BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
****0O0**** ĐẶNG TRẦN QUÂN
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH GÂY NHIỄM THỰC
NGHIỆM CHUẨN ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG CỦA
β-1,3/1,6-GLUCAN VÀ VITAMIN C LÊN ĐỘ MẪN
CẢM ĐỐI VỚI VIRUS GÂY HỘI CHỨNG ĐỐM
TRẮNG (White spot syndrome virus-WSSV) CỦA
TÔM SÚ (Penaeus monodon)
LUẬN VĂN KỸ SƢ
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC LUẬN VĂN KỸ SƢ
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Giáo viên hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện
TS. NGUYỄN VĂN HẢO ĐẶNG TRẦN QUÂN
ThS. NGÔ XUÂN TUYẾN KHÓA: 2002 – 2006
Thành phố Hồ Chí Minh
-Tháng 9/2006-
MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
NONG LAM UNIVERSITY, HCMC
FACULTY OF BIOTECHNOLOGY
LỜI CẢM TẠ Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô trƣờng Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí
Minh đã truyền đạt cho tôi kiến thức trong những năm học vừa qua.
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, tôi đã nhận sự giúp rất nhiều từ các thầy cô
và các anh chị công tác ở Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II. Trong đó tôi xin
chân thành cảm ơn:
- TS. Nguyễn Văn Hảo đã tận tình giải đáp những vƣớng mắc trong quá trình
thực tập, giúp tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp.
- ThS. Ngô Xuân Tuyến là ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn về phƣơng pháp nghiên
cứu, tài liệu khoa học, giúp tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp.
- Kỹ sƣ Phạm Thị Tuyết Anh đã tận tình hƣớng dẫn tôi về mặt thao tác trong
phòng thí nghiệm, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực tập.
- Các anh chị ở phòng Mô, các anh chị ở trại thực nghiệm Thủ Đức đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập vừa qua.
Cuối cùng là cảm ơn các bạn lớp Công nghệ sinh học 28 thân mến đã cùng tôi
đồng hành trên suốt chặng đƣờng đại học.
Tp.Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2006
Sinh viên
Đặng Trần Quân
50
) và liều cao (10
4
SID
50
) của dịch virus WSSV-VN cho 3 nhóm
tôm thuộc 3 nghiệm thức trên. Thu mẫu tôm ở các thời điểm khác nhau sau gây nhiễm:
0, 12, 24, 36, 48, 60, 72, 84, 96, 108, 120 giờ, để khảo sát sự thay đổi độ mẫn cảm
thông qua đánh giá sự biến đổi tình trạng sức khỏe tôm và tỷ lệ tế bào nhiễm WSSV
trên tôm giữa các nghiệm thức. Kết quả thu đƣợc ở thí nghiệm gây nhiễm với liều
thấp, tỷ lệ tế bào nhiễm WSSV của tôm ở 3 nghiệm thức β-1,3/1,6-glucan, vitamin C
và đối chứng lần lƣợt là 4,12, 3,49 và 4,94%. Sự khác biệt về tỷ lệ tế bào nhiễm giữa 3
nghiệm thức này không có ý nghĩa (P>0,05). Các dấu hiệu lâm sàng của bệnh đốm
trắng xuất hiện sớm hơn ở nghiệm thức đối chứng so với 2 nghiệm thức còn lại. Chƣa
thấy rõ sự khác biệt giữa nghiệm thức β-1,3/1,6-glucan và vitamin C. Thí nghiệm gây
nhiễm với liều cao, tỷ lệ tế bào nhiễm WSSV của tôm ở 3 nghiệm thức β-1,3/1,6-
glucan, vitamin C và đối chứng lần lƣợt là 3,04, 3,69 và 4,49%. Chỉ có sự khác biệt có
ý nghĩa (P<0,05) về tỷ lệ này giữa nghiệm thức đối chứng với β-1,3/1,6-glucan. Các vi
dấu hiệu lâm sàng của bệnh đốm trắng xuất hiện sớm hơn ở nghiệm thức đối chứng so
với 2 nghiệm thức còn lại. β-1,3/1,6-glucan thể hiện rõ tác dụng làm giảm độ mẫn cảm
với WSSV của tôm sú. Trong từng phƣơng thức quản lý, tỷ lệ tế bào nhiễm ở 2 liều
tiêm không có sự khác biệt (P>0,05). Ở nhóm tiêm với liều cao, các dấu hiệu lâm sàng
của bệnh đốm trắng đến sớm hơn nhóm tiêm liều thấp.
vii
MỤC LỤC
Trang tựa i
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục vi
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình x
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Nội dung 1
1.3 Mục tiêu 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Hệ miễn dịch của tôm sú 3
2.2 Bệnh đốm trắng trên tôm sú 5
2.2.1 Lịch sử và phân bố bệnh đốm trắng 5
2.2.2 Tác nhân gây bệnh 5
2.2.3 Dấu hiệu bệnh lý 6
2.2.4 Phƣơng thức lan truyền 6
2.3 Các phƣơng thức quản lý nhằm tăng cƣờng sức chịu đựng của tôm đối với
bệnh đốm trắng 7
2.3.1 Chất kích thích miễn dịch 7
2.3.2 Vaccin 10
2.3.3 Vitamin 11
2.3.4 Fucoidan 12
2.4 Mô hình gây nhiễm thực nghiệm chuẩn WSSV trên tôm 13
2.4.1 Sơ lƣợc về mô hình gây nhiễm thực nghiệm chuẩn 13
SID
50
/ml) 21
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đáng giá vật liệu phục vụ cho thí nghiệm gây nhiễm chuẩn 23
4.2 Khảo sát ảnh hƣởng của các phƣơng thức quản lý khác nhau lên độ mẫn
cảm của tôm đối với WSSV 24
4.2.1 Kết quả ở thí nghiệm gây nhiễm trên tôm sú với liều thấp
(10
1,5
SID
50
/ml) 24
4.2.2 Kết quả ở thí nghiệm gây nhiễm trên tôm sú với liều cao
(10
1,5
SID
50
/ml) 28
4.2.3 Kết quả so sánh độ mẫn cảm với 2 liều gây nhiễm của tôm
ở từng phƣơng thức quản lý 32
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
5.1 Kết luận 35
5.2 Đề nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO …37
IHHNV: Infectious hypodermal hemotopoietic necrosis virus.
PCR: Polymerase chain reaction.
PAP: peroxidase anti peroxidase
ABC: avidin-biotin complex
LSAB: labelled streptavidin-biotin
BPS: Buffer phosphate saline
DAB: 3,3-diaminobenzidine tetrahydrochloride.
SID
50
/ml:
Shrimp infectious dose 50% enpoint
x
DANH SÁCH CÁC BẢNG BẢNG TRANG
xi
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG
Hình 2.1 Sơ đồ sự kích hoạt của β-glucan và Lipopolysaccharide lên các tế
bào máu cùa giáp xác 4
Hình 2.2 Virus hội chứng đốm trắng 6
Hình 2.3 Tôm nhiễm WSSV và tế bào nhiễm WSSV 6
Hình 2.4 Cấu trúc hóa học của -1,3/1,6-glucan 9
Hình 2.5 Cấu trúc hóa học của vitamin C 12
Hình 3.1 Gây nhiễm WSSV cho tôm bằng cách tiêm 19
Sơ đồ 3.1 Quy trình tổng quát chẩn đoán IHC 20
Hình 3.2 Hình bố trí thí nghiệm cảm nhiễm WSSV cho tôm 21
Hình 4.1 Bể nuôi tôm với hệ thống lọc tuần hoàn 23
Hình 4.2 Hình chụp mẫu mô mang ở tôm đƣợc nhuộm IHC (vật kính 40X)
thời điểm 24 giờ sau gây nhiễm WSSV 25
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ nhiễm WSSV (%) của tôm ở liều thấp 26
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ tế bào nhiễm WSSV (%) của tôm theo thời gian ở liều
thấp 26
Hình 4.3 Tôm đối chứng chết thời điểm 38 giờ sau gây nhiễm WSSV 29
Hình 4.4 Hình chụp mẫu mô mang ở tôm đƣợc nhuộm IHC (vật kính 40X)
thời điểm 12 giờ sau gây nhiễm WSSV ở liều cao 29
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ nhiễm WSSV (%) của tôm ở liều cao 30
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ nhiễm WSSV (%) của tôm theo thời gian thu mẫu ở liều
cao 31
Hình 4.5 Tôm đƣợc bổ sung β-1,3/1,6-glucan ở 120 giờ sau gây nhiễm 32
1.2 Nội dung
Trong đề tài, chúng tôi bổ sung vào thức ăn cho tôm 2 hợp chất là Vitamin C và
-1,3/1,6-glucan, đƣợc xem nhƣ là các chất kích thích tăng cƣờng hoạt động của hệ
thống miễn dịch không đặc hiệu (insufficient immune system) của tôm, trong điều kiện
phòng thí nghiệm. Sau đó gây gây nhiễm các đàn tôm với 2 liều gây nhiễm 10
1,5
SID
50
và 10
4
SID
50
của dòng WSSV-VN đã đƣợc chuẩn độ trong cùng điều kiện. Thu mẫu và 2
tiến hành kiểm tra sự nhiễm WSSV trên tôm bằng kỹ thuật IHC
(Immunohistochemistry).
1.3 Mục tiêu
Đánh giá ảnh hƣởng của hai hợp chất vitamin C và -1,3/1,6-glucan lên độ mẫn
cảm đối với WSSV của tôm sú.
của tế bào máu trên tôm sú, từ máu tôm sú có thể tìm thấy 5 lọai tế bào máu:
hyalinocyte (chiếm 37%), small-granular semi-granulocyte (25%), large-granular
semi-granulocyte (15%), small-granular granulocyte (6%) và large-granular
granulocyte (17%). Trong thí nghiệm này, tôm với trọng lƣợng trung bình
3,28 ± 1,12 g đƣợc tiêm vi khuẩn Gram âm Vibrio anguillarum với liều 30 µl/g tôm
(mật độ vi khuẩn: 107 – 108 CFU/ml). Sau 7 ngày tiêm, hầu hết không thấy sự hiện 4
diện của vi khuẩn trên các cơ quan khảo sát: mô liên kết, tim, gan tụy, mô tạo máu, cơ
quan lympho. Khả năng loại thải vi sinh vật của các loại tế bào máu khác nhau cũng
khác nhau. Semi-granulocyte có chỉ số thực bào cao nhất so với các lọai tế bào khác.
Granulocyte và hyalinocyte có chỉ số thực bào thấp nhất.
Ở tôm cũng nhƣ hầu hết các loài giáp xác khác tồn tại những cơ chế để phát
hiện sự xâm nhập của các tác nhân lạ từ bên ngoài (vi khuẩn, nấm) thông qua sự nhận
diện những thành phần vách tế bào của chúng nhƣ lipopolysaccharides (LPS) và
β-glucan bởi các protein nhận biết trong huyết tƣơng nhƣ BGBP (Beta Glucan Biding
Protein). Phức hợp β-glucan - BGBP kích thích sự hoạt hóa prophenoloxidase (proPO)
thành phenoloxidse (PO), enzyme điều khiển quá trình tổng hợp melanin. Chất này
cùng với các tiền chất của nó có vai trò nhƣ các chất diệt khuẩn (Vargas-Albores và
ctv, 2000).Trong một nghiên cứu của mình, Chang và ctv (2002) đã chứng minh đƣợc
tác dụng của β-1,3-glucan giúp tăng cƣờng đáp ứng miễn dịch của tôm sú đối với virus
gây hội chứng đốm trắng.
dụng các chất kích thích miễn dịch (immunostimulant) (Đỗ Thị Hoà và ctv, 2000)
2.2 Bệnh đốm trắng trên tôm sú
2.2.1 Lịch sử và phân bố bệnh đốm trắng
Bệnh đốm trắng xuất hiện đầu tiên tại Bắc Á vào năm 1992 – 1993, đồng thời
nhanh chóng lan rộng khắp khu vực Châu Á và thế giới nhất là các nƣớc có hình thức
nuôi tôm công nghiệp thâm canh. Dịch bệnh đốm trắng phát hiện lận đầu tiên tại Đài
Loan – 1992, Trung Quốc – 1993, Nhật Bản – 1994, sau đó là các nƣớc Indonesia,
Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Bangladesh, Texas (Hoa Kỳ, 1995) gây tổn thất nghiêm
trọng về sản lƣợng tôm nuôi.
2.2.2 Tác nhân gây bệnh:
Virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV) thuộc một họ virus mới, Nimaviridae
(Vlak và ctv, 2002). Virus dạng hình trứng, kích thƣớc 120 x 275 nm, có một đôi phụ
bộ ở một đầu kích thƣớc 70 x 300 nm (Wang và ctv, 1995).
Hạt virus cấu trúc bao gồm 3 phần: bao màng (envelope), nucleocapside và vật
chất di truyền. Virion chứa 5 protein chính: VP28, VP26, VP24, VP19 và VP15 có
trọng lƣợng phân tử tƣơng ứng là 28, 26, 24, 19 và 15 kDa.
Hiện nay virus WSSV đã đƣợc giải mã trình tự hoàn chỉnh (Yang và ctv, 2001).
Genome của WSSV là DNA vòng kép lớn, kích thƣớc thay đổi từ 293 đến 308 kbp
(van Hulten và ctv, 2001) tùy theo các mẫu phân lập từ các vị trí địa lí khác nhau. 6
Hình 2.2. Virus gây hội chứng đốm trắng (Jo-ann Leong, 2005)
Trục dọc: biểu hiện sự truyền bệnh từ bố mẹ sang con. Tuy nhiên khả năng
truyền theo trục dọc vẫn chƣa đƣợc chứng minh mặc dù WSSV đã đƣợc phát hiện
trong một số giai đoạn trứng tôm khi quan sát dƣới kính hiển vi điện tử (Tookwinas,
1998).
2.3 Các phƣơng thức quản lý nhằm tăng cƣờng sức chịu đựng của tôm nuôi đối
với bệnh đốm trắng
Dịch bệnh bùng phát không phải chỉ do sự hiện diện của tác nhân gây bệnh mà
đó là kết quả của sự tƣơng tác rất phức tạp giữa mầm bệnh, vật chủ và môi trƣờng. Vật
chủ phải mẫn cảm với mầm bệnh và điều này chịu ảnh hƣởng của yếu tố di truyền, tình
trạng dinh dƣỡng, tuổi và sự hiện diện của virus ở các giai đoạn sớm của chu kỳ sống,
trạng thái sinh lý của vật chủ, sự hiện diện và ảnh hƣởng của các yếu tố gây stress lên
vật chủ cũng nhƣ chất lƣợng môi trƣờng nuôi (Newman, 1999).
Do đặc điểm cơ chế kháng bệnh của tôm chủ yếu dựa vào các đáp ứng miễn
dịch không đặc hiệu, cho đến nay việc phòng ngừa dịch bệnh virus trên tôm nói chung
và bệnh đốm trắng nói riêng còn rất hạn chế. Hiện không có biện pháp đáng tin cậy
nào để phòng ngừa dịch bệnh đốm trắng xảy ra mà biện pháp đang đƣợc sử dụng rộng
rãi trên thế giới là “Phòng ngừa tổng hợp”. Bƣớc đầu tiên trong việc quản lý sức khoẻ
tôm nuôi là tăng cƣờng các biện pháp an toàn nghiêm ngặt để ngăn chặn các mầm
bệnh lây lan đến hệ thống nuôi nhƣ:
- Loại bỏ mầm bệnh trong ao và nƣớc trƣớc khi thả giống.
- Sử dụng nguồn giống khoẻ mạnh, không mang mầm bệnh
- Loại trừ các con đƣờng truyền bệnh.
Tiếp đến, trong quá trình nuôi, một yếu tố quan trọng là giảm tối thiểu tình
trạng stress bởi sự thay đổi đột ngột của chất lƣợng nƣớc ao nuôi sẽ làm tôm bị sốc.
Đây là điều kiện để dịch bệnh bùng phát trong đó có bệnh đốm trắng. Các yếu tố đặc
biệt quan trọng là oxy hòa tan, nhiệt độ, độ mặn và pH. Vidal (2001) đã xác định đƣợc 8
mối liên hệ giữa bệnh đốm trắng và nhiệt độ của nƣớc. Nghiên cứu này chỉ ra rằng với
tiêm (ít dùng), cho trực tiếp vào nƣớc, trộn với thức ăn (dễ nhất). Liều lƣợng và thời
gian bổ sung bao nhiêu là tùy thuộc vào nguồn gốc sản phẩm. Ví dụ β-1,3-glucan từ
Schizophyllum commune đƣợc sử dụng với lƣợng 2 – 10 g/kg thức ăn trong thời gian
20 ngày, thời gian giản cách 10 ngày là phù hợp cho tôm sú (Chang và ctv, 2002). 9
Việc sử dụng chất kích thích miễn dịch nhằm tăng cƣờng tính kháng của tôm sú
đối với virus WSSV đã đƣợc nghiên cứu trong những năm gần đây. Trong đó -glucan
đã đƣợc nghiên cứu khá kĩ. Đây là một loại hợp chất đƣờng thu đƣợc từ nhiều nguồn
khác nhau: nấm men, vi khuẩn, các loại nấm khác Mỗi loại có cấu trúc đặc trƣng
riêng tùy theo liên kết giữa các phân tử glucose nhƣ ở nấm men -glucan có phân
nhánh -1,3 và -1,6. Hình 2.4 Cấu trúc hóa học của -1,3/1,6-glucan
(
Song và ctv (1997) đã chứng minh đƣợc rằng β-1,3/1,6-glucan từ thành tế bào
nấm men Saccharomyces cerevisiae có khả năng tăng cƣờng tính kháng của
P.monodon đối với WSSV. Tỉ lệ sống của PL66 và PL113 lần lƣợt là 59% và 24% sau
khi cảm nhiễm tôm bằng cách ngâm với WSSV trong 6 giờ. Trong một nghiên cứu
gần đây, Chang và ctv (2002) đã bổ sung β-1,3-glucan từ vào thức ăn viên của tôm
với các liều 0, 1, 2, 10, và 20 g/kg thức ăn. Nghiên cứu này đƣợc tiến hành trên tôm ở
giai đoạn Juvenile (6,5 ± 0,4 g). Thời gian cho ăn là 20 ngày và sau đó sẽ tiến hành
Các vaccine này đƣợc dùng để phòng các bệnh do virus (Viral vaccines), do vi khuẩn
(Bacterial vaccines) và do ký sinh trùng (parasite vaccines) cho động vật thủy sản (Lê
Thanh Hùng, 2000).
Việc sử dụng vaccine cho tôm hay các loài động vật giáp xác nói chung còn
đang trong giai đoạn nghiên cứu. Do đặc điểm cơ thể thiếu hệ đáp ứng miễn dịch đặc
hiệu và chỉ dựa hoàn toàn vào các đáp ứng miễn dịch tự nhiên nên có ý kiến cho rằng
việc sử dụng vaccine cho tôm là không thực tế. Tuy nhiên trong các nghiên cứu gần
đây trên tôm sú P.monodon, Witteveldt và ctv (2003) đã chứng minh đƣợc rằng một cơ
chế bảo hộ và đáp ứng miễn dịch chuyên biệt có thể đƣợc kích thích sau khi cấp
vaccine tiểu đơn vị. Bản chất của các vaccine này là các vi khuẩn đƣợc chuyển nạp
gen biểu hiện các protein cấu trúc vỏ VP19 và VP28 của WSSV. Đây là các protein
hiện diện nhiều trên vỏ của WSSV và tƣơng tác một cách mạnh mẽ với các kháng thể
đa dòng đƣợc tạo ra từ thỏ (Van Hulten và ctv, 2000b). Vaccine đƣợc trộn với thức ăn 11
và cung cấp cho tôm trong 7 ngày. Sau đó, tiến hành cảm nhiễm bằng cách ngâm tôm
trong nƣớc biển chứa WSSV trong 7 giờ. Kết quả cho thấy ở các nhóm tôm đƣợc cấp
vaccine chứa VP28 và hỗn hợp VP28 + VP19 cho tỷ lệ chết tích lũy (30% và 50%)
thấp hơn so với nhóm tôm đƣợc cấp vaccine là các vector rỗng (empty vector) và các
nhóm đối chứng dƣơng. Chọn ngẫu nhiên các cá thể còn sống để kiểm tra sự hiện diện
của WSSV, tất cả đều cho kết quả âm tính. Song song đó, các tác giả cũng nghiên cứu
thời điểm khởi đầu và thời gian bảo hộ của vaccine. Nhóm tôm đƣợc cấp vaccine chứa
VP28 (vaccine cho tỷ lệ tôm sống cao) đƣợc chia làm 3 nhóm nhỏ hơn để tiến hành
cảm nhiễm ở các thời điểm khác nhau 3, 7 và 21 ngày sau khi ngừng cấp vaccine. Tỷ
lệ tôm sống cao đáng kể ở các nghiệm thức 3 và 7 ngày sau khi cấp vaccine (64% và
77%). Trong khi đó, ở nghiệm thức 21 ngày, tôm sống với tỷ lệ thấp (21%). Điều này
chứng tỏ hiệu quả bảo hộ của vaccine đã giảm.
Qua nghiên cứu trên mặc dù chƣa hiểu rõ cơ chế tác động của các vaccine tiểu
đơn vị lên hệ miễn dịch của tôm nhƣng cũng cho thấy ở tôm có tồn tại một bộ nhớ
Hình 2.5 Cấu trúc hóa học của vitamin C
(www.chemistry.wustl.edu/ /ascorbic.htm)
Chƣa có nhiều nghiên cứu về cơ chế tăng cƣờng đáp ứng miễn dịch của tôm của
vitamin C. Tuy nhiên, Merchie (1998) thấy rằng lƣợng vitamin C tăng từ 100 lên
3400 mg/kg trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm tức thời tỷ lệ chết của tôm sú postlarval
do bị sốc thấm lọc. López và ctv (2003) đã chứng đƣợc vitamin C có tác dụng cải thiện
tốc độ tăng trƣởng ở tôm. Hàm lƣợng protein máu, tổng lƣợng tế bào máu, lƣợng tế
bào hạt (granular cell) và hoạt tính Prophenoloxidase ở nhóm tôm đƣợc bổ sung
vitamin C trong 40 ngày cao hơn các nhóm khác.
Cơ chế tác động của vitamin C có giống nhƣ một chất kích thích miễn dịch hay
không vẫn chƣa đƣợc xác định rõ. Tuy nhiên nó có tác dụng nhƣ một chất chống oxy
hóa, có vai trò trong việc bảo vệ các tế bào máu, giúp tăng cƣờng hệ miễn dịch của
tôm (López và ctv, 2002).
2.3.4 Fucoidan
Wilaiwan Chotigeat và ctv (2003) đã chứng minh đƣợc rằng việc bổ sung
fucoidan thô ly trích đƣợc từ một loài tảo biển Sargassum polycystum có thể làm giảm
tác động của bệnh đốm trắng do WSSV gây ra trên tôm sú. Trong thí nghiệm này,
fucoidan đƣợc trộn vào thức ăn cho 2 nhóm tôm có khối lƣợng 5 – 8 và 12 – 15 g.
Tôm đƣợc cho ăn khoảng 4 ngày trƣớc khi gây nhiễm bằng cách ngâm tôm với dịch
WSSV trong 2,5 giờ. Sau đó tiếp tục cho ăn 15 ngày. Kết quả thu đƣợc ở thời điểm10
ngày sau khi gây nhiễm, nhóm tôm đƣợc cho ăn fucoidan, tỷ lê sống cao nhất là 46%
và 93% tƣơng ứng với từng khối lƣợng. Trong khi đó ở nhóm đối chứng, tôm chết
50% từ 3 – 5 ngày sau khi gây nhiễm. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy fucoidan 13
đóng vai trò nhƣ một chất kích thích miễn dịch giúp tăng cƣờng hoạt động thực bào so
với nhóm đối chứng.
14
Một dịch stock virus WSSV đã đƣợc chuẩn độ để xác định số đơn vị gây
nhiễm 50% tôm thí nghiệm SID
50
(Shrimp infectious dose 50% endpoint)/ml dung
dịch. Một đơn vị SID
50
là lƣợng virus sẽ gây nhiễm cho 50% tôm thí nghiệm. Cho đến
nay, trên thế giới vẫn chƣa tìm ra môi trƣờng nuôi cấy tế bào tôm do đó việc chuẩn độ
chỉ đƣợc thực hiện trên môi trƣờng in vivo. Một dãy các độ pha loãng theo cơ số 10
của dịch WSSV gốc đƣợc gây nhiễm cho tôm thí nghiệm bằng cách tiêm vào cơ hay
qua đƣờng miệng. Dựa vào tỷ lệ tôm nhiễm ở mỗi độ pha loãng sẽ tính đƣợc hiệu giá
gây nhiễm SID
50
/ml của dịch virus theo công thức của Reed – Muench (1938).
2.4.2 Ứng dụng của mô hình gây nhiễm thực nghiệm chuẩn:
Với những đặc điểm nêu trên, mô hình gây nhiễm thực nghiệm chuẩn có nhiều
ứng dụng quan trọng:
Đánh giá sự khác nhau về độ mẫn cảm của vật chủ ở các giai đoạn sống
khác nhau hay giữa các loài có quan hệ gần gũi với cùng một tác nhân gây bệnh
(Plumb và Zilberg, 1999). Cụ thể ở tôm, có sự khác biệt về tính mẫn cảm với WSSV ở
các giai đoạn sống khác nhau (Yoganandhan và ctv, 2003) hay giữa các loài tôm
(Lightner và ctv, 1998).
Độc tính hay khả năng gây bệnh của mầm bệnh là một đặc tính có thể đo
lƣờng đƣợc (Shapiro-Ilan và ctv, 2005). Do đó ứng dụng mô hình cảm nhiễm chuẩn, ta
có thể so sánh độc lực của các chủng WSSV khác nhau.
Mô hình cảm nhiễm chuẩn còn giúp ta đánh giá hiệu quả của các phƣơng
thức quản lý sức khỏe tôm nhƣ dùng các chất kích thích miễn dịch, các chất diệt virus