Chuyên đề thực tập
1
Đề tài:
“Phân tích tình hình tài chính trên cơ sở
bảng cân đối kế toán với việc tăng cường
quản trị doanh nghiệp tại Công ty cơ khí
Hà Nội”
Chuyên đề thực tập
2
Lời mở đầu
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta
đãđạt được nhiều bước tiến hết sức quan trọng. Tuy nhiên đểđặt được mục
tiêu đến năm 2020 đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp với
cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí và thực hiện công nghiệp
hoá hiện dại hoáđất nước thìđòi hỏi chúng ta chiến lược đúng đắn và hợp lí.
Cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới phát triển nền kinh tế là mũ
nhọn của đất nước. Công cụ chủ yếu được dùng đó là tài chính. Vàđể cung
cấp những thông tin hữu ích cho việc ra quyết định kinh doanh và kinh tế của
các nhà quản lí doanh nghiệp và các nhà sử dụng thông tin tài chính ở bên
ngoài, hệ thống báo cáo tài chính đã ra đời. Dựa vào các nguồn thông tin nhận
của chủ doanh nghiệp.
Nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của việc phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp đối với việc ra quyết định của những nhà quản lí, với mong
muốn được nghiên cứu sâu hơn về vấn đề phức tạp và khó khăn này vàđể vận
dụng những hiểu biết, kiến thức đã thu thập được trong nhà trường và thực tế
thực tập tại một doanh nghiệp sản xuất cụ thể, em đã mạnh dạn lựa chọn đề
tài: “Phân tích tình hình tài chính trên cơ sở bảng cân đối kế toán với việc
tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Công ty cơ khí Hà Nội” cho chuyên
đề của mình.
Luận văn ngoài Lời mởđầu và kết luận bao gồm ba nội dung chính sau:
Chương I: Hoạt động tài chính và cơ sở của việc phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp.
Chương II: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cơ khí Hà Nội.
Chương III: Phương hướng nâng cao công tác quản trị tài chính tại
Công ty cơ khí Hà Nội
Do trình độ lí luận và thực tiên còn nhiều hạn chế nên bài viết này
không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sựđóng góp ý kiến của
các thầy cô giáo cùng các cô chú trong công ty.
Chuyên đề thực tập
4
CHƯƠNG I
HOẠTĐỘNGTÀICHÍNHVÀCƠSỞLÝLUẬNCỦAVIỆCPHÂN
TÍCHTÌNHHÌNHTÀICHÍNHDOANHNGHIỆP
1.1.
HOẠTĐỘNGTÀICHÍNHVÀSỰCẦNTHIẾTPHẢIPHÂNTÍCHTÌNHHÌNHTÀICHÍ
NHDOANHNGHIỆP.
1.1.1. Hoạt động tài chính:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất đều phải có một số
những nguyên tắc cơ bản:
- Phải có mục tiêu: Để giải quyết tốt mối quan hệ kinh tế với Nhà nước,
với đơn vị bạn, công nhân viên,… thì doanh nghiệp phải cụ thể hoá về số
lượng, chất lượng và thời gian tiến hành sản xuất, dự kiến bằng các con số kế
hoạch cụ thể. Nguyên tắc này giúp doanh nghiệp đảm bảo hoạt động an toàn
và phòng ngừa những rủi ro.
- Phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm có hiệu quả: Nó cóý nghĩa là phải
đảm bảo đầy đủ, kịp thời số vốn tối thiểu cần thiết cho sản xuất và lưu thông,
đồng thời phải sử dụng số vốn đó một cách hợp lý vào các khâu, các giai đoạn
của quá trình kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
- Phải tôn trọng pháp luật, tuân theo chếđộ tài chính tín dụng, pháp luật
về tài chính, kỷ luật thanh toán, đảm bảo doanh nghiệp vừa đạt được lợi
nhuận tối đa, vừa đảm bảo các yếu tố xã hội.
1.1.2. Sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Tình hình tài chính doanh nghiệp (TCDN) được ghi chép và biểu hiện
qua các con số trên các tài liệu kế toán. Những con sốđó tự thân nó không nói
lên một điều gì cả. Hơn nữa, chúng chỉ là những minh chứng cho quá khứ, chỉ
là những con số trên sổ sách, không thể hiện được thực trạng đa dạng và sôi
động của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. Chính phân tích sẽ làm cho
chúng biết nói, không những làm hiện ra bức tranh tài chính hiện tại của
doanh nghiệp mà còn chỉ ra xu hướng của nó trong tương lai tươi sáng hay ảm
đạm. Nói cách khác, phân tích làm công việc thổi hồn cho bức tranh tài chính
của doanh nghiệp, khiến nó trở nên sống động và cóích.
Hoạt động tài chính là một hoạt động đóng vai trò cực kì quan trọng đối
với sự phát triển của doanh nghiệp và cũng làđối tượng quan tâm đặc biệt của
những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, những người có quan hệ tài chính
với doanh nghiệp. Do tính chất quan trọng đó, đối tượng hoạt động tài chính
luôn làđối tượng cần được nắm bắt để kiểm tra tình hình hoạt động vàđưa ra
Chuyên đề thực tập
thể tổng hợp được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang tồn tại dưới
các hình thái( cả vật chất và tiền tệ).
Chuyên đề thực tập
7
- Bảng CĐKT được chia thành hai phần theo hai cách phản ánh vốn kinh
doanh của doanh nghiệp là tài sản và nguồn hình thành tài sản (nguồn vốn).
Về mặt lượng, tổng số tài sản luôn cân bằng với tổng số nguồn.
- Bảng CĐKT phản ánh tài sản và nguồn vốn tại một thời điểm. Thời
điểm đó thường là ngày cuối cùng của quý, năm. Tuy nhiên, do tính chất là
báo cáo so sánh nên căn cứ vào số liệu ở hai thời điểm cuối kì vàđầu năm sẽ
thấy được sự thay đổi của vốn và nguồn vốn trong kì báo cáo.
b) Ý nghĩa của bảng CĐKT trong việc phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp.
Do những đặc trưng cơ bản, riêng có, bảng CĐKT khái quát hoá toàn bộ
tài sản và nguồn vốn hiện có tại doanh nghiệp vào thời điểm cuối kì. Nhìn vào
hai dòng cuối cùng của phần tài sản và nguồn vốn, người đọc có thể thấy
được quy mô tài sản của doanh nghiệp và các nguồn vốn tài trợ cho các tài
sản đó.
Do được sắp xếp khoa học theo các khoản mục và mục chi tiết, người
đọc có thể dễ dàng nắm bắt được các con số tổng hợp, các con số chi tiết của
từng loại tài sản và nguồn vốn, qua đó có thể tiến hành phân tích dọc để có
thể thấy sự biến động về cơ cấu của chúng. Việc sắp xếp, phân loại hết sức
lôgíc này cũng giúp người phân tích tài chính giảm thời gian và công sức
phân loại thông tin trước khi tiến hành phân tích.
Ngoài ra, do mang tính chất là báo cáo so sánh, bảng CĐKT luôn có số
liệu của đầu năm và cuối kỳ. Việc cung cấp số liệu của hai kì liên tiếp tạo
điều kiện choviệc so sánh, đối chiếu để dễ nhận thấy sự biến đổi qua thời
gian, qua đó sựđoán dược xu hướng phát triển trong tương lai.
Cuối cùng, bảng CĐKT được sắp xếp theo thứ tự khả năng chuyển đổi
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ kế toán tổng hợp và chi tiết liên quan,
thực hiện việc kiểm kê tài sản và phản ánh kết quả kiểm kê vào sổ kế toán
trước khi khóa sổ. Sau đó tiến hành đối chiếu công nợ phải thu, phải trả, đối
chiếu giữa số liệu tổng hợp và chi tiết, số liệu trên sổ kế toán và số thực kiểm
kê, khoá sổ kế toán và tính số dư các tài khoản.
+ Khi lập bảng cân đối kế toán, những chỉ tiêu liên quan đến những tài
khoản phản ánh tài sản có số dư bên Nợ thì căn cứ vào số dư Nợđể ghi.
Những chỉ tiêu liên quan đến những tài khoản phản ánh nguồn vốn có số dư
Có thì căn cứ vào số dư Có của tài khoản để ghi.
+ Những chỉ tiêu thuộc các khoản phải thu, phải trả ghi theo số dư chi
Chuyên đề thực tập
9
tiết của các tài khoản phải thu, phải trả. Nếu số dư chi tiết là dư nợ thì ghi ở
phần tài sản, nếu dư có thìở phần nguồn vốn.
+ Một số chỉ tiêu liên quan đến các tài khoản điều chỉnh hay tài khoản
dự phòng như tài khoản 214, 129, 229,139, 159…Các tài khoản này luôn có
số dư có nhưng khi lên bảng CĐKT phải ghi ở phần tài sản theo sốâm. Các
tài khoản phản ánh nguồn vốn như tài khoản 412, 413, 421…nếu có số dư bên
nợ thì vẫn ghi ở phần nguồn vốn và ghi theo sốâm.
c) Kiểm tra bảng CĐKT
Kiểm tra bảng CĐKT là yêu cầu bắt buộc với công tác hạch toán và quản
lý doanh nghiệp. Thực chất của công việc kiểm tra là thẩm định tính chính
xác của số liệu trong bảng CĐKT thông qua kiểm tra nguồn số liệu và kĩ thuật
lập bảng. Việc thực hiện công việc này hoàn toàn không dễ dàng. Vì vậy, để
hỗ trợ, một hệ thống các phương pháp kiểm tra đã ra đời, cho phép người sử
dụng, tuỳ từng trường hợp cụ thể, có thể vận dụng linh hoạt, lựa chọn hay kết
hợp nhiều phương pháp đểđạt được mục đích của mình. Tuy nhiên, dù cóáp
dụng phương pháp nào đi nữa thì công việc kiểm tra cũng được tiến hành qua
các bước sau:
toán. Không chỉđảm bảo tính trung thực của bảng cân đối kế toán, việc kiểm tra
còn là cơ sở vững chắc cho việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp trong
kỳ và phương hướng nhiệm vụ cho kỳ tới. Vì vậy, kiểm tra bảng cân đối kế toán
là một bước chuẩn bị không thể thiếu trước khi tiến hành phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp.
1.2.1.3. Những hạn chế của Bảng cân đối kế toán.
Bên cạnh những ưu điểm lớn khiến cho bảng cân đối kế toán trở thành
một trong hai tài liệu đáng tin cậy cho những nhà phân tích tài chính (Bảng
CĐKT và báo cáo KQKD) thì tự bản thân bảng CĐKT cũng có những hạn
chế lớn. Nhưng hạn chế này bắt nguồn ngay trong quá trình hạch toán ghi
chép do những nguyên tắc hạch toán kế toán khắt khe gây nên. Vì vậy, những
hạn chế này không thể khắc phục được. Tuy nhiên, việc nhận biết những hạn
chếđó lại cần thiết cho những nhà phân tích giúp họ có hướng khắc phục,
giảm thiểu những ảnh hưởng của chúng đến kết quả phân tích của mình.
Thứ nhất, bảng CĐKT không phản ánh giá trị hiện hành hay giá trị thị
trường thích hợp vì nhân viên kế toán phải tuân thủ nguyên tắc chi phí lịch sử
trong việc đánh giá và báo cáo Tài sản và Nguồn vốn.
Chuyên đề thực tập
11
Thứ hai, Bảng CĐKT bỏ sót nhiều mục có giá trị về tài chính đối với
doanh nghiệp như giá trị nguồn nhân lực cùng vơí khả năng quản lý, những
nhân tố rất quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức ngày nay.
Thêm vào đó, những sựđánh giá và giải quyết có tính chất nghiệp vụ rập
khuôn thường được sử dụng trong quá trình chuẩn bị lập bảng CĐKT cũng có
thể làm giảm tính hữu ích của các báo cáo.
Do vậy, để có thể phân tích có hiệu quả, nhà phân tích phải biết vận
dụng những phương pháp phân tích thích hợp và có những biện pháp xử lý
các hạn chế, thiếu sót của bảng CĐKT trong quá trình phân tích.
1.2.2. Báo cáo kết quả kinh doanh
- Phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn, diễn biến nguồn vốn và sử dụng
vốn.
- Phân tích nguồn vốn lưu động và tình hình dự trữ cho sản xuất.
- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn.
Do những hạn chế của bảng CĐKT và của các công cụ phân tích (số tỷ
lệ, so sánh) nhưđã trình bày ở các phần trên, nên khi phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp các con số tỷ lệ và các tỷ suất, chỉ số nhận được đều phải
so sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành và có sựđiều chỉnh con số so
với sự thay đổi giá cả qua các năm.
1.3.2.1-Phân tích khái quát tình hình tài chính :
Thực chất của việc phân tích khái quát làđánh giá khái quát tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Trong phân tích chung, trước hết phải quan sát các chỉ tiêu tổng
hợp của bảng CĐKT thông qua sự thay đổi sốđầu năm và cuối kỳ của tài sản và
nguồn vốn sau đóđánh giá sự thay đổi đó là tích cực hay tiêu cực để cóđịnh hướng
đưa ra phân tích chi tiết và hoạch định những giải pháp trong quản lý vàđiều hành.
Trước hết phải so sánh tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn giữa đầu kỳ và cuối
kỳ. Sự thay đổi này cho thấy quy mô tài sản tăng hay giảm, nguồn vốn tài trợ cho
các tài sản đóđược huy động như thế nào.
Tuy nhiên, việc tăng hay giảm số tổng cộng chưa thể biểu thị cho sự hoạt động
tích cực hay tiêu cực của doanh nghiệp một cách đầy đủ. Ví dụ như: Nếu số tổng
cộng tăng do dự trữ quá nhiều thì số tiền vay nợ sẽ tăng, đây là nhân tố tiêu cực.
Nhưng số tổng cộng giảm do hạ giá thành, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu
động làm giảm nhu cầu về vốn vay thìđây là nhân tố tích cực.
Hơn nữa, tính ổn định của số tổng cộng còn chưa phản ánh được chất lượng công
tác ở doanh nghiệp và các kết quả tài chính. Bởi vì tuy số tổng cộng không đổi
Chuyên đề thực tập
13
nhưng kết cấu của bảng CĐKT đã có sự thay đổi theo chiều hướng phân phối và
sử dụng vốn tối ưu hơn hoặc ngược lại làm cho tình hình tài chính của doanh
Chuyên đề thực tập
14
Do tính chất cân đối của bảng CĐKT, cân đói (2) được viết lại như sau:
[A(I(1),II) + B] Nguồn vốn + [A(I(2,3, ,8)III)] Nguồn vốn =
= [AIII, V(1,4,5) + B.IV] Tài sản – [A.I(2,3, ,8)III] Nguồn vốn (4)
Cân đối (4) cho thấy số vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng (hoặc đi
chiếm dụng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sản phải thu và công nợ phải trả.
Khi cả hai vế của cân đối (4) <0 tức là công nợ phải trả của doanh nghiệp ít hơn
các tài sản phải thu ( doanh nghiệp bị chiếm dụng ). Và ngược lại, nếu cả hai vế
cân đối (4) > 0 tức là công nợ phải trả lớn hơn tài sản phải thu (doanh nghiệp đi
chiếm dụng).
b. Phân tích sự biến động của các khoản mục trong bảng CĐKT:
Để hiểu chi tiết hơn về tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được những nguyên
nhân gây ảnh hưởng tới sự biến động của tổng tài sản và tổng nguồn vốn, ta cần đi
sâu phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và một số tỷ suất quan trọng.
Sự phân tích này nhằm mục đích :
- Đánh giá trình độ sử dụng tài sản của doanh nghiệp và việc bố trí cơ cấu tài sản.
Tuỳ theo đặc điểm từng lĩnh vực, ngành hoạt động sẽ cho ta thấy cơ cấu tài sản là
hợp lý hay không.
- Đánh giá sự biến động về tỷ trọng của từng loại tài sản, nguồn vốn qua thời gian
để thấy rõ tầm quan trọng của mỗi khoản mục trong tổng tài sản, nguồn vốn.
- Đánh giá và phát hiện chính sách mà doanh nghiệp đã thực hiện cũng như xu
hướng phát triển của doanh nghiệp.
Phân tích cơ cấu tài sản :
Việc phân tích cơ cấu tài sản nhằm mục đích xem xét tính chất hợp lý của việc sử
dụng vốn của doanh nghiệp như thế nào. Với số vốn đã có doanh nghiệp phân bổ
cho các loại tài sản có hợp lý không, sự thay đổi kết cấu các loại vốn cóảnh hưởng
gìđến quá trình sản xuất của doanh nghiệp?
Phương pháp phân tích là so sánh tổng số vốn giữa cuối kỳ với đầu năm;
6. Chi sự nghiệp
B.TSCĐ vàđầu tư dài hạn
1.TSCĐ
2.Đầu tư tài chính dài hạn
3.Chi phí xây dựng cơ bản Cộng
Quá trình phân tích được tiến hành trên cơ sở sự biến động của từng
loại tài sản. Riêng vềđầu tư chiều sâu, đầu tư mua sắm trang thiết bị, đổi mới
quy trình công nghệđể tạo tiền đề tăng năng suất lao động thì việc phân tích
cơ cấu tài sản phải được xem xét đồng thời với các tỷ suất đầu tư cụ thể
(vìđây làđòn bẩy vận hành).
-Tỷ suất đầu tư chung phản ánh tình hình chung vềđầu tư vốn cho việc
trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật mua sắm và xây dựng TSCĐ, đầu tư tài chính.
- Tỷ suất đầu tư TSCĐ phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất, mua
sắm và xây dựng TSCĐ. Khi xác định chỉ tiêu này phải phân biệt giữa
sốđãđầu tư và số hoàn thành để có cơ sởđánh giáđúng đắn hơn.
Trị giá hiện có của TSCĐ
Tỉ suất đầu tư TSCĐ = 100
Tổng tài sản
Tỉ suất cho biết trong một đồng tài sản có bao nhiêu phần trăm TSCĐ
Tỉ suất
đầu tư
chung = x 100%
trọng
Số tiền Tỉ trọng
Số tiền Tỉ trọng
A. Nợ phải trả
I Nợ ngắn hạn
II. Nợ dài hạn
III. Nợ khác
B. Nguồn vốn CSH
I. Nguồn vốn- quĩ
Nguồn kinh phí
Tổng
Chuyên đề thực tập
17
Số liệu của bảng phân tích cho thấy sự biến động của từng nguồn vốn
trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, việc tăng lên của các khoản nợ
nếu ở mức độ hợp lý chứng tỏ doanh nghiệp đã biết vận dụng “đòn bẩy tài
chính”, nhưng quá lớn lại cho thấy tình hình hoạt động không khả quan. Nhìn
chung sự tăng lên của nguồn vốn chủ sở hữu là tốt nhưng cơ cấu của các bộ
phận cấu thành nó sẽđưa ra một cái nhìn cụ thể hơn.
Cùng với quá trình phân tích cơ cấu nguồn vốn, người ta phân tích một
số tỉ suất nhằm khẳng định mức độđộc lập tài chính của doanh nghiệp.
- Tỉ suất tự tài trợ phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và tính
chủđộng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tỉ suất tự tài trợ cao thể
hiện tính chủđộng trong sản xuất kinh doanh càng cao do khả năng tự bảo đảm
về mặt tài chính tốt. Tỉ suất tự tài trợđược xác định bằng công thức:
Nguồn vốn CSH
Tỉ suất tự tài trợ = 100
bằng nguồn vốn thường xuyên. Việc doanh nghiệp dùng một phần vốn tạm
thời đểđầu tư dài hạn là bất hợp lý, doanh nghiệp cần có biện pháp huy động
thêm vốn dài hạn để tài trợ.
Để kiểm tra mức độ bảo đảm nguồn vốn cho doanh nghiệp cần lập bảng
phân tích sau:
Chuyên đề thực tập
19
Bảng phân tích mức độ bảo đảm nguồn vốn.
Tổng
tài sản
Tài sản
Số
tiền
Nguồn tài trợ
Số
tiền
Nguồn
tài trợ
TSCĐ
-TSCĐ hữu hình
-TSCĐ vô hình
-Đầu tư dài hạn
Tài trợ thường xuyên
Vốn CSH
Vay dài hạn, trung hạn
Nợ dài hạn trung hạn
Tài sản
- Tiền và các chứng khoán
dễ bán
- Các khoản phải thu
- Dự trữ
- Tài sản cốđịnh theo giá
trị còn lại
Nguồn vốn
- Vay ngắn hạn
- Các khoản phải trả
- Các khoản phải nộp
- Vay dài hạn
- Lợi nhuận không chia
- Vốn CSH
Tổng cộng
Mỗi sự thay đổi được ghi nhận ở hai cột: Sử dụng vốn và nguồn vốn
theo nguyên tắc:
- Khi tăng tổng tài sản hoặc giảm nguồn, số chênh lệch được ghi vào cột
sử dụng vốn.
- Khi giảm tài sản hoặc tăng nguồn, số chênh lệch được ghi vào cột
nguồn vốn.
Nhìn vào bảng phân tích ta sẽ thấy doanh nghiệp khai thác nguồn vốn
bằng cách nào là chủ yếu, chiếm bao nhiêu phần trăm. Với tổng số nguồn vốn
đó, doanh nghiệp dùng để tài trợ cho các tài sản nào. Việc xem xét diễn biến
và sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được doanh nghiệp sử dụng vốn đã hợp lý
chưa, doanh nghiệp đã khai thác hết các nguồn vốn chưa…
Chuyên đề thực tập
Tỉ
trọng
Số tiền
Tỉ
trọng
1.Nguồn vốn ngân sách cấp
2.Nguồn vốn tự bổ sung
3.Nguồn vốn liên doanh
4.Nguồn vốn cổ phần
Chuyên đề thực tập
22
5.Vay ngắn hạn
Tổng cộng
Để phân tích kỹ hơn về NVLĐ, ta xem xét NVLĐ thuần.
Toàn bộ tài sản doanh nghiệp đang sử dụng căn cứ vào thời gian quay
vòng được chia thành:
- TSCĐ vàđầu tư dài hạn: là tài sản có thời gian hoàn vốn trên một
năm. Chúng được gọi là “ Tài sản dài hạn”
- TSLĐ vàđầu tư ngắn hạn: là tài sản có thời gian quay vòng dươi một
năm:Tài sản ngắn hạn.
- Nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ dài hạn có thời gian đảo nợ
trên một năm: gọi là nguồn vốn dài hạn.
- Các khoản nợ ngắn hạn và các khoản nợ khác là các khoản nợ có
thời gian đáo hạn dưới một năm là nguồn vốn ngắn hạn.
“ Nguồn vốn dài hạn” được đầu tư hình thành “tài sản dài hạn”. Phần
dư ra (nếu còn) và “nguồn vốn ngắn hạn” được đầu tư hình thành “tài sản
Để qúa trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và hiệu quả,
doanh nghiệp phải tiến hành dự trữ. Các tài sản lưu động dự trữ gồm: nguyên
liệu, nhiên liệu, công cụ lao động, sản phẩm dở dang ( phục vụ cho quá trình
sản xuất), thành phẩm, hàng hóa (phục vụ cho quá trình lưu thông).
Dự trữ là một vấn đề tất yếu nhưng dự trữ bao nhiêu là hợp lý, không
thừa hoặc không thiếu là vấn đề phức tạp. Nếu dự trữ quá nhiều, doanh
nghiệp sẽ bịứđọng tài sản và vốn, tăng chi phí bảo quản, tăng lãi vay ngân
hàng, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhưng nếu dự trữ quáít sẽ dẫn đến
ngừng sản xuất, gây thiệt hại không nhỏ cho doanh nghiệp.
Quá trình phân tích tình hình dự trữ TSLĐ nhằm mục đích đánh giá kết
quả dự trữ vàđươc tiến hành trên các mặt sau:
- Sự thay đổi về kết cấu các loại tài sản dự trữ thông qua tỉ trọng của
nó, có liên hệ với qui mô kinh doanh và chủng loại hàng hóa.
- Sự tăng, giảm từng loại tài sản dự trữ.
- So sánh với dự trữ hợp lí phù hợp với tính chất qui mô sản xuất, lưu
thông của doanh nghiệp.
Việc phân tích sẽđược tiến hành thông qua bảng sau:
BẢNGPHÂNTÍCHTÌNHHÌNHDỰTRỮ TSLĐ
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ Chênh lệch
Số
tiền
Tỉ
trọng
Số
tiền
Tỉ
trọng
Số
tiền
Tỉ
đi chiếm dụng vốn và vừa bị chiếm dụng vốn với mức độ khác nhau tạo nên
sự cân bằng giả tạo.
- Mức độ bảo đảm > 0: doanh nghiệp thừa nguồn vốn bùđắp và sẽ có
xu hướng bị chiếm dụng vốn.
Việc đi chiếm dụng vốn và bị chiếm dụng vốn là một tất yếu trong kinh
doanh. Tuy nhiên, đểđảm bảo “an toàn” trong kinh doanh, doanh nghiệp cần
tiếp tục xem xét khả năng thu hồi các khoản bị chiếm dụng.
Chuyên đề thực tập
25
1.3.2.4. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp đểđạt kết quả cao nhất trong kinh
doanh với chi phí thấp nhất.
Hiệu quả kinh doanh không những là thước đo chất lượng phản ánh
trình độ tổ chức quản trị mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Trong
điều kiện kinh tế thị trường ngày càng phát triển, doanh nghiệp muốn tồn tại,
vươn lên thì trước hết kinh doanh phải có hiệu quả. Hiệu quả càng cao, doanh
nghiệp càng cóđiều kiện mở rộng sản xuất, đầu tư mua sắm máy móc thiết bị,
áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật và qui trình công nghệ mới, cải thiện và
nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách Nhà
nước.
Hiệu quả kinh doanh được đánh giá theo hai dạng: số và phân số (chênh
lệch tuyệt đối và chênh lệch tương đối) dựa trên các chỉ tiêu đánh giá tổng
hợp và chi tiết.
a) Phân tích khái quát:
Nhưđãđề cập ở trên, hiệu quả kinh doanh được đánh giá qua việc so
sánh giữa chi phí và kết quả và qua cả hai dạng số và phân số. Ở dạng số, hiệu
quả kinh doanh được xác định bằng hiệu số giữa kết quả trừ chi phí.
Hiệu quả kinh doanh = Kết quảđầu ra – Chi phíđầu vào