TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: “Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm
Wave của Honda.”
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
MỤC LỤC
c.Nhược điểm 36
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
I.PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG HIỆN TẠI
A.Phân tích ngành
1.Phạm vi, lĩnh vực kinh doanh
làm ăn manh mún. Qua đó có thể thấy được vị trí thống ngự của HVN trên thị
trường xe máy Việt Nam.
Đơn vị: triệu xe
HONDA YAMAHA SUZUKI SYM KHÁC TỔNG thị phần: %
2005 1.8 0.49 0.33 0.24 0.56 3.42
2006 1.6 0.5 0.4 0.3 0.34 3.14
2007 1.1 0.76 0.37 0.33 0.21 2.77
2008 0.85 0.5 0.25 0.2 0.19 1.99
2009 1.43 0.52 0.32 0.25 0.23 2.75
Thị phần năm 2009 % 52 18.91 11.64 9.09 8.36 100
Tăng So với năm 2008 0.58 0.02 0.07 0.05 0.04 0.76
Tăng trưởng năm 2009 % 168.24 104 128 125 121.1
xếp thứ 1 2 3 4 5
Năm
Hãng xe
Thị phần xe máy năm 2009
HONDA YAMAHA SUZUKI SYM KHÁC
(Nguồn: Honda Việt Nam)
2.Lịch sử ngành
a.Lợi thế công nghệ
-HVN là công ty con của Honda Nhật Bản, được thừa hưởng nền tảng của
một hãng sản xuất xe máy lớn nhất thế giới, cùng với những phát minh sáng chế đi
tiên phong trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó có Honda Ý, Honda Thái Lan, Honda
Trung Quốc… cũng là những liên doanh Honda rất mạnh. Vì thế, một mặt, Honda
Việt Nam được thừa hưởng những chuyển giao công nghệ từ công ty mẹ, mặt khác
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
3
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
có nguồn cung cấp linh kiện từ các liên doanh giúp Honda Việt Nam có thể lắp ráp
những sản phẩm mà với quy mô và trình độ trong nước chưa thể thực hiện được.
bản thân cũng như khẳng định nhiều hơn cái “tôi” cá nhân trong hoạt động chi tiêu,
mua sắm. Theo số liệu của tổng cục thống kê, chi tiêu cho đời sống của nguời dân
Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 tăng 10, 57% trong đó khu vực thành thị là 10%
còn khu vực nông thôn là 11,25%.
c.Tiềm năng phát triển.
-Trong bối cảnh khả quan của nền kinh tế, thu nhập tăng lên cùng với xu
hướng người dân dành nhiều hơn phần thu nhập của mình cho chi tiêu , mua sắm.
Đồng thời, xu hướng thiết yếu về nhu cầu có phương tiện đi lại, phương tiện thể
hiện cá tính, thu nhập và địa vị xã hội dẫn tới việc tiềm năng phát triển của thị
trường xe máy là rất lớn. Trong năm 2009, khi mà nền kinh tế vừa mới hồi sinh sau
khủng hoảng, ngành công nghiệp xe máy đã tăng trưởng 9% và bản thân Honda
Việt Nam đã tăng trưởng tới 18%, đóng góp vào sự tăng trưởng cao của Honda Việt
Nam không thể không nhắc tới dòng sản phẩm Wave khi mà nó đã đánh rất trúng
vào đoạn thị trường có thu nhập tầm trung và tầm thấp của Việt Nam.
4. Các đặc thù của ngành.
a.Mô hình phân phối hiện tại trong ngành.
-Với đa số khách hàng Việt Nam thì xe máy vẫn là một tài sản lớn, có giá trị.
Vì thế, nó không thể buôn bán tràn lan trên thị trường được. Mô hình phân phối chủ
yếu của ngành vẫn là là phân phối xuống các đại lý, các Head rồi sau đó, các Head
này sẽ phân phối sản phẩm tới tay khách hàng đồng thời sẽ kết hợp với hãng để bảo
hành, bảo dưỡng và chăm sóc khách hàng để đảm bảo cho khác hàng có được niềm
tin vào sản phẩm và nhãn hiệu.
b.Các điều luật điều chỉnh hoạt động của ngành.
-Sản xuất và lắp ráp xe máy cũng chịu những ràng buộc về mặt pháp lý đó là
thuế nhập khẩu và tỷ lệ nội địa hóa. Trong bối cảnh nhà nước đang khuyến khích
các ngành công nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hóa thì những sản phẩm như xe máy có tỷ
lệ nội địa hóa cao sẽ được những ưu đãi nhất định của luật pháp về thuế cũng như
phân phối. Ngược lại, những sản phẩm nhập khẩu và có tỷ lệ nhập khẩu các linh
kiện, phụ tùng cao sẽ phải chịu những khoản thuế lớn và kéo theo đó là giá của
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
Yamaha, Suzuki, Piaggio,…
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
6
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
0
0.5
1
1.5
2
2005 2006 2007 2008 2009
Số xe bán ra qua các năm của HONDA
Số xe bán ra qua các năm của HONDA
(nguồn Honda Việt Nam )
Các nhà máy hiện tại của Honda Việt Nam
-Nhà máy xe máy thứ nhất : Tháng 3 năm 1998, Honda Việt Nam khánh
thành nhà máy thứ nhất. Được đánh giá là một trong những nhà máy chế tạo xe máy
hiện đại nhất trong khu vực Đông Nam Á, nhà máy của Honda Việt Nam là minh
chứng cho ý định đầu tư nghiêm túc và lâu dài của Honda taị thị trường Việt Nam.
+Thành lập: Năm 1998
+Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
+Vốn đầu tư: USD 290,427,084
+Lao động: 3.560 người
+Công suất: 1 triệu xe/năm
+Công ty Honda Việt Nam (HVN) là công ty liên doanh gồm 03 đối tác:
Công ty Honda Motor (Nhật Bản – 42%)
Công ty Asian Honda Motor (Thái Lan – 28%)
Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông Nghiệp Việt Nam – 30%)
-Nhà máy xe máy thứ hai: Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của
khách hàng Việt Nam, Honda Việt Nam quyết định đầu tư mở rộng sản xuất, nâng
cao sản lượng tại thị trường Việt Nam. Tháng 8 năm 2008, nhà máy xe máy thứ hai
và an toàn của người dân Việt Nam cũng như vì sự phát triển của đất nước Việt
Nam. Vì vậy, HVN đã luôn nỗ lực áp dụng các công nghệ và trang thiết bị tiên tiến
hiện đại trong sản xuất, phát triển mạng lưới các nhà cung cấp phụ tùng trong nước
nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hoá, tiến hành chuyển giao công nghệ, nghiên cứu, phát
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
8
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
triển sản phẩm mới, tuyển dụng lao động địa phương, đào tạo nâng cao tay nghề
cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, tích cực đóng góp cho Ngân sách Nhà nước v.v.
- Dẫn đầu ngành công nghiệp xe máy Việt Nam: Với những nỗ lực vượt bậc,
HVN đã luôn dẫn đầu trong ngành công nghiệp chế tạo xe máy. Sau 10 năm hoạt
động, Công ty đã đầu tư gần 194 triệu đô la Mỹ cho sản xuất kinh doanh. Đặc biệt,
để đáp lại nhu cầu của khách hàng Việt Nam, từ năm 2005, HVN đã đầu tư thêm
khoảng 60 triệu đô la trong vòng 5 năm tới cho dự án xây dựng nhà máy sản xuất ô
tô Honda tại Việt Nam. Cùng với quá trình phát triển và trưởng thành, HVN tự hào
được góp phần đóng góp cho Ngân sách nhà nước với tổng trị giá lên tới gần 330
triệu đô la Mỹ, là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu tại tỉnh Vĩnh Phúc trong
những năm gần đây.
-Sản phẩm xe máy được khách hàng yêu mến nhất: Luôn theo đuổi mục tiêu
“cung cấp các sản phẩm và dịch vụ vượt trên cả sự mong đợi của khách hàng”,
HVN đã luôn nỗ lực nghiên cứu, phát triển và cho ra đời hàng loạt các sản phẩm
mang lại những giá trị mới cho các khách hàng của chúng tôi, như Super Dream
(1998), Future (1999), Wave Alpha (2002), Future II & Wave ZX (2004), Wave
RS, Future Neo và Wave Alpha mới (2005) v.v. Với chất lượng Honda toàn cầu,
tính an toàn cao, đặc biệt thích hợp với các điều kiện đường sá ở Việt Nam cùng với
các dịch vụ sau bán hàng chu đáo, các sản phẩm của HVN đã chiếm chọn cảm tình
của khách hàng Việt Nam. Đến nay, đã có hơn 2,5 triệu sản phẩm của HVN được
khách hàng trên cả nước yêu chuộng sử dụng. Sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng
của HVN luôn được người tiêu dùng bình chọn Hàng Việt Nam chất lượng cao
trong 9 năm qua và được Bộ Kế hoạch Đầu tư và Báo Thời báo kinh tế Việt Nam
nước. HVN đã 2 lần vinh dự được UBATGT quốc gia trao tặng bằng khen vì đã có
thành tích to lớn trong công tác ATGT (2004 – 2005).
-Đi đầu trong các hoạt động đóng góp xã hội: Bên cạnh đó, trong 10 năm qua,
HVN cũng đặc biệt chú trọng tới các hoạt động xã hội trong nhiều lĩnh vực, như hỗ
trợ phát triển giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, thể thao và từ thiện với tổng ngân sách
lên tới gần 6 triệu đô la Mỹ.
-Giáo dục:Tặng thiết bị đào tạo trị giá 500.000USD cho 50 trường dạy nghề
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
10
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
trên toàn quốc (1996 – 1998), cấp học bổng trị giá 200.000USD cho 4 sinh viên
xuất sắc sang tu nghiệp tại Nhật Bản (1999 – 2000), tặng rô bốt hàn trị giá
60.000USD cho trường ĐHBK Hà Nội (2003), thành lập quỹ học bổng Vĩnh Phúc
thường niên với ngân sách 200 triệu đồng/năm (2005), tặng học bổng cho 154 học
sinh, sinh viên xuất sắc (2004 – 2005), tài trợ cuộc thi Trí tuệ Việt Nam (2004), …
-Văn hoá & Thể thao: Tài trợ các chương trình ca nhạc đặc biệt gây tiếng vang
lớn của đài truyền hình Việt Nam (như Con đường âm nhạc), mang tiếng hát của
các ngôi sao trẻ đến với các bạn sinh viên hay tài trợ cuộc thi tìm kiếm tài năng thiết
kế thời trang trẻ và các chương trình thời trang khác, góp phần phát triển ngành thời
trang Việt Nam và biến ước mơ sáng tạo của các bạn trẻ thành hiện thực. Đặc biệt,
trong năm 2005, Công ty đã tài trợ Cúp bóng đá quốc tế mang tên Cúp Honda nhằm
tạo điều kiện cho các cầu thủ Việt Nam có cơ hội cọ xát để nâng cao chuyên môn.
-Từ thiện: Trao tặng 50 xe Super Dream cho Hội chữ thập đỏ Việt Nam
(1998), tặng 2 tỷ đồng cho đồng bào gặp thiên tai bão lụt, tặng 300 triệu đồng cho
Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam, ủng hộ Viện Nhi Trung ương 160 triệu đồng giúp đỡ
trẻ em lọc máu ghép tạng v.v.
-Với những đóng góp tích cực trong sản xuất kinh doanh và vì cộng đồng,
HVN đã vinh dự được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam trao tặng Huân chương
lao động hạng Ba và Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập cũng là cột mốc quan trọng ghi
dấu HVN vinh dự được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ do đã đóng góp
khả năng khởi động ổn định của PGM-FI trong điều kiện thời tiết lạnh. Tính năng
vận hành và độ êm của động cơ được cải thiện đáng kể và tốc độ cầm chừng cũng
luôn được duy trì ở mức độ ổn định cao. Có thể trải nghiệm được khả năng tăng tốc
tức thì và êm ái của PGM FI ngay mỗi khi tăng ga
+ Hệ thống làm mát bằng dung dịch với bộ tản nhiệt tích hợp
-Đã xây dựng được mạng lưới phân phối, bảo hành, sửa chữa, bảo dưỡng
cho tất cả các loại xe máy của Honda trên toàn quốc, chính điều này đã khiến
Honda luôn được biết đến ở bất cứ nơi đâu
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
12
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
b.Khó khăn.
-Là doanh nghiệp dẫn đầu nên luôn phải chịu sự tấn công mạnh mẽ của các
doanh nghiệp cạnh tranh, ví dụ như Yamaha, SYM, Piaggio, Suzuki, các lắp ráp xe
máy tại Việt Nam, xe máy Trung Quốc nhập khẩu …
-Giá bán chênh lệch nhiều giữa giá niêm yết và giá ở đại lý, gây nên sự mất
lòng tin nơi khách hàng
C.phân tích hiện trạng của sản phẩm
1.Sản phẩm
a.Lịch sử phát triển sản phẩm.
-Dòng xe Wave là dòng xe thay đổi nhiều mẫu mã nhất, nhằm hướng vào giới
trẻ. Năm 2001 Honda lần đầu tiên giới thiệu mẫu xe wave với thị trường Việt Nam.
Sau đó công ty không ngừng nghiên cứu, phân tích những đặc điểm riêng của người
Việt để có những điều chỉnh kiểu dáng của xe Wave phù hợp với người Việt Nam
hơn. Gần 15 năm dòng xe Wave có mặt tại thị trường Việt Nam, Honda đã điều
chỉnh và giới thiệu nhiều sản phẩm Wave đến người dân Việt Nam. Với những đặc
điểm như: phù hợp với vóc dáng người Viêt, tiết kiệm nhiên liệu, xe vận hành êm
trên mọi địa hình… dòng xe này thực sự đã trở thành “Người bạn đường” của người
dân Việt Nam.
-Quá trình phát triển
Yamaha ( với Sirius 2001 và Jupiter ) khiến cho thị phần giảm sút.
+Chiến lược đối với dòng xe Wave :Xe Wave α tuy về phần động cơ vẫn như
của Super Dream nhưng được thiết kế với kiểu dáng thể thao, mới lạ bắt mắt, giá
thành thấp với 10.990.000 VND, đã nhanh chóng được thị trường chấp nhận và
nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần
Tuy nhiên, xe Wave α ko được sản xuất ồ ạt, hay bán tràn lan, điều này đã tạo
nên cơn sốt và vị thế của Honda ngày càng được khẳng định
Sở dĩ Honda áp dụng thành công chiến lược này, bởi các yếu tố :
+Thương hiệu đã có tiếng
+Thị trường xe máy lúc ấy rất nhạy cảm về giá
+Honda Việt Nam đã nắm rõ tình hình và xác định đối thủ cạnh tranh.
-Giai đoạn cạnh tranh:
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
14
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
+Chiến lược : tiếp tục cải tiến đặc tính và chất lượng sản phẩm, đưa ra nhiều
sự lựa chọn hơn cho khách hàng với những mẫu mã mới, đặc tính mới : Wave S,
Wave RS, Wave S100, …
+Tấn công các đoạn thị trường mới, ở đây là dành cho những người cho thu
nhập trung bình với những chiếc xe Wave mạnh mẽ hơn, kiểu dáng đẹp hơn : Wave
RSX, Wave RSV. … Tấn công thị trường dành cho những người thu nhập khá với
Wave Fiat - cạnh tranh trực tiếp với Lexam của Yamaha (đều là xe số tự động)
+Giảm và tiến tới ngừng sản xuất xe Wave α cũ đã không còn được ưa chuộng
+ Mở rộng nhiều hơn các đại lý, kênh phân phối, khắp cả nước, đầu tư nhiều
hơn vào truyền thông, quảng cáo, đặc biệt là chương trình “Tôi yêu Việt Nam” –
khiến cho thương Honda nói chung và dòng xe Wave nói riêng ngày càng được
nhiều người biết đến và yêu thích
+Phát triển các mạng lưới đại lý chăm sóc khách hàng ở nhiều nơi với các
hoạt động : bảo dưỡng, kiểm tra, sửa chữa xe, …
-Giai đoạn bão hòa:
uy tín của Honda bị sụt giảm.
-Bỏ qua yếu tố kể trên kể từ lần đầu tiên ra mắt năm 2001, doanh số của Wave
đã đạt tới 3,6 triệu chiếc trở thành mẫu xe máy bán chạy nhất trên thị trường Việt
Nam (tính tới đầu năm 2009)
D.Phân tích hiện trạng thị trường:
1.Xác định phạm vi thị trường:
a.Xác định các đoạn thị trường:
Hiện tại:
-Nếu trước đây chiếc xe máy là một phương tiện giao thông mơ ước của
người dân, thì đến nay thị trường đang ngày càng phân cấp rõ ràng vào bốn
phân khúc chính:
+Phân khúc thứ nhất, chiếc xe máy đơn thuần là một phương tiện giao thông
thiết yếu trong sinh hoạt và kinh doanh, với giá rất dễ chấp nhận từ 6-10 triệu đồng.
Phân khúc này thường hướng vào đối tượng lao động có thu nhập thấp nhưng lại
cần phương tiện để đi lại hoặc phục vụ cho công việc và cuộc sống mưu sinh, đối
tượng ở vùng nông thôn. Sản phẩm trong khúc thị trường này thường có chất lượng
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
16
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
và độ bền, độ an toàn thấp. Tham gia vào phân khúc này là các loại xe máy liên
doanh của Việt Nam với Trung Quốc hoặc những chiếc xe được nhập khẩu từ trực
tiếp từ Trung Quốc như Longin, Sunfat, Lisohaca…
+Phân khúc thị trường thứ hai, cũng hướng vào thị trường bình dân, dân cư
vùng nông thôn, những người mới đi làm hoặc những người chưa tự chủ về tài
chính với giá từ 10 – 20 triệu đồng. Trong đoạn thị trường này, người sử dụng
không những tìm kiếm lợi ích từ sản phẩm là chiếc xe máy không chỉ là một
phương tiện giao thông, mà còn là một sở hữu mang tính thời trang của giới trẻ.
Đồng thời còn tìm kiếm 1 sảm phẩm có độ bền cao hơn, an toàn hơn. Tham gia thị
trường này có Honda, Yamaha, Suzuki, SYM… Với những dòng sản phẩm được
dành riêng cho đoạn thị trường này như Sirius, Taurus, Angel… Và dòng sản phẩm
vì vậy mà phân khúc theo giá thấp cũng là xu hướng trong thời gian tới của các
hãng xe máy tại Việt Nam.
b. Phân tích nhu cầu thị trường:
Nhu cầu của người dân cần có chiếc xe phục vụ công việc đi lại ngày càng trở
lên thiết yếu. Theo các chuyên gia nước ngoài ở Việt Nam càng ùn tắc giao thông
thì lượng tiêu thụ xe máy càng tăng vọt. Tuy các hãng đua nhau để chiếm lĩnh thị
phần nhưng lượng bán ra của các doanh nghiệp sản xuất xe máy tại Việt Nam và
doanh nghiệp nhập khẩu cộng lại hiện chỉ đáp ứng được khoảng 80-90% nhu cầu
của thị trường.
Theo dự báo của IPSI, đến năm 2020 tại hai thành phố lớn là Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ xe máy trên tổng số các phương tiện giao thông
chiếm từ 30% đến 35%. Đặc biệt, nhu cầu về xe máy tại các vùng nông thôn Việt
Nam sẽ tăng mạnh do đời sống người dân ngày càng được nâng cao.
Hiện nay, cả nước có khoảng 20 triệu xe máy đang lưu hành với sản lượng bán
ra gần 2 triệu xe/năm và tăng trưởng bình quân 2%/năm. Tuy nhiên, mật độ sử dụng
xe máy không đồng đều ở các khu vực. Tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đạt
bình quân 2 người/xe máy; các tỉnh Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Trị,
Bà Rịa-Vũng Tàu, Khánh Hoà mới đạt tỷ lệ 4 người/xe máy; các tỉnh thành khác chỉ
đạt khoảng 6 người/xe máy.
+Xe tay ga: Kết quả kinh doanh xe máy năm 2009, Yamaha đạt 600.000 xe
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
18
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
so với mức 450.000 xe năm 2008; Honda cũng cán đích 1,4 triệu xe so với 1,2 triệu
xe năm 2008. Nhìn chung, năm qua, các hãng đều có sản lượng xe máy tăng trưởng
khoảng 20% so với năm 2009, mặc cho kinh tế xuống thấp. Đóng góp chính cho sự
tăng trưởng này, theo các hãng, là từ xe tay ga.Tuy nhiên, thực tế trong thời gian
qua, việc thiếu nguồn cung một số sản phẩm xe tay ga đã dẫn đến sự khan hiếm
hàng, cuối cùng là đẩy giá xe tay ga lên cao. Chẳng hạn, Yamaha thừa nhận, Công
ty hiện chỉ đáp ứng được 80% nhu cầu xe máy tại thị trường Việt Nam. Hay xe
cụ thể.
-Mức độ sẵn sàng: khá cao với quá trình tìm hiểu, thu thập thông tin kĩ trứơc
khi ra quyết định mua.
2. Xác định khách hàng mục tiêu:
a. Quá khứ, hiện tại và tương lai:
-Quá khứ: Những người có thu nhập khá khi chiếc xe máy được xem là tài
sản có giá trị lớn trong gia đình.
-Hiện tại: Khách hàng là mọi đối tượng có thu nhập vừa phải, đối tượng trẻ
tuổi tới đối tượng có thu nhập khá trở lên.
-Tương lai: Phủ đầy và dày thị trường xe máy Việt Nam.
b. Các đặc tính của khách hàng:
-Những đặc điểm chung của các khách hàng : tối đa hóa lợi ích cho mình,
mua xe ở các đại lý chính hãng.
-Những đặc thù riêng có của khách hàng mục tiêu của công ty Honda:
+Có niềm tin và ưu thích thương hiệu Honda.
+Trung thành với doanh nghiệp.
+ Mức thu nhập vừa phải với các dòng xe số.
+Mức thu nhập cao với các dòng xe tay ga.
c. Khách hàng ưu thích về công ty và sản phẩm:
-Chất lượng đảm bảo tốt: độ bền, động cơ,sự an toàn, tiết kiệm nhiên liệu và
thân thiện với môi trường.
-Sản phẩm hiện đại: trẻ trung, đa dạng về kiểu dáng, thường xuyên cải tiến,
nâng cao tính năng sản phẩm.
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
20
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
-Tiết kiệm nhiên liệu, dịch vụ sau bán tốt.
-Phụ tùng xe dễ tìm, dễ sửa chữa.
d. Những phàn nàn của khách hàng mục tiêu:
-Giá ở các head cao hơn so với giá niêm yết trên webside và cũng có sự chênh
Sirius …. Các loại xe này hiện đang rất được ưa chuộng trên thị trường - đặc
biệt là giới trẻ.
-Theo số liệu của Đoàn công tác liên ngành khảo sát hoạt động của các doanh
nghiệp xe máy có vốn đầu tư nước ngoài đăng trên báo Đầu tư ta thấy: Công ty
Yamaha Motor Việt Nam đã tiêu thụ được khoảng hơn 25.000 xe. Đây là một con
số cũng không phải là nhỏ đối với một doanh nghiệp mới gia nhập vào sau.Năm
2009, Yamaha chiếm 18% thị phần thị trường xe máy tại Việt Nam.
-Mặc dù không thể cạnh tranh với Honda (Honda Việt Nam) về chất lượng:
độ bền , tiết kiệm nhiên liệu nhưng yamaha lại có lợi thế hơn Honda Việt Nam về
chủng loại. Chủng loại của hãng này rất phong phú và đa dạng, rất hợp thời trang.
-Yamaha Motor Việt Nam còn có chiến lược quảng cáo, tiếp thị rộng rãi, có
hình thức “mua trả góp” với lãi suất hợp lý nhằm thu hút khách hàng; tài trợ 3 năm
liên tiếp cho giải bóng đá thiếu nhi, nhi đồng toàn quốc từ năm 2007-2009 với khẩu
hiệu “ Vì tương lai bóng đá Việt Nam; đồng hành cùng với “chiến dịch xanh”; tham
gia hội trợr với chương trình “triển lãm More Yamaha năm 2010” ở Buôn Mê
Thuột; sử dụng hệ thống đại lý và chăm sóc khách hàng rất tốt bao gồm Yamaha
Town , đại lý 3S, đại lý 2S .
-Những sản phẩm của các hãng này thường được giới trẻ ưa chuộng bởi Bản
đã thành lập một trung tâm tại Băng Cốc (Thái Lan) với chức năng nghiên cứu phát
triển các loại xe máy để bán trên thị trường Châu Á và Việt Nam (động thái này
xuất phát từ thực tế, trên thị trường Châu Á đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt
không chỉ về chất lượng giá cả mà cả về kiểu dáng của xe)
-Như vậy, sau một thời gian hoạt động Yamaha Motor Việt Nam đã tìm thấy
thế mạnh của mình và đang từng bước khẳng định sức mạnh đó trên thị trường xe
máy Việt Nam.
-Sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với dòng xe wave là sirius và taurus, lexam
trên phân khúc xe số theo thu nhập.
Nhóm 3 Lớp Marketing 50A
22
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
23
Kế hoạch Marketing dòng sản phẩm Wave của Honda
+Năm 2004 bán được 139.134 xe
+Năm 2005 bán được 52.433 xe.
Năm 2009, SYM chiếm 9% thị phần thị trường xe máy Việt Nam.
-SYM sử dụng kênh phân phối qua các đại lý trên toàn quốc, khuyến mại tặng
mũ bảo hiểm cho khách hàng và tổ chức sự kiện “10 năm thành lập SYM”. Với chất
lượng và uy tín cũng như sự tìm tòi, cải tiến không ngừng với những sản phẩm mẫu
mã đẹp, chất lượng cao, SYM ở Việt Nam đã và đang trở thành một trong những
nhãn hiệu được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng và tin tưởng.
- Trên phân khúc theo thu nhập của dòng xe số thì các dòng xe angel là đối thủ
trực tiếp của wave.
Suzuki
-Suzuki là một hãng xe lớn của Nhật Bản. Năm 1996 công ty Việt Nam
Suzuki đi vào hoạt động. Tháng 9/1996: Việt Nam Suzuki đã sản xuất xe GN 125,
loại xe Suzuki đầu tiên tại Việt Nam. Tháng 10/1996: công ty đã cho ra đời Viva
CD, mẫu xe Viva đầu tiên ra mắt tại Việt Nam, xây dựng nên một hình ảnh thời
trang cho xe máy.
-Ngoài việc cải tiến những sản phẩm hiện có, Việt Nam Suzuki còn đưa ra thị
trường các kiểu xe mới như Shogun R125 (giá 23,5 VND/xe), Viva 110 thường và
phanh đĩa, Smash 110 (giá: 15,7 VND/xe)., Revo 110cc, x-Bike…
-Sản lượng xe máy của Việt Nam Suzuki từ năm 1996 đến năm 2002 như sau:
+Năm 1996: 2.040 chiếc (4 tháng hoạt động)
+Năm 1997: 12.253 chiếc
+ Năm 1998: 25.015 chiếc
+Năm 1999: 21.775 chiếc
+ Năm 2000: 23.964 chiếc
+Năm 2001: 28.241 chiếc
+Năm 2002: 42.797 chiếc
-Với khẩu hiệu xe máy Suzuki “Ride the winds of change”, Suzuki chấp nhận