiền cho vay, lãi suất cho vay, thời hạn cho vay (bao gồm thời hạn rút vốn, thời
hạn trả nợ và thời hạn ân hạn), tài sản đảm bảo cho vốn vay, cách thức trả nợ và
các cam kết khác.
1.2.3.4 Phát tiền vay
Việc phát tiền vay phải đợc thực hiện theo tiến độ thực hiện dự án đầu t của
đơn vị vay vốn và phải căn cứ vào các nhu cầu chi trả thực tế và mức cho vay đã đ-
ợc thông báo. Việc phát hành tiền vay có thể đợc thực hiện bằng nhiều cách nh:
Chuyển vào tài khoản tiền gửi của đơn vị thụ hởng, phát bằng tiền mặt cho chủ
đầu t, chuyển vào tài khoản tiền gửi của ban quản lý dự án.
1.2.3.5 Thu nợ
Đây là khâu chiếm vị trí rất quan trọng. Dựa vào thời hạn đã thoả thuận,
đơn vị vay vốn chủ động trả nợ đến hạn (bao gồm cả gốc và lãi) bằng việc phát
hành lệnh chi trích tài khoản tiền gửi thanh toán của mình và gửi lệnh đó đến
Ngân hàng cho vay, hoặc Ngân hàng cho vay chủ động trích tài khoản tiền gửi của
đơn vị vay để thu nợ.
Khi thu nợ đến hạn có thể xảy ra tình trạng doanh nghiệp vay vốn không trả
nợ đúng hạn. Nếu là do hoàn cảnh khách quan, Ngân hàng cho vay sẽ gia hạn nợ
thêm một kỳ hạn trả nợ và chỉ gia hạn một lần trong suất quá trình thu nợ. Nếu là
do lỗi chủ quan của doanh nghiệp, Ngân hàng cho vay sẽ có biện pháp phạt thích
hợp.
Nói tóm lại việc chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc, điều kiện và quy
trình nghiệp vụ cho vay nói chung và quy trình nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn
nói riêng là rất quan trọng. Nó giúp bản thân các Ngân hàng cũng nh các tổ chức
sản xuất kinh doanh tồn tại, đứng vững trên thị trờng và góp phần thúc đẩy nền
suất và tỷ trọng hợp lý sẽ đảm bảo thắng lợi cho hoạt động của NH.
+ Về phía khách hàng: Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả khoản vay đó là:
Phơng án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trờng, trình độ và tính cách của chủ doanh nghiệp, đội ngũ nhân
viên và trang thiết bị máy móc. Nếu các yếu tố trên đợc đảm bảo thì nguồn vốn
vay sẽ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn
trả các khoản nợ đúng thời hạn.
Đạo đức kinh doanh: Vấn đề đạo đức kinh doanh của khách hàng vay vốn
cũng là một nhân tố rất nhảy cảm đối với chất lợng của khoản tín dụng. Hoạt động
trong nền kinh tế thị trờng thì việc Ngân hàng gặp phải những trờng hợp lừa đảo là
không ít. Thật vậy, khi Ngân hàng cha nắm bắt đợc chính xác, đầy đủ những thông
tin cần thiết về khách hàng vay vốn mà khách hàng lại tận dụng điều này để đến
giao dịch. Ngân hàng thờng đối mắt với hai vấn đề: lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức. Cụ thể, trong số khách hàng đến vay vốn Ngân hàng không thể xác định
đợc cho vay đối với ai thì tốt hơn và có khả năng thu hồi nợ cao hơn. Bên cạnh đó,
sau khi đã xét duyệt cho vay thì Ngân hàng thờng không xác định đợc mức độ
trung thực của các báo cáo của các đơn vị vay vốn, và lúc này Ngân hàng có nguy
cơ gặp rủi ro. Ngời vay vốn thay vì sử dụng vốn Ngân hàng theo mục đích đã cam
kết trong khế ớc vay nợ lại có thể dùng vốn vay NH để đầu t vào một lĩnh vực kinh
doanh khác có độ rủi ro cao hơn hay các hoạt động đầu cơ khác, và nguy cơ thất
bại tăng lên.
Đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn luôn là thách thức đối với
các NHTM trong việc quản lý chất lợng hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng
trung và dài hạn nói riêng. Nếu khách hàng vay vốn làm ăn tốt, có uy tín, có đạo
đức tốt thì sẽ làm tăng chất lợng hoạt động tín dụng và ngợc lại.
Nhân tố khách quan:
Môi trờng tự nhiên: Do thiên tai, địch hoạ, đây là những biến cố ngẫu nhiên
gây ra thiệt hại nằm ngoài tầm kiểm soát của con ngời gây ra thiệt hại. Chu kỳ sản
suất kinh doanh của doanh nghiệp khi mang tính mùa vụ nếu xảy ra các biến cố
nói trên sẽ làm mọi dự tính của doanh nghiệp đổ vỡ thì sẽ ảnh hởng rất lớn đến
Từ Liêm. Từ khi thành lập chi nhánh đã phải đổi tên nhiều lần. Việc thay đổi tên
nhằm mục đích phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế và phù hợp với các hoạt
động của Ngân hàng.
Chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm đợc thành lập vào ngày 01/07/1963 với
tên gọi sơ khai là chi điếm Ngân hàng Nhà nớc huyện Từ Liêm. Từ khi thành lập
đến năm 1988 Ngân hàng Từ Liêm chỉ là một chi nhánh Ngân hàng đảm nhận
nhiệm vụ huy động tiết kiệm trong địa bàn huyện. Hoạt động Ngân hàng thời kỳ
này thực chất là thay ngân sách Nhà nớc cấp phát vốn tiền mặt cho các đơn vị theo
kế hoạch của hoạt động tín dụng mang tính chất bao cấp, đồng vốn cho vay phục
vụ là chính, không tính đến hiệu quả kinh tế. Trong giai đoạn này chi nhánh
NHNo và PTNT Từ Liêm là chi nhánh bội chi, ngân sách do Ngân hàng Nhà nớc
cấp để chi trả cho ngân sách của huyện, địa phơng cũng nh các đơn vị sự nghiệp.
Từ khi Đảng và Nhà nớc thực hiện chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN, có sự quản lý của Nhà
nớc, đồng thời tiến hành chuyển hệ thống ngân hàng từ một cấp thành hệ thống
ngân hàng hai cấp (1988). Với sự tách bạch chức năng thì hệ thống NHTM mới
thực sự ra đời.
Sau đó với quyết định số 53/HĐBT, ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ tr-
ởng, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đợc thành lập. Cũng trong năm đó ngày
01/08/1988, chi nhánh Từ Liêm chuyển thành chi nhánh NHNo huyện Từ liêm
trực thuộc chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp Thành phố Hà Nội. Song những năm
gần đây thực hiện chủ trơng của Đảng và Nhà nớc: Phát triển nông nghiệp gắn liền
với sự nghiệp phát triển nông thôn, quyết định số 280/QĐ-NH5 ngày 15/06/1996
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc đổi tên Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam
thành NHNo và PTNT Việt Nam, do đó chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp huyện
Từ Liêm đổi tên thành chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm. Nh vậy, từ một ngân
hàng nhỏ bé mà hoạt động là thay ngân hàng nhà nớc thực hiện việc cung cấp vốn
cho các doanh nghiệp Nhà nớc, chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm hiện nay trở
thành một tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thị trờng, chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm đã thực sự
2.1.1.2. Tình hình hoạt động của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Từ Liêm trong những năm qua (năm 2002-2004).
Từ năm thành lập (1963), chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm đã trải qua rất
nhiều khó khăn thách thức nhng bên cạnh đó chi nhánh cũng đã có những chuyển
biến tích cực góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam, đến thời điểm bây giờ chi
nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm không phải là một đơn vị thay cho ngân sách cấp
phát vốn cho các đơn vị theo kế hoạch, hoạt động tín dụng mang tính bao cấp mà là
một chi nhánh độc lập đợc quyền kinh doanh tiền tệ tín dụng và các dịch vụ Ngân
hàng khác phục vụ khách hàng trên phạm vi trong nớc và quốc tế.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình chi nhánh luôn cải cách bộ
máy quản lý và sắp xếp đội ngũ cán bộ công nhân viên cho phù hợp với từng khâu
công việc và đáp ứng đợc những yêu cầu của nền kinh tế thị trờng đồng thời chi
nhánh cũng luôn bám sát các chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc và sự chỉ
đạo của NHNo và PTNT Việt Nam.
Từ khi chuyển sang cơ chế hoạt động của một Ngân hàng thơng mại, chi
nhánh đã dần dần hoà nhập vào nền kinh tế thị trờng, với việc áp dụng công nghệ
Ngân hàng tiên tiến, hoạt động có bài bản và với thái độ tận tình, chu đáo, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho khách hàng, áp dụng linh hoạt các hình thức huy động vốn
cả ngoại tệ và nội tệ từ dân c và từ các tổ chức kinh tế, do sự đóng góp tích cực
tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nên chi nhánh đã dần dần thích nghi với
Phòng
thẩm
định
Giám
đốc
Phó giám đốcPhó giám đốc
Phó giám đốc
Phòng
tín
dụng
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2002
Năm
2003
Tỷ lệ
2003/2002
(%)
Năm
2004
Tỷ lệ
2004/2003
(%)
Tổng vốn huy động 1073 1345 +25,3 1614 +20
Doanh số cho vay 900 1467 +63 1773 5,41
Doanh số thu nợ 580 1472 +153,7 1428 - 3
Tổng d nợ 670 1100 +64,18 1446 31,45
(Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động tín dụng năm 2002, 2003, 2004)
2.1.1.3. Tình hình huy động vốn.
Huy động vốn là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với hệ thống Ngân
hàng nói chung cũng nh của chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm nói riêng nhất là
trong điều kiện nền kinh tế thị trờng luôn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các
NHTM trong việc thu hút khách hàng. Tuy nhiên, cùng với sự nỗ lực cố gắng của
toàn chi nhánh và phơng châm hoạt động là đi vay để cho vay chi nhánh NHNo
và PTNT Từ Liêm đã hết sức coi trọng công tác huy động vốn và cho đây là một
trong những công tác chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh ngân hàng nên chi nhánh luôn luôn chú trọng đến công tác huy động vốn
tại chỗ đồng thời Ngân hàng cũng rất coi trọng chiến lợc khách hàng trong huy
động vốn và đa ra mọi biện pháp nhằm khai thác nguồn vốn trên địa bàn nh: Tổ
40,8
21,8
1009
656
353
62,5
40,5
22
3. Kỳ phiếu 538 50,13 24 1,8 29 2
B. Ngoại tệ: 157 14,63 160 11,8 192 11,9
(Nguồn : Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng của NHNo và PTNT Từ liêm)
Qua bảng số liệu trên ta thấy: tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng
trong những năm qua đã không ngừng tăng lên. Năm 2002 tổng huy động vốn là
1073 tỷ đồng, năm 2003 tăng hơn so với năm 2002 là 25,35% tơng ứng với 272 tỷ
đồng, trong đó tiền gửi tiết kiệm tăng 216,16% tơng ứng 575 tỷ đồng; Vốn huy
động từ các tổ chức kinh tế tăng 208 tỷ đồng tỷ lệ tăng 185,7%, Năm 2004 tổng
nguồn vốn huy động tăng hơn so với năm 2003 là 22,01% tơng ứng 296 tỷ đồng
trong đó tiền gửi tiết kiệm tăng 19,97% tơng ứng 168 tỷ đồng, tiền gửi của các tổ
chức kinh tế tăng 20% tơng ứng 64 tỷ đồng. Điều này không những giúp cho chi
nhánh có đợc số lợng vốn lớn, mà còn thiết lập đợc mối quan hệ chặt chẽ với các
tổ chức kinh tế, từ đó làm cho các khoản mục thu nhập về dịch vụ của Ngân hàng
sẽ tăng lên. Trong cơ cấu nguồn vốn huy động, nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ
cũng là một nguồn rất quan trọng trong các nguồn vốn của chi nhánh NHNo và
PTNT nên trong thời gian qua chi nhánh luôn tăng cờng mở rộng các hình thức
huy động ngoại tệ nên đã làm cho nguồn vốn bằng ngoại tệ cũng không ngừng
tăng lên nh năm 2002 là 157 tỷ đồng, năm 2003 là 160 tỷ đồng và năm 2004 là
192 tỷ đồng. Với nguồn vốn ngoại tệ này đã góp phần cho Chi nhánh ngân hàng
có thể đáp ứng đợc nhu cầu về ngoại tệ cho các khách hàng. Điều này chứng tỏ
Ngân hàng đã có những biện pháp huy động vốn khá hợp lý, đây là cơ sở vững
chắc cho việc mở rộng đầu t, quy mô tín dụng của Ngân hàng. Tuy nhiên, nếu so
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mọi Ngân hàng, nhất là trong điều kiện
hiện nay với nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều khởi sắc, với sức cạnh tranh hết
sức gay gắt giữa các NHTM, giữa các tổ chức tài chính, tín dụng nhng bên cạnh
đó, chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm cũng đã tìm đợc đầu ra đồng thời còn đợc
quan tâm chú trọng hơn đến công tác quản lý và sử dụng các nguồn vốn bởi vì
công tác quản lý và sử dụng vốn chính là khâu quyết định đến lợi nhuận của Ngân
hàng và giúp cho công tác huy động vốn hoạt động thuận lợi hơn. Chi nhánh luôn
chú trọng phát triển để hoạt động sử dụng vốn trở thành mảng hoạt động lớn nhất
chủ yếu nhất của chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm. Yêu cầu đặt ra là phải sử
dụng nguồn vốn mà Ngân hàng nắm giữ sao cho an toàn và hiệu quả nhất. Chi
nhánh đã cố gắng hết mình để không ngừng đẩy mạnh công tác này nhằm đáp ứng
tốt nhất các nhu cầu về vốn, chủ động tìm các dự án đầu t, tìm mọi cách để đến với
các khách hàng. Bám sát định hớng phát triển kinh tế địa phơng và định hớng mở
rộng kinh doanh của ngành, kết quả công tác đầu t tín dụng trong những năm qua
đã đạt nhiều kết quả tốt. Cho đến nay, số lợng khách hàng có quan hệ tín dụng với
chi nhánh ngày càng tăng lên, năm 2004 đã có 21/30 doanh nghiệp Nhà nớc trong
địa bàn có quan hệ tín dụng với chi nhánh và 65/100 doanh nghiệp ngoài quốc
doanh với doanh số cho vay ngày càng đợc tăng mạnh, cụ thể doanh số cho vay
trong năm 2002 là 900 tỷ đồng, năm 2003 là 1467 tỷ đồng, và đến năm 2004 :
1773 tỷ đồng, dự kiến sau này doanh số cho vay sẽ tiếp tục tăng hơn nữa.
2.1.1.5. Các hoạt động kinh doanh khác của chi nhánh NHNo và PTNT Từ
Liêm.
Trong xu thế hiện đại hoá hoạt động ngân hàng thơng mại, chi nhánh
NHNo và PTNT Từ Liêm thực hiện ngày càng nhiều các hoạt động dịch vụ nh:
dịch vụ thanh toán, mua bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu về vốn cũng nh nhu
cầu của nền kinh tế, nâng cao uy tín của mình trên thị trờng
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và dịch vụ thanh toán trong nớc và thanh
toán quốc tế ngày càng đợc mở rộng, năng cao cả về mặt số lợng lẫn chất lợng, đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ với doanh số hoạt động ngày càng tăng, đảm bảo
phục vụ ngoại tệ cho nhu cầu thanh toán và trả nợ của khách hàng cũng nh hoạt
cũng vậy, hoạt động Ngân hàng không có lãi thì không thể có bớc tăng trởng về
sau đợc.
Sự thành công của chi nhánh NHNo và PTNT Từ Liêm không những đợc
phản ánh qua các mặt hoạt động cụ thể mà nó còn đợc phản ánh qua sự tăng trởng về
thu nhập và lợi nhuận trong những năm qua, cụ thể nh bảng số liệu sau:
Bảng 3: Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh tại chi nhánh NHNo và PTNT Từ
Liêm từ năm 2002-2004
(Đơn vị :Tỷ đồng)
Chỉ tiêu
2002 2003 2004
ST ST
So với 2002
Tăng %
ST
So với 2003
Tăng %
Thu nhập 49,5 75 25,5 51,5 135 60 80
Chi phí 49 70 21 42,85 115 45 64,28
Lãi 0,5 5 4,5 900 20 15 300
(Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động của NHNo và PTNT Từ Liêm)
Nhìn chung trong những năm qua hoạt động kinh doanh tiền tệ tại chi nhánh
NHNo và PTNT Từ Liêm đã có sự tăng trởng rõ rệt về thu nhập lẫn lãi. Theo bảng
số liệu về tình hình kết quả kinh doanh trên ta thấy chi nhánh đã và đang hoạt động
kinh doanh có lãi một cách vững chắc, những năm về sau lãi cao hơn năm trớc. Tốc
độ tăng trởng thu nhập hàng năm đều cao hơn tốc độ tăng của chi phí hoạt động, do
đó lãi kinh doanh của chi nhánh tăng dần qua từng năm.
Năm 2003 thu nhập của hoạt động kinh doanh là 75 tỷ (tăng 25,5 tỷ đồng t-
ơng đơng với 51,5%), trong đó lãi là 5 tỷ đồng tăng 4,5 tỷ đồng so với năm 2002,
đến năm 2004 thu nhập là 135 tỷ đồng (tăng 60 tỷ đồng tơng đơng với 80%) với
lãi kinh doanh là 20 tỷ đồng tăng 15 tỷ đồng so với năm 2003.
thời gian cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn còn cho vay trung và dài hạn chiếm
tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng doanh số cho vay nhng việc cho vay trung và dài hạn
cũng tăng dần qua các năm, nh trong năm 2002 doanh số cho vay trung và dài hạn
của chi nhánh là 182 tỷ đồng, năm 2003 là 364 tỷ đồng, so với năm 2002 tăng 182
tỷ đồng (tăng 100%). Điều này có nghĩa là trong năm 2003 công tác cho vay trung
và dài hạn của chi nhánh là rất tốt đạt tốc độ tăng rất cao, tuy nhiên đến năm 2004
thì tổng doanh số cho vay trung và dài hạn lại giảm xuống còn 303 tỷ đồng, so với
năm 2003 là giảm xuống 61 tỷ tức là giảm 16,75% (nhng tỷ lệ giảm mạnh hơn ở
đây là loại cho vay dài hạn, năm 2003 là 82,5 tỷ đồng và năm 2004 là 18,3 tỷ đồng
tức là giảm xuống 64,2%. Riêng loai cho vay ngắn hạn thì vẫn tiếp tục tăng bình th-
ờng). Điều này có nghĩa là hoạt động cho vay dài hạn giảm xuống thì nó đã làm
giảm thiểu rủi ro, tuy nhiên loại cho vay này đã giảm thì làm giảm lãi của chi nhánh
vì cho vay dài hạn thờng có lãi suất cao hơn cho vay ngắn hạn. Một cách khác,
trong năm 2004 doanh số cho vay trung và dài hạn không cao bởi vì các doanh
nghiệp trong địa bàn phần lớn đã vay trong năm 2003 nên làm cho doanh số cho
vay trong năm đó giảm mạnh hơn.
Chỉ tiêu
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
ST % ST %
So với 2002
ST %
ST %
So với 2003
ST %
1. Doanh số cho vay 900 100 1467 100 +5
67
+63 1773 100 +30
6
+17,25
* Ngắn hạn 718 79,78 1103 75,19 385 53,62 1470 82,92 +36