Nghiên cứu sự phân bố của as trong tầng holocene nam dư, hà nội - Pdf 10

Nghiên cứu sự phân bố của As trong tầng
Holocene Nam Dư, Hà Nội

Cao Thị Minh Trang

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Khoa Môi trường
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: GS.TS. Phạm Hùng Việt
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Tổng quan về đặc điểm địa hóa của trầm tích chứa nước ngầm đồng bằng
châu thổ sông Hồng, Việt Nam; ô nhiễm As trong nước ngầm tầng Holocene; sự
phân bố của As trên trầm tích và các giả thiết về sự phân bố và giải phóng As từ
trầm tích ra nước ngầm. Nghiên cứu sự phân bố của As và mối quan hệ của nó với
một số thành phần hóa học khác trong nước ngầm. Phân tích sự phân bố của As
trong trầm tích tầng Holocene. Tìm hiểu nguy cơ lan truyền As từ tầng Holocene
xuống tầng Pleistocene dưới tác động của khai thác nước ngầm.

Keywords. Khoa học môi trường; Nước ngầm; Hà Nội; Ô nhiễm Asen

Content
MỞ ĐẦU
Khai thác nước sông sử dụng kĩ thuật lọc thấm bờ là một biện pháp đang được áp
dụng tại Nam Dư thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội. Lọc thấm bờ là quá trình nước mặt thấm
qua đáy sông, hồ, các lớp trầm tích và đi vào tầng ngậm nước gần kề một cách tự nhiên. Và
nếu chúng ta xây dựng một hệ thống bơm gần các sông hồ, sẽ tạo ra quá trình thấm cưỡng
bức do sự thăng giáng về thủy lực giữa nước ngầm và nước sông. Hệ lọc tự nhiên là tốt vì có
thể hạn chế quá trình xử lý thứ cấp nhưng nếu chứa các chất ô nhiễm khó lọc bằng mặt cơ
học thì sẽ xảy ra nguy cơ lan truyền ô nhiễm trong toàn bộ tầng chứa nước ngầm cạnh đó.

chịu sự phong hóa và xói mòn nằm trên mực nước biển.
Trầm tích ở các tầng ngậm nước phía dưới tích tụ trong suốt thời kì Pleistoncene (tầng
Pleistocene), được xem là trầm tích biển cạn cấu thành từ lớp phiến cát và đất sét. Những
trầm tích này có một lớp sỏi cứng với màu sắc nâu nhạt giống như sự phong hoá đá ong như
là một chỉ thị cho các điều kiện oxy hoá sau quá trình tích tụ. Sự thể hiện các điều kiện oxy
hoá của trầm tích này có thể được giải thích bằng mực nước biển hạ thấp tương ứng với băng
hà cực đại lần cuối cùng - lúc đó mực nước biển hạ thấp xuống độ sâu 120m so với mực biển
hiện tại hoặc quá trình nâng lên của vỏ trái đất tương ứng với trầm tích cao tại Vịnh Bắc bộ.
Những lớp trầm tích ở các tầng ngậm nước phía trên lắng đọng trong suốt thời kì
Holocene (tầng ngậm nước Holocene) được chứng minh là đã lắng đọng trong một môi
trường có sự thay đổi, từ bãi thoát triều là chủ yếu đến đồng bằng lũ tích bị ảnh hưởng bởi
dòng triều. Tầng ngậm nước Holocene bao gồm các trầm tích cát 25-40m với sự đan xen giữa
đất sét và đất bùn có chứa than bùn và xác thực vật.
Tầng cách nước Pleistocene – Holocene được thành tạo chủ yếu bởi cát sét mịn xám
xanh tướng đầm phá và đầm lầy ven biển hệ tầng Hải Hưng ở phần trên và trầm tích mịn
nguồn gốc sông - biển hệ tầng Vĩnh Phúc ở phần dưới. Trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc được
phong hóa, bào mòn (hình 1.6.) có màu đỏ vàng đến cam. Độ dày của tầng cách nước
Pleistocene – Holocene thay đổi từ 6 – 11,5m. Tuy nhiên, ở dải ven sông các hoạt động xâm
thực đã bào xói, khiến sự phân bố của tầng cách nước này không đồng đều và hình thành các
"cửa sổ địa chất thủy văn" hoặc cắt hẳn tầng ngăn cách. Điều này làm cho sự trao đổi nước
giữa hai tầng chứa nước diễn ra mạnh hoặc hai tầng chứa nước nằm trực tiếp với nhau tạo
thành một hệ thống thuỷ động lực duy nhất.
Qua đây ta thấy, tầng Holocene là tầng địa chất bao gồm trầm tích và nước ngầm.
Trầm tích tầng này có tuổi trẻ hơn so với các tầng địa chất khác, hình thành vào thời kì
Holocene. Phần trên của tầng Holocene đồng bằng sông Hồng thuộc hệ tầng Thái Bình hình
thành vào thời kì biển tiến, trong khi đó phần dưới thuộc hệ tầng Hải Hưng hình thành vào
thời kì biển lùi. Vì trẻ và một phần được hình thành vào thời kì biển tiến (hệ tầng Thái Bình)
nên trầm tích Holocene chứa nhiều chất hữu cơ, có môi trường khử mạnh mẽ. Chính vì điều
này, tầng Holocene được biết đến như là một môi trường thuận lợi cho việc giải phóng As từ
dạng rắn trên trầm tích thành dạng hòa tan đi vào nước ngầm. Sau đây, học viên sẽ trình bày

(<
1mg/L), với pH gần bằng hoặc lớn hơn 7. Thế oxi hóa khử điển hình nhỏ hơn 100mV.
Nhưng mối tương quan giữa các nguyên tố hòa tan này với As thường không mật thiết và
nếu có mối tương quan tốt thì chỉ mang tính cục bộ. Ví dụ, một số tác giả đã tìm thấy tương
quan thuận giữa As và Fe ở một làng nghiên cứu, nhưng điều này không đúng cho toàn bộ
vùng Băng-la-đét và Tây Bengal. Tuy nhiên mối tương quan nghịch giữa As và SO
4
lại rất
phổ biến trong nước ngầm. Mối liên hệ này gợi ý rằng sự linh động của As bị ảnh hưởng rất
lớn bởi điều kiện môi trường khử mạnh, trùng khớp với quá trình khử SO
4
2-
. Một số nước
ngầm ở Bangladesh có môi trường khử đủ mạnh để quá trình sinh CH
4
xảy ra.
Ở vùng Nam và Đông Nam Á bị nhiễm As, giữa các giếng khoan có sự khác biệt rất
lớn về độ sâu. Tại Băng-la-đét và đường biên giới bang Tây Bengal, Ấn Độ các giếng khoan
có độ sâu đạt tới gần 350m, trong khi ở Nepal, Campuchia và Việt Nam độ sâu lớn nhất chỉ
100m. Độ sâu các giếng phụ thuộc vào độ dày của lớp trầm tích bở rời phía dưới. Điều đáng
nói ở đây là hơn một nửa số giếng ở tầng ngậm nước có độ sâu < 50m ở tất cả các nước trên
đều vượt quá giới hạn cho phép 10 μg/L của Tổ chức Y tế Thế Giới về hàm lượng As trong
nước uống.
1.2.2. Ô nhiễm As trong tầng chứa nước Holocene ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các tầng nước ngầm của đồng bằng sông Hồng và sông Mê-Kông đang
được khai thác trên quy mô lớn để sử dụng làm nguồn nước sinh hoạt.
Nhóm các nhà khoa học thuộc viện Khoa học và Công nghệ Nước, Thụy Sĩ phối hợp
cùng trung tâm nghiên cứu Công nghệ Môi trường và Phát triển Bền Vững, trường Đại học
Quốc gia Hà Nội trong thời gian từ 2005 – 2007 đã tiến hành khảo sát trên toàn bộ khu vực
đồng bằng sông Hồng với tổng số 461 mẫu nước giếng khoan và nhận thấy: phần trăm số

5.3 mg/L), HCO
3
-
: 19 – 785 mg/L (trung bình: 230 mg/L) cho thấy rằng tầng chứa nước ở
đây mang tính khử. Nồng độ As cao thường được tìm thấy ở những mẫu có giá trị pH > 7 [3].
Qua đây ta có thể thấy, các vùng đồng bằng châu thổ trên thế giới và Việt Nam đều có
một số tầng chứa nước Holocene bị ô nhiễm As. Tất cả các giả thiết về nguồn gốc của của As
trong nước ngầm đều cho rằng As được giải phóng ra từ trầm tích. Tuy nhiên trạng thái oxi
hóa, kiểu liên kết và sự phân bố của As trên các pha rắn trong trầm tích quyết định tính linh
động của nó. Phần tiếp theo, tác giả luận văn sẽ trình bày về vấn đề sự phân bố của As trên
trầm tích.
1.3. Sự phân bố của As trên trầm tích
Qua các kết quả nghiên cứu về sự phân bố của As trên trầm tích dựa trên
phương pháp chiết trình tự, chúng ta có thể nhận thấy rằng phần lớn As liên kết với các pha
rắn Fe, một phần nhỏ là dạng ion dễ trao đổi và phần còn lại liên kết với các khoáng sulfua.
Trước đây, quy trình chiết trình tự của tác giả Tessier và cộng sự (1979) dường như được
chấp nhận rộng rãi nhất. Tuy nhiên gần đây, tác giả Wenzel và cộng sự (2001) đã cải tiến qui
trình, khiến phương pháp này có khả năng tách riêng được dạng As liên kết cùng Fe hydroxit
tinh thể với dạng As liên kết cùng Fe (hydr)oxit vô định hình và các khoáng sulfua. Bởi vậy,
phương pháp mà Wenzel đưa ra đã được áp dụng rất nhiều bởi các nhà khoa học trên thế giới.
Trong luận văn này, tác giả cũng đã sử dụng qui trình chiết của Wenzel đưa ra để nghiên cứu
sự phân bố của As trên trầm tích vùng nghiên cứu nhưng có cải tiến đề phù hợp với điều kiện
phòng thí nghiệm và chọn lọc cho mối liên kết của As với các thành phần pha rắn của trầm
tích như sau:
1. Cạnh tranh vị trí hấp phụ
Dùng dung dịch NaHCO
3
(0.5M), pH = 8.5 để thực hiện bước này dựa trên lý thuyết
ion HCO
3

), vivianite (Fe
3
(PO
4
)
2
.8H
2
O), calcite (CaCO
3
),
3. Pha Fe hoạt động dễ bị khử
Axit ascorbic ngoài tính axit có khả năng trao đổi proton để phản ứng với pha Fe dễ
hòa tan thì còn có tính khử. Dựa trên lí thuyết đó, axit ascorbic 0.1M, pH = 3 được sử dụng
để chiết chọn lọc đối với các pha Fe hoạt động. Các pha sắt hoạt động đó có thể là ferihydrite
(γ - FeOOH), Fe(OH)
3
.
4. Pha các oxit Fe tinh thể
Để chiết pha sắt tinh thể có độ bền cao và khá trơ với môi trường khử, phản ứng tạo
phức kết hợp khử hòa tan được sử dụng. Tác nhân được chọn là dung dịch hỗn hợp axit
ascorbic 0.1M và đệm NH
4
-oxalat 0.2M, pH =3. Các pha sắt tinh thể chiết được có thể là
geothite (α - FeOOH), hematite (Fe
2
O
3
).
5. Các khoáng sulfua

vật chất hữu cơ và hình thành môi trường yếm khí. Điều kiện này sẽ được duy trì nếu sự
khuếch tán và đối lưu của oxi hòa tan và các tác nhân oxi hóa khác từ bề mặt chậm hơn sự
tiêu thụ chúng. Dưới tác dụng của điều kiện khử và các vi sinh vật, oxit Fe(III) - dạng kết tủa
trong quặng sẽ chuyển thành sắt (II) - dạng dễ tan trong nước. Quá trình này đồng thời làm
cho As rời khỏi quặng sắt và tan trong nước ngầm. Sau đây là chuỗi phản ứng ôxi hoá khử
minh họa cho cơ chế này:
1. Hô hấp hiếu khí: CH
2
O + O
2
→ H
2
O + CO
2

2. Sự khử Nitơ: CH
2
O + H
2
O + N
2
+ H
+
→ Amoni (NH
4
+

) + CO
2


4FeOOH (As(V)) + CH
2
O + 7H
2
CO
3
→ 4Fe
2+
+ 8HCO
3
-
+ 6H
2
O + As(III)
2Fe
2
O
3
.xH
3
AsO
3
+ CH
2
O +7H
+
→ 4Fe
2+
+ HCO
3

3
+ HS
-
+ 15H
+
6. Sự hình thành metan: 2CH
2
O → CH
4
+ CO
2

(CH
2
O là công thức biểu diễn cho vật chất hữu cơ)
Kết quả là tầng chứa nước ở điều kiện khử thường có nồng độ As tăng cao kèm theo
nồng độ sắt hòa tan cao, độ kiềm (bicacbonat) cao.
Sự lưu chuyển của các dòng nước ngầm theo thời gian
Như trên đã nói, một trong hai nhân tố quan trọng liên quan đến sự hình thành nước
ngầm chứa nhiều As trên qui mô khu vực đó là As khi đã được giải phóng phải tồn tại trong
nước ngầm và không bị rửa trôi đi xa. Bởi vậy, các điều kiện địa hóa được mô tả ở trên có thể
giải thích cho sự giải phóng As vào nước ngầm nhưng không đủ để giải thích cho sự phân bố
của nước ngầm có As cao như đã được phát hiện. Người ta nhận thấy, chỉ khi tác nhân địa
hóa và chế độ địa hóa thủy văn cùng đồng thời tác động đến sự linh động của As thì nước
ngầm mới có nồng độ As cao trong quy mô lớn
Thật sự cần thiết khi xem xét việc dòng nước ngầm trước đây có thể khác với dòng
nước ngầm hiện nay. Một trong những sự kiện quan trọng gần đây là sự thay đổi toàn cầu về
mực nước biển, điều này xảy ra trong khoảng 130 nghìn năm vừa qua. Giữa khoảng 120
nghìn năm và 18 nghìn năm trước đây, mực nước biển bị giảm (với sự biến động nhỏ) khi các
sông băng mở rộng. Thời kì băng hà gần đây nhất khoảng 21-13.5 nghìn năm trước với mực

nhất. Do đó, nếu khai thác nước ồ ạt, công suất cao tại các tầng chứa nước Pleistocene vốn
không có As, nằm liền kề với tầng Holocene (bị ô nhiễm As) sẽ đưa As từ tầng Holocene đi
vào tầng Pleistocene và gây ra nguy cơ rủi ro, lan truyền ô nhiễm As từ tầng Holocene xuống
tầng Pleistocen (hình 1.18). Điều này đã được tác giả Michael Berg và cộng sự (2008) tìm
thấy tại tầng chứa nước phường Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội.
Tại Nam Dư, có một nhà máy nước đi vào hoạt động năm 2004. Nhà máy nước Nam
Dư có các giếng nằm dọc bên bờ Sông Hồng để lợi dụng sự thấm lọc bờ cưỡng bức. Do việc
bơm hút nước diễn ra quá mức từ các nhà máy nước như Tương Mai, Pháp Vân nên vùng
phía nam Hà Nội chịu ảnh hưởng sự hạ thấp mực nước ngầm. Thêm vào đó, hệ thống cống
thải của Hà Nội không qua xử lí mà chỉ qua một chuỗi các bể lắng rồi đổ thẳng vào Sông
Hồng ngay ở phía nam của khu vực giếng này. Điều này dẫn tới nhiều lo ngại về chất lượng
nước uống lấy từ khu vực Nam Dư khi nước bề mặt chứa một lượng lớn các chất dinh dưỡng
và chất hữu cơ, cùng với sự bơm hút nước ngầm từ tầng Pleistocene ngày càng tăng có thể
khiến những chất này đi qua các lớp trầm tích, ngấm xuống tầng Pleistocene, tạo ra điều kiện
khử ngày càng mạnh mẽ. Và nếu tầng Holocene ở đây có nồng độ As cao thì thông qua quá
trình thấm lọc bờ, nước ở nhà máy Nam Dư tuy lấy từ tầng Pleistocen cũng có nguy cơ bị ô
nhiễm As. Bởi vậy luận văn này được thực hiện với mục tiêu là đánh giá tình trạng As ở khu
vực Nam Dư thông qua việc nghiên cứu hàm lượng As hấp thu trong trầm tích cũng như
trong nước ngầm tầng Holocene và quan hệ của nó với các thành phần hóa học khác. Luận
văn góp phần đánh giá nguy cơ rủi ro lan truyền As từ tầng Holocene xuống tầng pleistocene
vốn không có As.
Chương 2 – ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là chùm giếng tại Nam Dư nằm sát bên bờ sông Hồng, thuộc địa
phận quận Hoàng Mai, phía Đông Nam thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng
5 km theo đường chim bay.
Ở khu vực Nam Dư, phần đỉnh của tầng Pleistocene được tìm thấy ở độ sâu 40m.
Tầng này chủ yếu là có áp và bán áp, với sự rò rỉ và bổ cập từ các tầng nằm phía trên cũng
như từ Sông Hồng. Nhà máy nước Pháp Vân và Tương Mai lần lượt nằm cách Nam Dư 3-4
km về phía tây nam và tây bắc, và mực nước ngầm trong tầng Pleistoncene tại khu vực khảo

vì môi trường gần sát bề mặt có tính oxi hóa cao hơn
As(umol/L)
0
10
20
30
40
50
60
0.0 0.5 1.0 1.5 2.0
Độ sâu-m
Hình 1. Sự phân bố As trong nước ngầm
theo độ sâu
và có sự pha loãng nồng độ do trao đổi nước mạnh mẽ với sông Hồng. Tuy nhiên ở độ sâu
2,5 - 3m có As xuất hiện với nồng độ khá cao có thể do ngay tại đó, những hạt trầm tích phù
sa mới lắng đọng chứa nhiều chất hữu cơ lớn đến nỗi mặc dù gần bề mặt nhưng sự oxi hóa
chất hữu cơ của các vi sinh vật đã tạo ra môi trường khử đủ mạnh khiến quá trình khử hòa tan
các oxit sắt xảy ra và giải phóng As vào nước. Hình 1. cũng cho thấy, tại phần trên của tầng
Pleistocene (40 – 60m) của Nam Dư đã có biểu hiện ô nhiễm As (0,72 - 1 µmol/L).
Mối tương quan giữa hàm lượng As tổng và dạng khử As(III), giữa sắt tổng và dạng
khử Fe
2+
được trình bày tại hình 1. Kết quả cho thấy các tương quan này khá chặt chẽ với giá
trị R
2
> 0,9 ở cả hai chỉ số (những điểm ở gốc tọa độ biểu thị cnồng độ dưới giới hạn phát
hiện). Điều này cho thấy, môi trường nước ngầm ở đây là môi trường mang tính khử.


0
15
30
45
0 10 20 30 40
Fe
2+
(umol/L)
Fe(T) (umol/L)
0.0
0.6
1.2
1.8
0.0 0.5 1.0 1.5 2.0
As(III) (umol/L)
As(T) (umol/L)
Hình 2. a- Tương quan giữa hàm lượng sắt tổng với dạng khử Fe
2+

b - Tương quan giữa hàm lượng As tổng và dạng khử As(III)
0
4
8

+
) vào nước ngầm. Điều này
có nghĩa nồng độ NH
4
+
là một chỉ thị cho mức độ phân hủy chất hũy cơ và mức độ khử của
môi trường. Và ở nước ngầm tại Nam Dư giữa nồng độ amoni với As(III) và Fe
2+
đều có
tương quan khá tốt (hình 4).

3.2.
Sự
phân
bố
của
As
trong
trầm
tích
tầng
Holoc
ene

Kết
NH
4
+
(umol/L)
0

Tỉ lệ % các dạng As
4.3
16.2
18.3
20.8
22.9
30.7
32.9
34.5
38.9
41.9
Độ sâu (m)
0% 20% 40% 60% 80% 100%
Tỉ lệ % các dạng Fe
4.3
16.2
18.3
20.8
22.9
30.7
32.9
34.5
38.9
41.9
Độ sâu (m)
0 10 20 30 40 50 60 70
Hàm lượng As (nmol/g)
4.3
16.2
18.3

Hình 5. Phân bố As và Fe theo độ sâu và tỉ lệ % từng dạng As, Fe trong
trầm tích tầng chứa nước Holocene tại Nam Dư.
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Cát ven sông
Bùn đáy sông
11.33 m
10.33 m
9.33 m
8.33 m
7.33 m
6.83 m
6.28 m
5.83 m
5.18 m
4.33 m
2.83 m
0.33 m
-1.17 m
-3.16 m
-5.81 m
Hàm lượng As (mg/kg)
As không tham gia tương tác bề mặt
As tương tác bề mặt yếu
As trên pha cacbonat
As tái hấp phụ sau khi thoát ly khỏi pha cacbonat
As trên phâ sắt oxit vô định hình
As trên pha sắt oxit tinh thể
As trên pha silicat/sunfua
Mực nước ngầm
quả phân tích về sự phân bố của asen trong bảy pha được biểu diễn ở các hình 5. Hình 5 cho

thích hợp các oxit As(III) cũng có khả năng hấp phụ hoặc tái kết tủa cùng các pha khoáng sắt
thứ cấp.
Trong các mẫu trầm tích, trừ mẫu ở độ sâu nông nhất 4,3m thì các mẫu còn lại không
thấy hoặc tìm thấy rất ít pha Fe hoạt động và đương nhiên không có hoặc rất ít As liên kết với
pha này. Ở mẫu trầm tích 4,3m, kết quả thí nghiệm chiết cho thấy có khoảng 15% là Fe hoạt
động liên kết cùng 8% lượng As tổng. Trong một nghiên cứu mới của Dieke Postma và cộng
sự (2010), nhóm tác giả này đã tiến hành thực hiện phép chiết trên các trầm tích được lấy cả ở
vùng có tính oxi hóa lẫn vùng có tính khử bằng tác nhân axit HCl và axit ascorbic ở điều kiện
pH =3. Kết quả cho thấy, ở trầm tích vùng oxi hóa, lượng Fe(II) được chiết bởi axit HCl là rất
ít, nhưng khi chiết bằng axit ascorbic thu được Fe với hàm lượng lớn. Trong khi đó, ở trầm
tích có tính khử kết quả hoàn toàn khác với lượng Fe(II) được giải phóng ra khi chiết bằng
HCl và ascorbic là ngang nhau. Giả sử điều này cũng đúng với trầm tích ở vùng nghiên cứu
thì trầm tích ở độ sâu 4,3m có tính oxi hóa, các trầm tích ở các độ sâu còn lại có tính khử.
Phần As lớn nhất nằm trong dạng khoáng tinh thể và khoáng sulfit với tỷ lệ ngang
nhau, mỗi dạng chiếm trung bình 40%. Tuy nhiên ở Fe, dạng tinh thể chỉ chiếm trung bình
khoảng 20 – 25%, còn phần lớn là nằm trong các khoáng với Sulfit. Điều này chứng tỏ ở các
trầm tích nghiên cứu, các khoáng Fe tinh thể có khả năng liên kết với As rất lớn. Kết quả này
có phần khác với nhận định của tác giả Jenny Norrman (2008) cũng thực hiện phép chiết theo
trình tự trên trầm tích Nam Dư phát hiện thấy hầu như As liên kết với các khoáng sulfit.
10
20
30
40
50
0 10 20 30
Độ sâu (m)
Fe(T)_ pha tinh thể
(umol/g)
0
10
20
30
40
50
0 35 70
Độ sâu (m)
Thế giới đến 12 lần. Điều đáng chú là nước ngầm phần trên của tầng Pleistocene
cũng có hiện tượng ô nhiễm As với nồng độ từ 0,72 - 1 µmol/L.
2. Khử hòa tan sắt là quá trình giải phóng As từ trầm tích vào nước ngầm ở địa bàn
nghiên cứu thể hiện ở sự tương quan chặt chẽ giữa hàm lượng As và một số thông số
đại diện cho môi trường khử như: Fe, Mn, NH
4
+
.
3. As phân bố trong trầm tích tầng Holocene với hàm lượng từ 1- 5 mg/kg, được phân bố
trên nhiều pha khác nhau nhưng chủ yếu là pha Fe tinh thể (~40%), khoáng sulfit
(~40%) và pha rắn Fe tái kết tủa (8 – 20%). Trong đó, As và Fe trên pha sắt tinh thể
có mối tương quan khá chặt chẽ, chứng tỏ pha sắt tinh thể là nguồn đưa As vào nước
ngầm. Tuy nhiên trong trầm tích không chứa sắt dạng hoạt động.

5. Blute, J.A Jay, C.H. Swartz, D.J.Brabander, H.F. Hemond (2009), “Aqueous and solid
phase arsenic speciation in the sediments of a contaminated wetland and riverbed”,
Applied Geochemistry 24, pp. 346-358.
6. Eiche.E, Thomas Neumann, Michael Berg, Beth Weinman, Alexander van Geen,
Stefan Norra, Zsolt Berner, Pham Thi Kim Trang, Pham Hung Viet, Doris Stuben
(2008), “Geochemical processes underlying a sharp contrast in groundwater arsenic
concentrations in a village on the Red River delta, Vietnam”, Applied Geochemistry,
23, pp. 3143 – 3154.
7. Fendorf.S, Holly A. Michael, Alexander van Geen (2010), “Spatial and Temporal
Variation of Groundwater Arsenic in South and Southeast Asia”, Science, Vol 328,
pp. 1123 - 1127.
8. Hiemstra, Juan Antelo, Rasoul Rahnemaie, Willem H.van Riemsdijk (2009),
“Nanoparticles in natural systems I: The effective reactive surface of the natural oxide
fraction in field samples”, Geochimica et Cosmochimica Acta, 74, pp. 41 - 58.
9. Hossain, Junji Akai, Hiroshi Sakugawa (2004), “Mobilization of arsenic from
subsurface sediments by effect of bicarbonate ions in groundwater”. Chemosphere 54,
pp. 753–762.
10. Huaming Guo, Suzhen Yang, Xiaohui Tang, Yuan Li, Zhaoli Shen (2008),
“Groundwater geochemistry and its implications for arsenic mobilization in shallow
aquifers of the Hetao Basin, Inner Mongolia”, Science of the Total Environment, 393,
pp.131-144.
11. Hui Goh and Teik-Thye Lim (2005), “Arsenic fractionation in a fine soil fraction and
influence of various anions on its mobility in the subsurface environment”, Applied
Geochemistry, Volume 20, Issue 2, pp. 229-239.
12. Juan Carlos Nosvoa-MunXoz, José Manuel G Queijeiro, Daniel Blanco-Ward,
Cristalina Álavarez-Olleros, Eduardo García-Rodeja, Antonio Martinez-Cortizas
(2007),“Arsenic fractionation in agricultural acid soils from NW MSpain using a
sequential extraction procedure”, Science of the Total Environment, 378, pp. 18 - 22.
13. Kinniburgh D.G., Smedley P.L. (2001), “Arsenic contamination of groundwater in
Bangladesh”, DPHE, Govt. Of Bangladesh and DFID (UK), British Geological

pp. 989-1016.
22. Smedley PL, M.Zhang, G.Zhang, Z.Luo (2003), “Mobilisation of arsenic and other
trace elements in fluviolacustrine aquifers of the Huhhot Basin, Inner Mongolia”,
Applied Geochemistry, 18, pp. 1453 – 1477.
23. Suiling Wang, Catherine N.Mulligan (2008), “Speciation and surface structure of
inorganic arsenic in solid phases: A review”, Environment International, 34, pp. 867 -
879.
24. Tu Quang, Shan Xiao-quan, Ni Zhi-ming (1994), “Evaluation of a sequential
extraction procedure for the fractionation of amorphous iron and manganese oxides
and organic matter in soils”, Science of the Total Environment, 151, pp. 159- 165.
25. Van Geen, Y. Zheng, S.Goodbred, J R., A.Horneman, Z.Aziz, Z.Cheng, M.Stute,
B.Mailloux, B.Weinman, M.A.Hoque, A.A.Seddique, M.S.Hossanin,
S.H.Chowdhury, K.M.Ahmed (2008), “Flushing History as a hydrogeological control
on the regional distribution of Arsenic in shallow Groundwater of the Bengal Basin”,
Environ. Sci. Technol, 42, pp. 2283-2288.
26. Wenzel, Natalie Kirchbaumer, Thomas Prohaska, Gerhard Stingeder, Enzo Lombi,
Domy C.Adriano (2001), “Arsenic fractionation soils using an improved sequential
extraction procedure”, Analytica Chimica Acta, 436, pp. 309 - 323.
Tiếng Việt
27. Mai Thanh Đức (2007), “Lý giải hiện tượng ô nhiễm asen trong nước ngầm trên cơ sở
nghiên cứu sự giải phóng asen khỏi oxit sắt trong trầm tích ở điều kiện môi trường
khử”, Luận văn thạc sĩ khoa học Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà
Nội.
28. Phạm Thị Kim Trang (2007), “Hiện trạng ô nhiễm thạch tín trong nước giếng
khoan tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, 12+13, tr. 148-152.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status