TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN LÂM TRỌNG NGHĨA
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ CỦA TRÙNG BÁNH XE
(ROTIFERA) TRONG CÁC HỆ SINH THÁI KHÁC NHAU
LÂM TRỌNG NGHĨA
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ CỦA TRÙNG BÁNH XE
(ROTIFERA) TRONG CÁC HỆ SINH THÁI KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH
gian thực hiện luận văn.
Chân thành cảm ơn !
Lâm Trọng Nghĩa
3
(18 loài). Đối với các ao nuôi thì
ao ương cá sặc rằn có mật độ động vật nổi cao nhất 1.676.700 ct/m
3
(25
loài), trong đó Rotifera có 690.000 ct/m
3
(49 %). Ao tôm càng xanh có số
lượng động vật nổi thấp nhất 112.500 ct/m
3
(17 loài). Đối với mỗi thủy vực
sẽ có những loài trùng bánh xe khác nhau chiếm ưu thế, tùy theo điều kiện
cụ thể từng ao.
2.4.2 Hệ sinh thái kênh, rạch 9
2.4.3 Hệ sinh thái ao 10
2.4.4 Hệ sinh thái ruộng 10
Phần 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 11
3.1 Vật liệu 11
3.2 Phương pháp nghiên cứu 11
3.2.2 Thời gian thu mẫu 12
3.2.3 Phương pháp thu mẫu 12
3.2.4 Phương pháp phân tích mẫu 12
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 13
Phần 4: Kết quả, thảo luận 14
4.1 Các yếu tố môi trường ở các thủy vực 14
4.2 Phân b
ố của động vật nổi trong các hệ sinh thái 16
4.2.1 Các thủy vực tự nhiên 16
4.2.2 Các ao nuôi 19
4.3 Phân bố của trùng bánh xe trong các hệ sinh thái 23
4.3.1 Kênh, rạch 24
4.3.2 Sông 27
4.3.3 Ruộng lúa 29
4.3.4 Ao tự nhiên 31
4.3.5 Ao nuôi cá bố mẹ 33
4.3.6 Ao ương cá rô đồng 34
4.3.7 Ao ương cá sặc rằn 36
4.3.8 Ao nuôi cá tra 38
4.3.9 Ao ương cá tra 40
4.3.10 Ao tôm càng xanh 42
4.3.11 Ao cá chim trắng 45
iii
iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Các điểm thu mẫu…………………………………………… 12
Bảng 2: Phương pháp phân tích các yếu tố thủy lý hóa……………… 14
Bảng 3: Kết quả các yếu tố thủy lý hóa……………………………… 15
Bảng 4: Cấu trúc thành phần động vật nổi trong các hệ sinh thái…… 17
Bảng 5: Cấu trúc thành phần động vật nổi ở các thủy vực tự nhiên… 17
v
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Cơ thể trùng bánh xe………………………………………….4
Hình 2: Vòng đời trùng bánh xe………………………………………6
Hình 3: Kênh, rạch………………………………………………… 25
Hình 4: Polyarthra sp………………………………………………. 27
Hình 5: Sông………………………………………………………… 28
Hình 6: Biểu đồ về mật độ trùng bánh xe ở sông…………………… 29
Hình 7: Ruộng lúa…………………………………………………… 30
Hình 8: A.fissa……………………………………………………… 31
Hình 9: Ao tự nhiên …………………………………………………. 33
Hình 10: Ao cá bố mẹ…………………………………………………34
Hình 11: Ao ương cá rô đồng…………………………………………35
Hình 12: Ao ương cá sặc rằn………………………………………… 37
Hình 13: Ao nuôi cá tra……………………………………………….39
Hình 14: Brachionus caudatus………………………………………. 41
Hình 15: Ao ương cá tra…………………………………………… 41
Hình 16: Hexathra mira………………………………………………43
Hình 17: Ao tôm càng xanh………………………………………… 43
Hình 18: Biểu đồ về mật độ trùng bánh xe ở ao tôm càng xanh………43
Hình 19: Epiphanes brachionus………………………………………45
Hình 20: Ao cá chim trắng …………………………………………. 46
Hình 21: Biểu đồ về m
vụ cho việc nuôi sinh khối các loài trùng bánh xe. Trong các ao ương nuôi cá thì
việc quản lý ao nuôi như thế nào để tạo được quần thể động vật nổi phát triển, đặc
biệt là ngành trùng bánh xe bởi vì chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
thành công hay thất bại của quá trình ương nuôi. Mặt khác, cũng sẽ tìm hiểu được
loài trùng bánh xe thích h
ợp nhất cho từng loài thủy sản riêng biệt, từ đó sẽ góp
phần làm tăng tỷ lệ sống cho quá trình ương nuôi chúng. Với các ưu điểm như tốc
độ sinh sản rất nhanh, bơi lội chậm chạp và đặc biệt là khả năng dể giàu hóa,
trùng bánh xe được xem là loại thức ăn tự nhiên ưa thích nhất của hầu hết các loài
thủy sản. Bên cạnh đó, ngoài vai trò là loại thức
ăn tự nhiên quan trọng thì trùng
bánh xe còn là loài chỉ thị môi trường. Chúng giúp con người có thể dự đoán
được mức độ nhiễm bẩn của từng thủy vực. Chính vì những lí do đó, việc tìm
hiểu khả năng sống của Rotifera trong những hệ sinh thái khác nhau là vô cùng
cần thiết. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu sự phân bố của trùng bánh xe (Rotifera)
trong các hệ sinh thái khác nhau” đã được thực hiện. 1
1.2 Mục tiêu của đề tài:
Tìm hiểu về sự phân bố của ngành trùng bánh xe (Rotifera) trong các hệ
sinh thái khác nhau làm cơ sở đánh giá mức độ dinh dưỡng thông qua sự phát
triển của quần thể trùng bánh xe trong thủy vực.
1.3 Nội dung của đề tài:
2
PHẦN 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của trùng bánh xe
2.1.1 Đặc điểm phân loại- hình thái:
Hệ thống phân loại:
Giới Animalia
Ngành Rotiferaa (Cuvier, 1817)
(
www.itis.uda.gov)
Ngành trùng bánh xe thuộc nhóm động vật đa bào nhỏ nhất trong số hơn
1000 loài đã được mô tả, 90% trong số đó sống ở sinh cảnh nước ngọt. Chiều dài
cơ thể của chúng ít khi đạt tới 2mm. Các con đực có kích thước nhỏ và kém phát
triển hơn các con cái, một số chỉ có kích thước 60 µm. Cơ thể của tất cả các loài
gồm có một số lượng không đổi tế bào, loài Brachionus chứa khoảng 1000 tế
bào
và những tế bào này không thể coi là những thực thể đơn mà chỉ là một vùng sinh
chất. Sự sinh trưởng của con vật được đảm bảo bởi sự tăng sinh chất chứ không
phải bằng việc phân chia tế bào (Lavens and Sorgeloos, 1996 ).
Biểu bì chứa một lớp dày đặc các protein giống kêratin được gọi là vỏ
giáp. Hình của vỏ giáp và mặt bên của cột sống và các phần trang điểm cho phép
xác định các loài và các kiểu hình thái khác nhau. Cơ
thể trùng bánh xe được
phân biệt thành ba phần khác nhau gồm đầu, thân và chân. Phần đầu chứa cơ
quan quay hoặc vành rất dể được nhận biết bởi các lông tơ hình vành khăn và
chính nó là nguồn gốc của tên trùng bánh xe. Vành có thể co rụt đảm bảo sự vận
động và chuyển động xoáy của nước làm cho con vật hấp thụ dể dàng các hạt
thức ăn nhỏ (chủ yếu là tảo và các mùn bã). Phần thân chứa ống tiêu hóa, hệ
thống bài tiết và ống sinh dục. Cơ quan đặc trưng đối với Rotifera là mề nghiền
sau đó được tiết ra ngoài thường xuyên và đều đặ
n.(Nogady, 1993).
4
Cũng giống như sinh vật nước ngọt khác, trùng bánh xe bị nước thẩm thấu
nhưng áp suất thẩm thấu bên trong cơ thể luôn được giữ ổn định nhờ hoạt động
của hệ thống nguyên đơn thận. Có từ 40-50 cặp đối xứng sắp xếp dọc theo cơ thể,
những nguyên đơn thận nối nhau thành mạch dài, các ống nhỏ xoắn lại theo mỗi
cạnh, m
ột phần của thận có vách mỏng, đầu kia có vách dày, có tuyến. Hai ống
hấp thụ trống rỗng hình thành phần bài tiết có ống dẫn ngắn theo mặt lưng về lổ
huyệt. Nước dư thừa hay chất thải của cơ thể được hấp thụ từ xoang giả bằng
những ống hấp thụ và đổ vào khoang ống dẫn. Chất tiết được chứa tạm thời trong
phần đầu của ống sau đó đưa đi vào huyệt, thường thì khoảng 6 lần trong một
phút. Những loài không có phần hấp thụ riêng, chúng hấp thụ chất thải vào vách
dạ dày của huyệt đã biến đổi thành ống hấp thu. Cá thể giả có tuyến bài tiết tích
lũy lâu ngày nên có màu tối sẫm. (Dương Trí Dũng, 2000).
Hệ sinh dục: Cơ quan sinh dục của con cái bao gồm ba phần: buồng trứng,
chất noãn hoàng và lớ
p nang. Ngay từ khi mới sinh ra, số lượng trứng đã có sẵn
trong buồng trứng (Nogady, 1993).
2.1.2 Thức ăn và phương thức bắt mồi.
Theo Dương Trí Dũng (2000) thì trong nhóm trùng bánh xe ăn thực vật
sống bám và sống tự do là những sinh vật ăn lọc, thụ động như Filinia, Keratella,
Euchlanis, Brachionus…Vòng tiêm mao quanh đầu là bộ phận quan trọng của
con vật hướng thức ăn trong nước như periphyton, sinh vật nổi cở
nhỏ khác và
mảnh vụn hữu cơ.
Bọn bắt mồi chủ động như Asplanchna, Synchaeta, Trichocerca …sẽ phát hiện ra
con mồi của nó nhờ vào râu cảm giác hay sự phát hiện hoạt chất sinh hóa nào đó.
sinh học nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên
con cái hữu tính sẽ sinh ra trứng đơn bội và phát triển theo hai hình thức: Trứng
đơn bội không thụ tinh sẽ phát triển thành con đực có kích thước bằng 1/3 con
cái, chúng không có hệ tiêu hoá và bàng quang, chỉ có tinh hoàn chứa tinh trùng.
Trứng nghỉ (Cyst): là trứng đơn bội kết hợp với tinh trùng tạo thành. Trứng nghỉ
có vách tế bào dày, có khả n
ăng chống chịu tốt với môi trường, khi gặp diều kiện
thuận lợi sẽ phát triển thành con cái. (Nogady, 1993).
6
2.2 Môi trường sống:
2.2.1 Nhiệt độ:
Tăng nhiệt độ trong phạm vi tối ưu thường dẫn đến kết quả làm tăng hoạt
động sinh sản. Ở nhiệt độ cao các con đói sẽ tiêu thụ rất nhanh những dự trữ lipid
và hydrat cacbon của chúng (Lavens và Sorgeloos, 1996 ).
Theo Fulks (1991) (trích dẫn bởi Trần Sương Ngọc, 2003) thì nhiệt độ
thích hợp cho trùng bánh xe B.plicatilis tùy thuộc vào hình thái của chúng. Trùng
bánh xe dòng lớn (L-strain) có kích thước khoảng 130-340 µm sẽ phát triển tố
t ở
nhiệt độ 18-25
o
C trong khi trùng bánh xe dòng nhỏ (S-strain) có kích thước 100-
210 µm thì nhiệt độ thích hợp là 28-35
o
C nhưng nhìn chung dao động nhiệt độ
thích hợp cho trùng bánh xe là 20-30
o
C. Đối với trùng bánh xe nước ngọt
B.angularis nuôi với thể tích 0,5 lít, mật độ đầu là 200 con/ml cho ăn bằng tảo
Chlorella ( 60.000tb/trùng bánh xe /ngày ) thì nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát
7
2.2.3 Hàm lượng oxy:
Theo Lavens and Sorgeloos (1996) các luân trùng có thể sống sót trong
nước chứa oxy hòa tan ở mức thấp tới 2mg/l. Mức oxy hòa tan trong nước nuôi
phụ thuộc vào nhiệt độ, độ mặn, mật độ trùng bánh xe và kiểu thức ăn. Mặc dù
hầu hết trùng bánh xe đều cần hàm lượng oxy khoảng hơn 1mg/l nhưng một số
loài có khả năng sống kỵ khí hoặc gần như kỵ khí trong một thời gian ngắn.
Những loài khác như Anuraeopsis miraclei, Filinia hofmani, Polyarthra
dolichoptera có thể sống lâu dài trong những thủy vực nghèo oxy như ở tầng
nước sâu hay những ao nước thải nơi mà hàm lượng dinh dưỡng rất phong phú
nhưng lại ít sự cạnh tranh với những loài khác (Nogady, 1993).
2.2.4 Amoniac (NH3)
Tỷ lệ NH
3
/NH
4
+
bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và độ pH của nước. Các mức
amoniac không ion hóa cao gây độc hại tới các trùng bánh xe, nhưng các điều
kiện nuôi với nồng độ NH
4
dưới 1mg/l xem ra là an toàn.
2.3 Sự phân bố của trùng bánh xe (Rotiferaa)
Theo Nguyễn Thúy Hiền (1988) thì Brachionus angularis và Brachionus
urceus có ở môi trường phân theo nhiều hơn môi trường nước thải. Đây là hai
loài ưa thích môi trường giàu chất hữu cơ. Ngoài ra, theo Trần Thị Thanh Hiền
(1987) thì ghi nhận rằng trùng bánh xe chiếm ưu thế từ ngày 1-4 sau khi ao được
bón phân hữu cơ, với các loài như: B.calyciflorus, B.urceus, B.angularis.
Trùng bánh xe phân bố toàn cầu, các thủy vực nước ngọt, các vùng cảnh
do chịu ảnh hưởng rất lớn từ nguồn nước thải sinh hoạt. Còn ở các vùng phèn thì
chủ yếu là giống Lecane ư
a sống nơi có rong.
Theo Nguyễn Thị Lan Phương (1990), sau khi khảo sát thành phần loài động
vật nổi trong các ao ương cá trôi và cá chép và các kênh dẫn nước ở khu vực Cần
Thơ thì nhóm Rotatoria có 34 loài chiếm 70,8%, đây là nhóm sinh vật chiếm ưu
thế đặc trưng cho những thủy vực giàu chất dinh dưỡng. Bên cạnh đó, theo Lê
Thị Kiều Trang (1997), khi nghiên cứu ở những ao nuôi cá chép, rô phi, mè trắng,
mè vinh với các tỷ lệ ghép khác nhau và có sử dụng phân hữu cơ thì tỷ lệ
ngành
trùng bánh xe luôn chiếm ưu thế trong các ao với tỷ lệ từ 55 – 63,4%. Cũng với
thí nghiệm như trên nhưng do Trần Tiến Công thực hiện vào năm 1998 cũng cho
kết quả tương tự. Rotifera luôn là nhóm có số loài phong phú nhất với tỷ lệ từ
57,2 – 65,5 %. Mặt khác, theo Lê Quốc Bảo ( 2008), khi khảo sát tại các ao nuôi
cá tra thâm canh tại Hậu Giang qua 3 đợt thì kết quả là: trung bình có 6 loài thuộc
ngành trùng bánh xe, chiếm trung bình 36,33 %. Và mật độ trung bình của ngành
trùng bánh xe qua 3 đợt là: 46461,3 ct/m
3
. Đối với các mô hình nuôi tôm sú bán
thâm canh (9 ‰) và mô hình tôm – lúa luân canh (8 ‰) thì loài Brachionus
plicatilis luôn là loài chiếm ưu thế và mật độ tổng của trùng bánh xe là 271861
ct/m
3
. (Đinh Văn Thảo, 2008).
2.4 Đặc điểm các hệ sinh thái:
2.4.1 Hệ sinh thái sông:
Theo Nguyễn Viết Phổ (1982) và Trần Trường Lưu (1982) (trích bởi Đặng
Ngọc Thanh và ctv, 2002) thì sông là nơi cư trú rất quan trọng, được đặc trưng
bởi hàm lượng oxy hòa tan cao như sông Tiền trong khoảng 5,9 – 9,7 mg/l, sông
Hậu 4,3 – 7,9 mg/l. Nhiệt độ phụ thuộc vào nhiệt độ khí quyển, nhiệt độ tầng mặt
3
, trong khi đó ao không bón phân mật độ chỉ đạt được 55.000 con/m
3
.
2.4.4 Hệ sinh thái ruộng:
Ruộng lúa nước là dạng thủy vực nông cạn từ 0,1 – 1m, gặp nước theo
mùa. Nhiệt độ cao, dao động mạnh. pH biến động từ 5,6 – 9,2 ổn định vào mùa
nước nổi, oxy thường thấp hơn các thủy vực khác. Số lượng động vật nổi thấp
phụ thuộc nhiều vào mực nước và mang tính mùa vụ rõ rệt, chủ yếu là Copepoda
và Cladocera chiếm khoảng 40%. Do sử dụng nhiều phân hóa h
ọc và thuốc trừ
sâu nên nhiều khi quần thể động vật nổi giảm mạnh, có khi không tồn tại trong
thời gian dài. Chúng sẽ phát triển trở lại nếu không dùng thuốc trừ sâu nữa, nhất
là trùng bánh xe (Đặng Ngọc Thanh và ctv, 2002).
Ao nuôi cá bố mẹ 1 2 Hậu Giang
Ao ương cá rô đồng 1 2 Hậu Giang
Ao ương cá sặc rằn 1 2 Hậu Giang
Ao nuôi cá tra 3 6 Hậu Giang
Ao ương cá tra 3 6 Hậu Giang
Ao tôm càng xanh 1 2 Thốt Nốt
Ao nuôi cá chim
trắng
1 2 Sóc Trăng
Ao tôm sú 2 4 Sóc Trăng
Tổng 31 62 11
3.2.2 Thời gian thu mẫu:
Tất cả các mẫu đều được thu vào buổi sáng từ 7 – 10h, bắt đầu từ ngày
2/5/2009 và kết thúc vào ngày 5/6/2009
3.2.3 Phương pháp thu mẫu:
+ Thu mẫu định tính
Dùng lưới động vật nổi động vật có kích thước mắt lưới 60µm thu trên mặt nước
theo hình số 8. Đối với ao thì thu ở 4 góc ao và ở giữa ao, đối với sông, kênh,
rạch thì thu dọc hai bên bờ sông. Mẫu thu được cho vào chai nhựa 110 ml sau đó
cố định b
ằng formol với nồng độ từ 4 – 6%
+ Thu mẫu định lượng
Dùng phương pháp thu lọc. Đối với ao dùng xô nhựa 20 lít múc nước ở 4 góc và
giữa ao đổ vào lưới lọc. Đối với sông, rạch thì thu dọc hai bên bờ và giữa sông
Mẫu thu cũng được cho vào chai nhựa 110 ml và sau đó cố định bằng formol 4 –
6%
3.2.4 Phương pháp phân tích mẫu:
N: số ô đếm
A: 1 mm
2
V
cd
: thể tích nước đã được cô đặc (ml)
V
m
: thể tích mẫu (ml)
Một số các yếu tố thủy hóa có thể đo trực tiếp như: nhiệt độ, pH, độ mặn và DO.
Các yếu tố còn lại bao gồm: TSS, BOD, TN, TP được thu mẫu và phân tích tại
12
phòng thí nghiệm, bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, khoa Thủy sản, trường Đại
học Cần Thơ.
Bảng 2 : Phương pháp phân tích các yếu tố thủy lý hóa
Thủy lý Dụng cụ đo Thủy hóa Phương
pháp phân
tích
Độ mặn Khúc xạ kế DO Winkler
Nhiệt độ Máy 315i, Germany BOD Winkler
pH Máy 315i, Germany TSS Phương
pháp lọc
TN Kejedalh
TP Kejedalh
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu:
Sử dụng chủ yếu phần mềm Excel để xử lý số liệu.
Bảng 3: Kết quả các yếu tố thủy lý hóa STT
Thủy
vực
Độ
mặn
(‰)
Nhiệt
độ (°C)
pH
DO
(mg/l)
BOD
(mg/l)
TSS
(mg/l)
TN
(mg/l)
TP
(mg/l)
Các thủy vực tự nhiên
1
Kênh,
rạch
0 30,7 7,02 5,63 1,48 13,5 0,6875 0,0612
2 Sông 1,8 29,78 7,4 6,02 1,274 24,8 0,2486 0,4286
3
Ruộng
9
Ao
ương
cá tra
0 32,9 7,44 6,4 2,9 15,66 2,305 0,1226
10
Ao
tôm
càng
xanh
0 33,4 8,31 5,1 5,11 86 10,179 3,028
11
Ao cá
chim
trắng
5 29,2 7,51 4,5 4,01 21 2,185 0,851
12
Ao
tôm sú
12,5 30,35 7,27 4,5 3,38 35,5 2,921 0,428
14
Từ kết quả về các yếu tố thủy lý, thủy hóa được trình bày ở bảng 3 cho
thấy rằng hầu hết các điểm thu đều là nước ngọt, ngoại trừ một số thủy vực có độ
mặn như: sông (1,8
‰), ao cá chim trắng (5 ‰) và ao tôm sú (12,5 ‰). Nguyên
nhân các các điểm thu hầu hết là nước ngọt là do có hơn 90 % số loài trong ngành
Rotifera sống ở các sinh cảnh nước ngọt (Lavens and Sorgeloos, 1996). Bên cạnh
đó, yếu tố nhiệt độ không có sự biến đổi lớn giữa các thủy vực, hầu hết đều nằm
trong khoảng 29 – 33 ºC. Một yếu tố nữa cũng ít dao động giữa các thủy vực là
15
4.2 Phân bố của động vật nổi trong các hệ sinh thái:
Bảng 4: Cấu trúc thành phần động vật nổi trong các hệ sinh thái
Ngành Số loài Tỷ lệ
Protozoa 24 28
Copepoda 12 14
Cladocera 7 8
Rotiferaa 43 50
Tổng 86 100
Qua đợt khảo sát chúng tôi đã thu được tổng cộng 86 loài thuộc 45 giống động
vật nổi, chủ yếu thuộc các ngành Protozoa, lớp phụ chân mái chèo (Copepoda),
bộ giáp xác râu ngành (Cladocera) và ngành trùng bánh xe (Rotiferaa). Trong đó,
ngành trùng bánh xe có số loài phong phú nhất với 43 loài chiếm 50 %. Bộ
Cladocera có số loài thấp nhất (7 loài) và chỉ chiếm 8 %. Điều này phù hợp với
nhận định của Lavens và Sorgeloos, (1996) cho rằng có đến 90% các loài thuộc
ngành trùng bánh xe sống ở các sinh cảnh nước ngọt. Ngành có số loài phong phú
thứ hai là ngành Protozoa (24 loài) chiế
rạch
10 24 4 10 3 7 24 59 41 20
Sông 8 44 3 17 2 11 5 28 18 6
Ruộng
lúa
6 18 3 9 4 12 20 61 33 16
Ao tự
nhiên
10 20 4 8 3 6 33 66 50 19
16
Kết quả cấu trúc thành phần loài động vật nổi ở các thủy vực tự nhiên
được trình bày ở bảng 5. Kết quả cho ta thấy thành phần loài ở các ao tự nhiên là
phong phú nhất với 50 loài (trung bình 19 loài trong 1 thủy vực) thuộc 30 giống
được tìm thấy. Trong đó, ngành trùng bánh xe vẫn là ngành chiếm ưu thế với 33
loài thuộc 17 giống chiếm 66 %. Điều này là do trong số các thủy vực trên thì ao
tự nhiên là thủy vực nước tĩnh đặc trư
ng, không có nước lưu thông, hàm lượng
dinh dưỡng trong nước cao nhất trong số các thủy vực tự nhiên đã khảo sát (TN =
2.7355 mg/l) tạo điều kiện cho các nhóm động vật nổi phát triển, đặc biệt là các
loài thuộc ngành trùng bánh xe. Cladocera có thành phần loài ít hơn so với các
thủy vực khác (3 loài thuộc 3 giống) chiếm 6 %. Sông có thành phần loài đơn
giản nhất với 19 loài. Trong đó, trùng bánh xe có tất cả 5 loài thuộc 5 giống và
chỉ chiếm 26,31%. Nguyên nhân có thể là do hàm lượng đạm trong thủ
y vực thấp
(TN =0.2486 mg/l) nhưng độ đục lại quá cao (TSS = 24.8 mg/l) cộng với tốc độ
dòng chảy khá mạnh không thích hợp cho sự phát triển của các loài thuộc ngành
Rotifera. Trong khi đó Protozoa lại có số lượng loài cao nhất với 8 loài thuộc 4
3
% Ct/m
3
% Ct/m
3
%
Tổng
Kênh,
rạch
17.922 23 2.337 3 6.221 8 7.248 9 48.169 57 76.460
Sông 28.230 67 1.786 4 3.491 8 6.132 15 2.477 6 42.116
Ruộng
lúa
44.541 21 9.032 4 5.643 3 20.023 10 129.247 62 208.486
Ao tự
nhiên
34.389 19 8.659 5 2.741 2 32.604 18 105.567 56 183.960
Kết quả về mật độ động vật nổi ở các thủy vực tự nhiên được trình bày ở
bảng 6. Theo đó, ruộng lúa có tổng mật độ động vật nổi cao nhất với 208.486
17