NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ
BẢN VỀ CÚM GIA
CẦM
Định nghĩa
Bệnh cúm gà
Có ít nhất 15 typ khác nhau của cúm gà mà thường nhiễm ở
các loài lông vũ trên toàn thế giới. Vụ dịch đầu năm 2004 do
chủng H5N1, có khả năng lây rất cao ở loài có lông vũ và
gây chết rất nhanh. Không giống như nhiều chủng khác của
virus cúm gà khác, H5N1 có thể lây nhiễm sang người, gây
bệnh nặng và tử vong.
Virus cúm rất không ổn định và có khả năng đột biến rất
nhanh, có khả năng lây nhiễm từ động vật này sang động vật
khác. Các nhà khoa học lo ngại là virus cúm gà có thể tiến
hóa thành một dạng dễ lây từ người sang người, làm lây bệnh
nhanh chóng và là một bệnh nguy hiểm chết người. Điều này
có thể xảy ra nếu một người nào đó đã bị nhiễm virus cúm
người sau đó lại nhiễm virus cúm gà. 2 loại virus này sẽ tái tổ
hợp trong cơ thể bệnh nhân, gây ra một virus lai có thể lây
lan nhanh từ người sang người.
Loại virus lai này loài người chưa bao giờ tiếp xúc vì vậy
không có miễn dịch và có thể gây đại dịch như đã xảy ra đại
dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918-1919 đã giết chết 40-50
triệu người trên toàn thế giới.
Triệu chứng
Bệnh cúm có nhiều thể lâm sàng. Thể thường gặp là: sau thời
gian nung bệnh ngắn, khoảng một ngày, ít khi tới vài ngày,
bệnh phát rất đột ngột: sốt, rét run nhiều lần trong ngày, thân
thở gấp với các triệu chứng đông đặc phổi, khám và xét
nghiệm máu thấy bạch cầu máu tăng tăng 10-15.000/mm3,
bạch cầu trung tính tăng.
Bệnh cúm ác tính hiếm gặp, nhưng tử vong cao, khởi đầu
như cúm thường gặp, rồi xuất hiện chứng suy hô hấp do phù
phổi cấp tính gây tử vong nhanh do thiếu oxy máu không
khắc phục được.
Triệu chứng của bệnh cúm gà:
Cúm gà có thể gây một loạt các triệu chứng ở người. Một số
bệnh nhân có sốt, ho, đau họng và đau cơ. Một số người khác
bị đau mắt, viêm phổi, bệnh hô hấp cấp nguy kịch và các biến
chứng nặng nguy hiểm
Chẩn đoán
Mặc dù các xét nghiệm đặc hiệu để xác định chủng virus cúm
từ các mẫu từ đường hô hấp, điển hình các bác sĩ dựa trên
một loạt các triệu chứng và sự có mặt của cúm ở cộng đồng
để chẩn đoán. Các xét nghiệm đặc hiệu được dùng để xác
định typ của cúm ở cộng đồng, nhưng có chút ít tác dụng
trong điều trị. Các bác sĩ có thể thực hiện xét nghiệm như là
ngoáy họng để xác định nhiễm trùng thứ phát.
Biến chứng viêm phổi do virus: dựa vào hình ảnh Xquang
thấy phổi mờ
Điều trị
Điều cốt yếu điều trị cúm phải theo một lịch trình. Các triệu
chứng cúm có thể giảm khi nằm nghỉ ngơi và giữ nước tốt.
Xông có thể làm dễ thở hơn và các thuốc giảm đau sẽ làm
giảm đau. Tuy chán ăn nhưng cần phải cố gắng ăn nhiều chất
dinh dưỡng. Việc phục hối sức khỏe không nên thúc đẩy quá
nhanh. Việc trở lại các hoạt động bình thường quá nhanh có
thể gây tái phát bệnh hoặc các biến chứng.
Việc đảm bảo vệ sinh môi trường cũng phải được tiến hành
thường xuyên, bên cạnh biện pháp tẩy uế chuồng trại nuôi gia
cầm mắc dịch, cần phun thuốc Cloramin B ở môi trường
xung quanh khu vực nhà ở, nếu cần thiết có thể phun thuốc
trong từng gia đình. Sau khi ra khỏi khu vực đang xảy ra
dịch, các nhân viên y tế mới được cởi bỏ trang bị và quần áo
bảo hộ. Các trang bị và quần áo được thay ra phải cho ngay
vào túi nilông, buộc kín lại, sau đó ngâm vào dung dịch tẩy
trùng và đưa về cơ sở y tế để tiêu huỷ bằng cách đốt hoặc
chôn.
Các gia đình nằm trong vùng có dịch cúm gia cầm hoặc có
người thân bị mắc viêm phổi do virus cũng cần phải có biện
pháp vệ sinh nhà cửa, các đồ dùng của người mắc bệnh cũng
cần phải được ngâm vào dung dịch tẩy trùng 20 phút sau đó
giặt sạch và phơi khô mới đưa vào sử dụng. Tại các cơ sở y
tế, phải bố trí phòng khám cách ly đối với những người có
biểu hiện của bệnh viêm phổi do virus. Nhân viên y tế khi
tiếp xúc với người nghi mắc bệnh cũng cần phải được trang
bị bảo hộ như khi vào vùng dịch. Sau khi khám bệnh phải rửa
tay bằng dung dịch tẩy trùng. Tại khoa điều trị phải bố trí các
buồng bệnh cách ly, khi vào khu vực điều trị này nhân viên y
tế cũng phải được trang bị, mặc quần áo bảo hộ. Tại mỗi khu
vực điều trị cũng cần bố trí một phòng được quy định dành
riêng cho việc thay quần áo bảo hộ sạch. Trước các buồng
bệnh phải đặt các tấm chùi chân, nhân viên y tế phải chùi
chân trước khi vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng
bệnh. Người bệnh khi được khám bệnh cũng phải đeo khẩu
trang để tránh lây nhiễm sang nhân viên y tế, các nhân viên y
tế cũng phải tuân thủ các quy định chuyên môn về việc đảm
bảo vô khuẩn và sử dụng các trang bị, quần áo bảo hộ theo
trị cúm A và được Bộ Y tế đưa vào phác đồ điều trị. Tamiflu
với tên hoạt chất là Oseltamivir của Hãng dược phẩm
RoChe (Thuỵ Sĩ) là loại thuốc chống virus có tác dụng ức
chế virus cúm thông qua việc ức chế men neuraminidase (N).
Men N có tác dụng hết sức cơ bản trong việc hạn chế sự phát
tán virus này trong cơ thể. Khi người mắc cúm dùng loại
thuốc này sẽ làm cho virus cúm không nhân lên và kìm hãm
sự phát triển của virus.
Theo cuốn sách Giới thiệu thuốc và biệt dược của Hội các
Dược sĩ Canada xuất bản năm 2003 ghi rõ: Thuốc Tamiflu
được chỉ định để điều trị nhiễm bệnh cúm ở người lớn. Đối
với trẻ em, sự an toàn và hiệu quả của thuốc chưa được xác
định rõ ràng. Đối với người có thai phải cân nhắc khi sử dụng
vì có những nguy cơ đối với bào thai. Liều được khuyên
dùng là 2 viên Tamiflu 75mg/2 lần/ ngày. Phải dùng thuốc
điều trị liên tục trong 5 ngày. Quá trình điều trị phải được bắt
đầu sau khi phát hiện (không chậm hơn 2 ngày) các triệu
chứng của bệnh cúm. Lý tưởng nhất là dùng thuốc ngay sau
40 giờ phát hiện có bệnh. Bệnh nhân phải được dùng đủ liều
điều trị (10 viên/5 ngày), kể cả khi hết các triệu chứng bệnh
vẫn phải uống thuốc đủ liều. Về tác dụng phụ của thuốc, qua
nghiên cứu của Hãng RoChe trên 724 bệnh nhân uống
Tamiflu 2 viên 75mg/ngày có 72 người có triệu chứng buồn
nôn (chiếm 9,9%), 68 người có nôn (9,4%), 48 người đi lỏng
(6,6%)
Ở Việt Nam hiện nay, trong phác đồ điều trị bệnh cúm A của
Bộ Y tế cho phép các cơ sở điều trị bệnh nhân cúm A đưa
thuốc Tamiflu vào điều trị cho bệnh nhân và có hiệu quả rõ
rệt. Theo phác đồ này, trẻ em từ 1-13 tuổi dùng dung dịch
uống tuỳ theo trọng lượng cơ thể: < 15kg: 30mg x 2 lần/ngày
đau đầu và sốt, và cỏ thi (Achillea millefolium) hoặc hoa cây
cơm cháy (elderflower) có thể chống lại ớn lạnh.
Phép chữa vi lượng đồng căn. Ðể phòng bệnh cúm, một ph-
ương pháp chữa bệnh vi lượng đồng căn được gọi là
OscilloCoCcinum có thể được áp dụng khi có dấu hiệu đầu
tiên của triệu chứng cúm và nhắc lại trong một đến hai ngày.
Các phương pháp chữa vi lượng đồng căn khác được giới
thiệu khác nhau tuỳ theo các triệu chứng cúm đặc trưng xuất
hiện. Gelsemium được giới thiệu để chống lại sự mệt mỏi
kèm theo ớn lạnh, đau đầu và sự sung huyết mũi. Bryonia
(Bryonia alba) có thể được sử dụng để điều trị đau cơ, đau
đầu, và ho khan. Với tình trạng khó ngủ, ớn lạnh, khản tiếng,
và đau khớp, chất độc cây thường xuân (Rhus toxicodendron)
được khuyến khích sử dụng. Cuối cùng, tình trạng đau nhức
và ho khan hoặc ớn lạnh được gợi ý dùng Eupatorium
perfoliatum.
- Thuỷ liệu pháp. Tắm sẽ làm cho sốt do cúm sẽ hồi phục
nhanh bởi việc tạo ra một môi trường trong cơ thể mà virus
cúm không thể sống được. Bệnh nhân nên tắm bằng nước
nóng ở mức có thể chịu được và duy trì trong phòng tắm từ
20-30 phút. Trong khi tại phòng tắm, bệnh nhân uống một
cốc nước cỏ thi hoặc chè làm từ hoa cây cơm cháy để làm
toát mồ hôi. Trong khi tắm, một chiếc khăn lạnh được đặt
trên trán hoặc nách để làm hạ nhiệt độ trung tâm. Bệnh nhân
được hỗ trợ khi ra khỏi phòng tắm (họ có thể cảm thấy mệt
và chóng mặt) và sau đó trở lại giường và đắp một lớp chăn
mỏng để gây toát mồ hôi nhiều hơn.
- Vitamin. Với người lớn, 2-3g vitamin C mỗi ngày có thể
giúp phòng bệnh cúm. Tăng liều 5-7g mỗi ngày trong trường
hợp cúm kèm thêm bội nhiễm. (Liều nên giảm nếu bệnh nhân
đau cơ. Những triệu chứng này bắt đầu trong vòng 6-12 giờ
sau khi tiêm vaccin.
Lưu ý là một vài người không nên tiêm vaccin cúm. Trẻ em
dưới 6 tháng tuổi có hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh và không
có lợi khi tiêm vaccin. Từ khi vaccin là chế phẩm từ trứng gà,
người mà bị dị ứng nặng với trứng hoặc các thành phần khác
của vaccin thì không nên tiêm vaccin cúm. Một biện pháp
thay thế là họ có thể dùng một liệu trình amantadin hoặc
rimantadin cũng được dùng như một biện pháp bảo vệ chống
lại virus cúm. Những người khác có thể dùng thuốc mà thuốc
này đã có khả chữa được sau khi mùa cúm bắt đầu hoặc
người bị tổn thương hệ miễn dịch, như những bệnh nhân
HIV giai đoạn cuối. Amantadin và rimantadin có hiệu quả
70-90% trong việc phòng cúm.
Một vài nhóm người khỏe mạnh cũng được khuyên dùng
vaccin vì họ có nguy cơ bị các biến chứng do cúm:
- Tất cả những người 65 tuổi hoặc hơn.
- Những người điều trị nội trú tại bệnh viện và dễ mắc bệnh
mạn tính, cho mọi lứa tuổi.
- Người lớn và trẻ em bị bệnh tim phổi mạn tính, như hen phế
quản.
- Người lớn và trẻ em bị bệnh chuyển hóa mạn tính, như bệnh
tiểu đường và rối loạn chức năng thận, cũng như thiếu máu
nặng hoặc bệnh về máu bẩm sinh.
- Trẻ em và vị thành niên điều trị liệu pháp aspirin dài ngày.
- Phụ nữ có thai tháng thứ 2 hoặc 3 trong mùa cúm hoặc
những phụ nữ đang phải chăm sóc bệnh nhân.
- Người bị suy giảm miễn dịch, bao gồm người nhiễm HIV,
bệnh nhân ung thư, những người nhận ghép tạng, và những
bệnh nhân đang dùng steroid, hóa trị liệu, hoặc xạ trị.
có thể sống 4 ngày ở nhiệt độ 22oC và hơn 30 ngày ở 0oC.
Nếu ở băng chúng có thể sống vô thời hạn.
Vì vậy khi có dịch bệnh, một số người đã mắc bệnh cúm gà
do tiếp xúc trực tiếp với gà hoặc phân gà bị bệnh. Người
nhiễm virus cúm gà có thể lây sang người khác, mặc dù bệnh
này thường nhẹ ở người lây từ người hơn người bị nhiễm
trực tiếp từ gà.