Lời mở đầu
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm qua Tổng công ty Bu chính Viễn thông Việt nam với ph-
ơng châm đi tắt đón đầu đã thu đợc những thành tựu đáng kể đợc Đảng, Nhà nớc
và ngời dân đánh giá cao, xứng đáng là một ngành đi đầu trong lĩnh vực hiện đại
hóa và công nghiệp hóa, tuy nhiên cùng với xu thế phát triển của thời đại với chính
sách mở cửa thị trờng Bu chính Viễn thông đã thúc đẩy cạnh tranh ngày càng
quyết liệt, việc có nhiều nhà khai thác tham gia vào thị trờng và việc mở rộng kinh
doanh của các nhà khai thác mới này trên nhiều lĩnh vực mũi nhọn nh di động,
điện thoại đờng dài trong nớc và quốc tế, Internet khiến cho thị tr ờng Viễn thông
trở nên sôi động và chia sẻ mạnh mẽ. Để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh,
kinh doanh thành công trong môi trờng kinh tế có nhiều biến động nh vậy việc
cung cấp thông tin nhất là thông tin kế toán và phân tích thông tin để ra các quyết
định kịp thời và hợp lý có một ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Hệ thống kế toán doanh nghiệp đã và đang ngày càng đợc hoàn thiện, đáp
ứng đợc yêu cầu cung cấp thông tin trong việc điều hành sản xuất kinh doanh với t
cách là một công cụ quản lý doanh nghiệp, kế toán quản trị, tuy đã chính thức đợc
quy định trong các văn bản pháp quy về kế toán hiện hành nhng việc tổ chức áp
dụng phân hệ này vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ đối với các đơn vị trong việc
cung cấp các thông tin quản trị nội bộ. Thực tế đó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu
tiếp tục để triển khai kế toán quản trị.
Thêm nữa, ngày 9/1/2006 với quyết định 06/2006/QĐ-TTG của Thủ tớng
Chính phủ về việc thành lập Tập đoàn Bu chính Viễn thông Việt Nam, việc chuyển
đổi từ mô hình Tổng công ty sang mô hình tập đoàn thực chất là chuyển đổi cấu
trúc thợng tầng của chủ sở hữu vốn, chuyển đổi các mối quan hệ, chuyển đổi cơ
chế quản lý và chuyển đổi chế độ hạch toán kinh tế đòi hỏi phải hoàn thiện lại tổ
chức công tác kế toán cho phù hợp với mô hình mới là một yêu cầu khách quan.
Hiện nay, nhìn chung các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn Bu chính Viễn
thông Việt Nam đều nhận thức đợc vai trò thông tin kế toán, vì vậy, tổ chức công
tác kế toán trong các doanh nghiệp về cơ bản đợc xây dựng phù hợp với từng lĩnh
vực kinh doanh, quy mô, đặc điểm, trình độ và yêu cầu quản lý, đảm bảo cung cấp
III. Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tợng nghiên cứu: Đối tợng nghiên cứu của luận văn là các nội
dung về tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn Bu
2
chính Viễn thông Việt Nam, trong đó giới hạn phạm vi nghiên cứu là Công ty Viễn
thông Liên tỉnh, đây l doanh nghiệp lớn thành viên của Tập đoàn Bu chính Viễn
thông Việt nam, quản lý mạch máu chính của mạng viễn thông cả nớc, có phạm vi
hoạt động rộng trải dài suốt từ Bắc vào nam, nắm giữ công nghệ hiện đại của Tập
đoàn.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong việc tìm hiểu thực tế tổ chức hạch
toán kế toán với việc tăng cờng quản trị doanh nghiệp tại Công ty Viễn thông Liên
tỉnh.
IV. Ph ơng pháp nghiên cứu :
- Phơng pháp luận: Biện chứng
- Phơng pháp chung là: Tổng hợp thực tiễn, sử dụng phơng pháp
phân tích so sánh đối chiếu chứng minh trong quá trình nghiên cứu.
V. Dự kiến những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá vấn đề lý luận về tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cờng
quản trị doanh nghiệp tại Công ty Viễn thông Liên tỉnh.
- Phân tích đánh giá thực trạng của tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng c-
ờng quản trị doanh nghiệp tại Công ty Viễn thông Liên tỉnh, chỉ ra những mặt đợc
và tồn tại, hạn chế của tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cờng quản trị doanh
nghiệp tại Công ty Viễn thông Liên tỉnh.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cờng
quản trị doanh nghiệp tại Công ty Viễn thông Liên tỉnh.
VI. Tên và kết cấu của luận văn
Tên luận văn: Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cờng quản trị
doanh nghiệp tại Tập đoàn Bu chính Viễn thông Việt nam.
Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
Liên tỉnh.
2.2. Thực trạng công tác tổ chức hạch toán kế toán tại Công ty Viễn thông Liên
tỉnh.
2.2.1: Bộ máy kế toán
2.2.2: Hình thức kế toán
2.2.3: Cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp
4
Chơng 3
Phơng hớng và giảI pháp hoàn thiện tổ chức hạch toán
kế toán với việc tăng cờng quản trị doanh nghiệp tại
Công ty Viễn thông Liên tỉnh.
3.1. Sự cần phải hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán và việc quản trị doanh nghiệp
tại Công ty Viễn thông Liên tỉnh.
3.2. Yêu cầu hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán và việc quản trị doanh nghiệp tại
Công ty Viễn thông Liên tỉnh.
3.3. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán và việc quản trị doanh
nghiệp tại Công ty Viễn thông Liên tỉnh
3.4. Điều kiện thực hiện các giải pháp./.
Chơng I
Cơ sở Lý luận về tổ chức hạch toán kế toán trong
các doanh nghiệp.
5
1.1 .Vai trò của thông tin kế toán và sự cần thiết khách quan của tổ chức
hạch toán kế toán trong hệ thống quản lý doanh nghiệp.
1.1.1: Vai trò của thông tin kế toán.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh , các doanh nghiệp đều tìm
mọi biện pháp để với chi phí thấp nhất có thể thu đợc kết quả với số lợng nhiều
nhất, chất lợng cao nhất, và hiệu quả mang lại lớn nhất. Những nhà quản lý cũng
luôn tìm các biện pháp để tăng mọi nguồn thu, sử dụng có hiệu quả các khoản tài
chính, nhằm đạt đợc các mục tiêu tối u. Để đạt đợc mục tiêu này, bất kỳ ngời
6
ngoài hay tự sản xuất, nên tiếp tục hoạt động hay chuyển hớng hoạt động vào
những lĩnh vực mới, Bố trí nhân sự trong hệ thống hoạt động ra sao
Nhờ có thông tin kế toán các nhà đầu t có thể xác định đợc hiệu quả của một kỳ
hoạt động, tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá khả năng sinh lời cũng
nh các rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp để từ đó có các quyết định đúng đắn với
các khoản đầu t của mình.
Thông qua thông tin kế toán cung cấp Nhà nớc kiểm tra, kiểm soát toàn bộ việc
sử dụng tài sản và các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, kiểm tra việc chấp hành
các chính sách kinh tế tài chính của Nhà nớc, việc thực hiện các nghĩa vụ của
doanh nghiệp, để từ đó tổng hợp nghiên cứu, hoàn thiện và ban hành các chính
sách kinh tế tài chính thích hợp nhằm quản lý thống nhất và có hiệu quả nền kinh
tế quốc dân.
1.1.2: Phân loại thông tin kế toán:
Mặc dù các đối tợng sử dụng thông tin kế toán có nhiều loại nhng đều thuộc
một trong hai phạm vi bên ngoài hoặc bên trong doanh nghiệp nên kế toán đợc
chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị. Mặc dù là những lĩnh vực khác
nhau với những điểm khác biệt nhất định do tính độc lập tơng đối về nội dung, ph-
ơng pháp, quy trình, phạm vi thu nhận, xử lý thông tin và đối tợng sử dụng thông
tin tạo nên nhng cả kế toán tài chính và kế toán quản trị cũng có mối liên quan mật
thiết và bổ sung lẫn nhau, đều là công cụ quản lý quan trọng của doanh nghiệp,
gắn liền với việc thực hiện yêu cầu, chức năng và mục đích của hoạt động quản trị
doanh nghiệp.
1.1.2.1: Kế toán tài chính là một phân hệ thuộc hệ thống thông tin kế toán cung
cấp thông tin về tình hình tài sản, nguồn vốn cũng nh tình hình và kết quả hoạt
động của đơn vị nhằm phục vụ cho các đối tợng sử dụng thông tin bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp, nhng chủ yếu là cho các đối tợng ở bên ngoài, kế toán tài
chính liên quan với quá trình báo cáo hoạt động của một doanh nghiệp qua các
hình thức nh bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo
lu chuyển tiền tệ là những báo cáo tài chính tổng hợp các mặt hoạt động của
không chỉ tạo ra thông tin cung cấp cho các nhà quản trị cấp cao để ra quyết định
kinh doanh, quyết định sử dụng các nguồn lực mà còn cả thông tin về các mặt kỹ
thuật để các nhà quản lý thừa hành sử dụng thực thi trách nhiệm của mình.
Kế toán quản trị sử dụng các phơng pháp cơ sở:
Thiết kế thông tin thành dạng so sánh đợc: Thông tin sẽ vô dụng nếu không thể
so sánh đợc vì vậy với số liệu thu thập đợc kế toán quản trị sẽ phân tích và thiết kế
chúng thành dạng so sánh đợc để các nhà quản trị dựa vào đó để đánh giá và đề ra
quyết định.
Kiểm soát chi phí cũng là một nhiệm vụ quan trọng của kế toán quản trị nên
cách phân loại sao cho hữu ích và thích hợp với nhu cầu của mình cũng là một ph-
ơng pháp của kế toán quản trị. Kế toán quản trị thờng phân loại chi phí thành định
phí và biến phí để từ đó làm căn cứ phân tích mối quan hệ chi phí khối lợng
lợi nhuận, là một nội dung quan trọng khi xem xét để ra quyết định kinh doanh
Phơng pháp nghiệp vụ thứ ba là trình bày mối quan hệ của thông tin theo dạng
phơng trình là dạng rất tiện dụng cho việc tính toán và dự đoán một số quá trình
cha xẩy ra để từ đó làm cơ sở cho việc tính toán lập kế hoạch.
8
Vì đồ thị là cách thể hiện dễ thấy và rõ ràng nhất mối quan hệ và xu hớng biến
thiên của thông tin nên nó cũng là phơng pháp đợc sử dụng trong kế toán quản trị.
1.1.2.3: Mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị:
Kế toán tài chính và kế toán quản trị khác nhau chủ yếu vì chúng phục vụ cho
các đối tợng sử dụng khác nhau, có mục đích sử dụng thông tin kế toán khác nhau
điểm khác nhau chủ yếu giữa chúng là: Đối tợng thông tin, đặc điểm thông tin,
phạm vi báo cáo, kỳ báo cáo, quan hệ với các ngành khác và tính pháp lệnh:
Đối tợng sử dụng thông tin của kế toán quản trị là những nhà quản trị ở bên
trong doanh nghiệp, còn đối tợng mà kế toán tài chính cung cấp thông tin là những
ngời ở bên ngoài doanh nghiệp không tham gia vào công tác quản trị doanh nghiệp
đó. Những nhà quản trị bên trong doanh nghiệp là những ngời trực tiếp điều hành
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thờng xuyên phải đề ra các
quyết định khác nhau liên quan với quá trình sinh lợi trong ngứn hạn và dài hạn rất
thông tin thành dạng có thể sử dụng đợc.
Kế toán tài chính có tính pháp lệnh, sổ sách, báo cáo ở mọi doanh nghiệp đều
phải tuân thủ theo chế độ thống nhất nếu không đúng hoặc không đầy đủ thì không
đợc thừa nhận, nhng sổ sách, báo cáo của kế toán quản trị là riêng biệt hoàn toàn
tùy thuộc vào cách thiết kế của nhà quản trị từng doanh nghiệp và có tác dụng đề
ra quyết định đúng đắn.
Tuy nhiên kế toán tài chính và kế toán quản trị cũng có những điểm giống nhau
cơ bản: Đều đề cập đến các sự kiện kinh tế, đều quan tâm đến thu nhập, chi phí, tài
sản, công nợ và quá trình lu chuyển tiền của doanh nghiệp, đều dựa trên hệ thống
ghi chép ban đầu của kế toán, hệ thống này là cơ sở để kế toán tài chính soạn thảo
các báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp ra ngoài còn kế toán quản trị dùng làm cơ
sở để vận dụng xử lý nhằm tạo ra thông tin thích hợp cung cấp cho các nhà quản
trị. Cả kế toán tài chính và kế toán quản trị đều biểu hiện trách nhiệm của ngời
quản lý cấp cao hay các cấp bên trong doanh nghiệp.
Kế toán tài chính và kế toán quản trị có mối liên hệ mật thiết trong quá trình tổ
chức thực hiện và cung cấp thông tin. Hai loại kế toán này tạo nên sự liên kết
thông tin đợc cung cấp mang tính xuyên suốt, phản ánh đợc những sự kiện đã,
đang và sắp xảy ra trong hoạt động của một tổ chức, đơn vị.
Do vậy, trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trờng thông tin
kế toán rất quan trọng, giúp nhà quản lý doanh nghiệp chủ động đa ra những biện
pháp ứng phó kịp thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đứng vững và không
ngừng phát triển trong môi trờng cạnh tranh gay gắt. Những thông tin kế toán dù d-
ới góc độ nào thông tin kế toán tài chính hay quản trị cung cấp đều phải đảm bảo
yêu cầu đầy đủ, chính xác, kịp thời vì nếu thông tin không đầy đủ, các nhà quản trị
sẽ gặp khó khăn trong quản lý điều hành sản xuất, nếu thông tin không chính xác,
các nhà quản trị có thể đa ra các quyết định sai lầm, ảnh hởng đến quá trình sinh
lợi của doanh nghiệp còn nếu thông tin không kịp thời thì các vấn đề tồn tại lâu
không đợc giải quyết và có thể mất cơ hội trong sản xuất kinh doanh.
Xã hội loài ngời càng phát triển thì mức độ quan tâm của con ngời đến hoạt
động sản xuất càng tăng, nghĩa là càng cần thiết phải tăng cờng quản lý sản xuất.
quản lý đạt đợc hiệu quả đến mức độ nào lại phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức kế
toán ra sao trong môi trờng hoạt động cụ thể. Điều đó nghĩa là, có đợc công cụ,
nhận thức đợc vai trò quan trọng của nó rồi, còn cần thiết phải tổ chức sử dụng
công cụ đó một cách khoa học, hợp lý và nâng cao hiệu quả.
Trên thực tế, cũng còn một số quan điểm khác nhau về tổ chức hạch toán kế toán.
- Quan điểm thứ nhất: Tổ chức kế toán thực chất là tổ chức vận dụng hệ thống
chứng từ, hệ thống tài khoản, hệ thống các phơng pháp tính giá và hệ thống báo cáo kế
toán. Có nghĩa tổ chức công tác này là vận dụng các phơng pháp kế toán trong mối liên
hệ ràng buộc giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất kế toán.
11
Quan điểm này có u điểm là đề cao vai trò các phơng pháp kế toán trong mối
quan hệ chặt chẽ từ khâu phát sinh nghiệp vụ kinh tế đến khi lập các báo cáo tài
chính; thể hiện đợc sự vận dụng một cách khoa học các phơng pháp kế toán vào
thực tế. Song, nếu chỉ là việc tổ chức vận dụng các phơng pháp kế toán vào thực tế,
cũng có nghĩa là tổ chức việc vận dụng chế độ kế toán vào một đơn vị cụ thể mà
không tính đến một số vấn đề khác thì hiệu quả của kế toán sẽ không đợc nh mong
muốn và có thể sẽ không đáp ứng đợc yêu cầu quản lý ngày càng cao hiện nay.
- Quan điểm thứ hai: Xuất phát từ vai trò và nội dung của kế toán là khoa học
thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh tế, tài chính của
đơn vị. Từ đó quan điểm này cho rằng, tổ chức kế toán cần phải giải quyết hai vấn
đề:
+ Tổ chức thực hiện các phơng pháp kế toán trong đơn vị.
+ Tổ chức bộ máy kế toán phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất và tính
chất hoạt động của đơn vị.
Quan điểm nói trên có u điểm là đã kết hợp đợc việc thực hiện các phơng
pháp kế toán thông qua việc phân công, phân nhiệm cho các nhân viên kế toán
thực hiện theo từng phần hành kế toán cụ thể. Điều này vừa tạo ra nhận thức về
trách nhiệm của đội ngũ nhân viên kế toán, vừa tạo điều kiện cho việc vận dụng
các phơng pháp kế toán đợc thực hiện tốt hơn ở đơn vị.
Nhìn chung, các quan điểm trên đây đều thể hiện đợc những cách thức, ph-
này có thể dễ dàng nhận thức thông qua việc nghiên cứu quá trình tài chính giúp
nhà quản lý doanh nghiệp chủ động đa ra những biện pháp ứng phó kịp thời nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đứng vững và không ngừng phát triển trong môi
trờng cạnh tranh gay gắt.
phát triển của kế toán.
Trong thời kỳ nguyên thuỷ, sản xuất cha phát triển, nhu cầu và khả năng thu nhận
thông tin cha nhiều, hạch toán đợc tiến hành bằng các phơng thức hết sức đơn
giản: đánh dấu trên thân cây, buộc nút trên các dây thừng để ghi nhớ các thông tin
cần thiết. Do sản xuất còn lạc hậu nên ở giai đoạn này cha có của cải d thừa, cha
hình thành giai cấp khác nhau. Vì vậy, trong thời kỳ này hạch toán kế toán đợc sử
dụng phục vụ lợi ích toàn cộng đồng.
Khi xã hội chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ thì ý nghĩa, nhiệm vụ của
hạch toán cũng thay đổi. Hạch toán kế toán trớc hết đợc sử dụng trong các trang
trại, công trờng thủ công để theo dõi kết quả sử dụng nô lệ và chiếm dụng lao động
của nô lệ, để vơ vét đợc nhiều của cải. Ngoài ra, hạch toán kế toán còn sản xuất sử
dụng trong các phòng đổi tiền, các nhà thờ và trong lĩnh vực tài chính Nhà nớc...
để theo dõi các nghiệp vụ về giao dịch, thanh toán và buôn bán. Sổ kế toán đã xuất
hiện thay cho cách ghi và đánh dấu của thời kỳ nguyên thuỷ.
Đến thời kỳ phong kiến, sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp với quy
mô lớn gắn liền với sự ra đời của địa chủ và nông dân, của địa tô phong kiến
với chế độ cho vay nặng lãi của địa chủ với nông dân. Tất cả các quan hệ trên
đã tác động đến sự phát triển tiếp theo của hạch toán kế toán và vì vậy hệ thống
sổ sách kế toán ngày càng phong phú và chi tiết hơn.
Đáng quan tâm là thời kỳ t bản chủ nghĩa với sự ra đời và phát triển nhanh chóng
của thơng nghiệp và sau đó là cả công nghiệp. Lúc này các quan hệ trao đổi, buôn
bán đợc mở rộng đặt ra nhu cầu phải hạch toán các mối quan hệ nảy sinh trong quá
13
trình vận động của các t bản cá biệt. Sự xuất hiện của các đối tợng mới này của kế
toán lại là nguồn gốc cho sự ra đời của phơng pháp đối ứng tài khoản trong kế toán.
Cũng từ đó, phơng pháp hạch toán kế toán đã đợc hình thành ứng dụng rộng rãi
tính giá
thành
Tính giá đối ứng
tài
khoản
phân
loại
phản
ánh
tổng
hợp
bảng
tổng
hợp
Hệ thống kế toán
Truyền tin
Sơ đồ 1.1:
Chức năng của kế toán
Sơ đồ 1.2:
Sử dụng thông tin kế toán
Sự cần thiết phải tổ chức khoa học và hợp lý công tác kế toán trong hệ thống
quản lý đợc thể hiện trên những đặc trng cơ bản dới đây:
- Bất kể một việc gì, để có sự thành công trớc hết phải nói đến công tác tổ
chức. Nh vậy, muốn kế toán thực sự trở thành công cụ đắc lực nhất trong hệ thống
công cụ quản lý kinh tế trong các đơn vị thì không thể không tổ chức khoa học,
hợp lý công tác kế toán.
- Thông tin kế toán phản ánh tổng hợp tình hình hoạt động kinh tế tài chính và
các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của từng tổ chức, đơn vị bằng chỉ tiêu
tiền tệ, chỉ tiêu hiện vật, trong đó chỉ tiêu tiền tệ là chủ yếu. Các thông tin này
phục vụ cho việc điều hành và quản lý của lãnh đạo tổ chức, đơn vị đó nên
- Chủ nợ
- Người đi
học
người có
lợi ích trực
tiếp
- Nhà đầu
tư
- Chủ nợ
- Người đi
học
Cơ quan có lợi
ích
gián tiếp
Cơ quan có lợi
ích
gián tiếp
thuế
cơ
quan
chức
năng
Cơ
quan
thống
kê
chức của các lĩnh vực khác nhau, nâng cao chất lợng quản lý tài chính ở các đơn
vị, tổ chức trong điều kiện hiện đại hóa công tác kế toán.
- Tổ chức khoa học và hợp lý công tác kế toán phù hợp với điều kiện của từng
trờng trên cơ sở những quy định chung của Nhà nớc về quản lý tài chính, tạo ra
vụ đợc cung cấp.
16
7. Nguyên tắc phù hợp (Matching principle): Nguyên tắc này đòi hỏi giá phí
phải gánh chịu trong việc tạo ra doanh thu, bất kể là giá phí phát sinh ở kỳ nào,
nó phải phù hợp với kỳ mà trong đó doanh thu đợc ghi nhận.
8. Nguyên tắc khách quan (Objectivity principle): Tài liệu do kế toán cung cấp
phải mang tính khách quan, có thể kiểm tra đợc.
9. Nguyên tắc nhất quán (Consistency principle): Các khái niệm, các nguyên
tắc, các chuẩn mực, các phơng pháp... mà kế toán sử dụng phải bảo đảm nhất
quán không thay đổi từ kỳ này sang kỳ khác.
10. Nguyên tắc công khai (Disclosure principle): Nguyên tắc này đòi hỏi báo
cáo tài chính của doanh nghiệp phải rõ ràng, dễ hiểu và phải bao gồm đầy đủ
các thông tin liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp. Những báo cáo
này phải đợc trình bày công khai cho tất cả những ngời sử dụng.
11. Nguyên tắc trọng yếu (Materiality principle): Nguyên tắc này chú trọng đến
các vấn đề, các yếu tố, các khoản mục... mang tính trọng yếu, quyết định bản
chất và nội dung sự vật, hiện tợng mà bỏ qua những vấn đề, những yếu tố... thứ
yếu, không làm thay đổi bản chất và nội dung sự vật, hiện tợng. Một khoản
mục đợc coi là trọng yếu nếu có lý do hợp lý để biết rằng nó sẽ ảnh hởng đến
quyết định của những ngời sử dụng báo cáo tài chính.
12. Nguyên tắc thận trọng (Prudent principle): Việc ghi tăng vốn chủ chỉ thực
hiện kho có chứng cứ chắc chắn, và việc ghi giảm vốn chủ khi có những chứng
cứ có thể.
1.3. Nội dung tổ chức hạch toán kế toán.
Tổ chức hạch toán kế toán là một trong những nội dung thuộc về tổ chức quản lý
trong doanh nghiệp, tổ chức hạch toán kế toán một cách thích ứng với điều kiện về
quy mô, về đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh cũng nh gắn bó với những yêu
cầu quản lý cụ thể tại doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng và to lớn trong
việc nâng cao hiệu quả quản lý tại doanh nghiệp.
Với chức năng thông tin và kiểm tra tình hình và kết quả hoạt động của
công cho các bộ phận hạch toán một số nội dung nhất định còn phòng kế toán
của doanh nghiệp sé hạch toán một số nội dung có tính chất chung và lập các báo
cáo tổng hợp. Hình thức này đợc áp dụng phổ biến cho các doanh nghiệp lớn bao
gồm nhiều bộ phận hoạt động trên các địa bàn khác nhau.
- Loại hình tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán.
Nội dung hạch toán của một doanh nghiệp bao gồm nhiều phần hành cụ thể
phải đợc phân công cho nhiều ngời thực hiện, mỗi ngời thực hiện một số phần
hành nhất định dới sự điều khiển chung của kế toán trởng. Các phần hành có mối
liên hệ với nhau nên việc phân công cần đảm bảo tính khoa học và có sự tác động
qua lại để cùng thực hiện tốt các nhiệm vụ kế toán của doanh nghiệp.
Xây dựng kế hoạch công tác là biện pháp quan trọng đảm bảo cho việc thực
hiện các phần hành kế toán đợc thuận lợi qua đó sẽ kiểm tra tiến độ thực hiện và
điều chỉnh phối hợp công việc một cách nhanh chóng để nâng cao đợc năng suất
và hiệu quả hoạt động của bộ máy kế toán.
Kế toán trởng là chức danh nghề nghiệp đợc Nhà nớc quy định. Kế toán trởng
có trách nhiệm tổ chức điều hành toàn bộ công tác hạch toán của doanh nghiệp.
18
Với vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý nên kế toán trởng giữ
vị trí quan trọng trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp. Kế toán trởng không
chỉ là ngời tham mu mà còn là ngời kiểm tra giám sát hoạt động của doanh
nghiệp, trớc hết là hoạt động tài chính. Thực hiện tốt vai trò của kế toán trởng
chính là làm cho bộ máy kế toán phát huy đợc hiệu quả hoạt động, thực hiện đớc
tốt các chức năng vốn có của kế toán.
1.3.2: Tổ chức hình thức kế toán:
1.3.2.1: Tổ chức vận dụng các chính sách, chế độ thể lệ về kế toán đợc
quy
định các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán đợc thừa nhận: Đây là vấn đề quan
trọng nhằm xác định chính sách về kế toán trong doanh nghiệp. Chính sách này
phải tuân thủ các quy định chung trên cơ sở vận dụng phù hợp với điều kiện cụ
thể của mình nh vận dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, mặt khác nó đề
chuyển chứng từ phù hợp với việc thu nhận và xử lý thông tin của máy, thiết kế
các loại sổ sách để phù hợp với việc cài đặt in ấn đợc dễ dàng, nhanh chóng khoa
học bố trí nhân lực phù hợp với việc sử dụng máy, nối mạng nhằm đảm báo cung
cấp số liệu lẫn nhau giữa các bộ phận liên quan.
1.3.2.5: Tổ chức kiểm tra kế toán (hoặc kiểm toán):
. Sự cần thiết của công tác kiểm tra kế toán: Bảo vệ tài sản, nâng cao
hiệu quả sử dụng chúng trong sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Để làm tốt đợc điều này
công tác kế toán giữ vai trò vô cùng quan trọng
Kế toán có chức năng kiểm tra là do phơng pháp và trình tự ghi
chép phản ánh của nó. Việc ghi sổ kế toán một các toàn diện đầy đủ theo trình từ
thời gian kết hợp với việc phân bổ theo hệ thống với phơng pháp ghi sổ kép, ph-
ơng pháp cân đối đối chiếu lẫn nhau các khâu nghiệp vụ ghi chép giữa tài liệu
tổng hợp và chi tiết giữa chứng từ sổ sách và báo cáo kế toán giữa các bộ phận
chẳng những đã tạo nên sự kiểm soát chặt chẽ đối với các hoạt động kinh tế tài
chính mà còn đảm bảo sự kiểm soát tính chính xác của bản thân công tác kế
toán. Tuy nhiên vấn đề quan trọng là bản thân những ngời làm công tác kế toán
có năng lực hay trách nhiệm nghề nghiệp trong việc thực hiện các phơng pháp đó
hay không đòi hỏi phải thực hiện kiểm tra kế toán.
. Nhiệm vụ của kiểm tra kế toán:
+ Kiểm tra tính hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
+ Kiểm tra việc tính toán, ghi chép phản ánh kế toán về các mặt chính xác
đầy đủ kịp thời trung thực và rõ ràng. Kiểm tra việc chấp hành các chế độ thể lệ
kế toán và kết quả công tác của bộ máy kế toán.
+ Thông qua việc kiểm tra kế toán mà kiểm tra tình hình chấp hành ngân
sách, chấp hành kế hoạch sản xuất kinh doanh, thu chi tài chính, kỷ luật thu nộp,
thanh toán , kiểm tra việc giữ gìn sử dụng các loại vật t vốn bằng tiền phát hiện
ngăn ngừa các hiện tợng vi phạm chính sách chế độ tài chính.
+ Cũng qua việc kiểm tra này để đề xuất các biện pháp khắc phục những
khiếm khuyết trong công tác kế toán trong công tác quản lý doanh nghiệp.
quy định để tạo nền tảng vững chắc cho việc nâng cao chất lợng của công tác kế
toán đảm bảo ngăn ngừa phát hiện giải quyết kịp thời những sai sót sơ hở trong
quản lý kinh tế.
+ Kiểm tra bất thờng: Trong những trờng hợp cần thiết theo đề nghị của
cơ quan tài chính đồng cấp, thủ trởng các Bộ, tổng cục, chủ tịch UBND tỉnh và
Thành phố có thể ra lênh kiểm tra kế toán bất thờng ở đơn vị thuộc ngành mình
quản lý.
. Nội dung kiểm tra:
+ Kiểm tra việc vận dụng các chế độ thể lệ chung của kế toán vào tình
hình cụ thể theo đặc điểm của từng ngành từng đơn vị
+ Kiểm tra chứng từ: Là nội dung chủ yếu của việc kiểm tra trớc trong nội
bộ đơn vị, là khâu quan trọng gắn liền với việc kiểm tra từng nghiệp vụ kế toán
đối với các cuộc kiểm tra thờng kỳ hay bất thờng của cơ quan cấp trên hay các cơ
quan tài chính. Chứng từ kế toán đợc kiểm tra theo những nội dung chủ yếu sau:
Kiểm tra nội dung chứng từ xem những điều ghi trong chứng từ có hợp pháp
không có đúng sự thật và tuân theo chế độ hiện hành không. Tính hợp pháp của
21
chứng từ thể hiện ở việc nó có hội đủ những yếu tố cần thiết và chữ ký của những
ngời có thẩm quyền không. Đối với những chứng từ tổng hợp và chứng từ ghi sổ
phải đối chiếu với chứng từ gốc theo từng nghiệp vụ kinh tế và phải xem định
khoản có đúng với tính chất và nội dung của nghiệp vụ kinh tế phát sinh không.
+ Kiểm tra việc ghi chép sổ sách kế toán: Là việc vào sổ có đúng sự thật,
đúng với chứng từ kế toán và có rõ ràng rành mạch không.
+ Kiểm tra việc tổ chức bộ máy: Kiểm tra việc phân công, phân nhiệm lề
lối làm việc của bộ máy kế toán. yêu cầu của tổ chức bộ máy phải gọn nhẹ nhng
đảm bảo đợc chất lợng công việc.
. Tổ chức công tác kiểm tra kế toán:
Kết quả công tác kiểm tra kế toán phụ thuộc vào việc tổ chức và kế hoạch kiểm
tra. Trong mỗi đơn vị kế toán thủ trởng đơn vị và kế toán trởng đơn vị chịu trách
nhiệm tổ chức việc kiểm tra công việc kế toán trong đơn vị theo quy định. Mỗi
ngành viễn thông còn có những đặc điểm mang tính đặc thù riêng mà các ngành
khác không có. Những đặc điểm riêng này có ảnh hởng lớn về mặt kinh tế đến việc
tổ chức và quản lý sản xuất, đến tổ chức lao động.
Một là, Sản phẩm của ngành viễn thông khác sản phẩm của các ngành sản
xuất vật chất khác. Nó không phải vật thể mới, không phải là hàng hoá mà là hiệu
quả có ích của quá trình truyền đa tin tức qua hình thức dịch vụ.
Trong cơ cấu giá thành của sản phẩm viễn thông, chi phí vật chất chiếm tỷ
trọng không đáng kể, phần chi chủ yếu là khấu hao tài sản cố định và hao phí lao
động sống trả cho ngời lao động.
Hai là, Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm viễn thông luôn gắn liền với
nhau. Sản phẩm viễn thông không thể cất giữ trong kho và không thể dự trữ đợc.
Quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ viễn thông không có sản phẩm dở dang.
Trong sản xuất các dịch vụ viễn thông không có nguy cơ "thừa ế", sản phẩm sản
xuất đến đâu, tiêu thụ đến đấy. Song sự "ế thừa" đó nằm ở chính trong sự dự trữ
mạng lới viễn thông, ở sự khai thác giữa năng lực mạng lới và tải trọng trên mạng.
Do vậy, có những yêu cầu rất cao đối với chất lợng sản phẩm viễn thông.
Tính không tách rời của quá trình tiêu thụ và sản xuất gây nên sự ảnh hởng
không đồng đều theo thời gian và không gian của yêu cầu phục vụ, ảnh hởng đến
việc tổ chức quá trình sản xuất của ngành viễn thông.
Nhu cầu thông tin của khách hàng quyết định sự tồn tại và phát triển của
ngành viễn thông. Ngành viễn thông có nhiệm vụ thỏa mãn tốt nhất mọi nhu cầu
về truyền đa thông tin, thu hút và mở rộng các nhu cầu này.
Nhu cầu về truyền đa thông tin rất đa dạng, nó xuất hiện không đồng đều về
không gian và thời gian. Nhu cầu về thông tin xuất hiện không đồng đều vào bất
kỳ lúc nào theo các giờ trong ngày, theo các ngày trong tuần, theo các tháng trong
năm. Nhu cầu về truyền đa thông tin phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội,
vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ
báo cáo, các ngày Lễ, Tết lợng nhu cầu lớn. Sự dao động không đồng đều của lợng
thông tin trao đổi cộng với những quy định về tiêu chuẩn chất lợng đã đợc đặt ra
khiến các cơ sở viễn thông không thể tích lũy thông tin đợc mà phải tiến hành
bảo thông tin hai chiều. Trong điều kiện này, mỗi doanh nghiệp viễn thông, tham
gia vào quá trình truyền đa tin tức không phải lúc nào cũng là ngời cung cấp duy
nhất. Ví dụ trong quá trình truyền đa thông tin liên tỉnh có sự tham gia của không
chỉ một mà là vài doanh nghiệp viễn thông, mỗi đơn vị thực hiện những chức năng
nhất định trong từng phần của quá trình. Nh vậy, trong việc hình thành cuộc gọi
liên tỉnh có sự tham gia của mạng liên tỉnh, các tổng đài liên tỉnh và các trạm đầu
cuối. Nếu có sự vắng mặt các kênh trực tiếp giữa các điểm đầu cuối cần có sự kết
nối ở giai đoạn trung gian. 24
Công
đoạn đi
Công
đoạn qua
Công
đoạn đến
gửi tin
Nơi Nơi
nhận tin
Sơ đồ 1.1 : Quy trình cung cấp dịch vụ viễn thông
Do đặc điểm quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ viễn thông mang tính
dây truyền, có khi mỗi đơn vị viễn thông chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định
của quá trình truyền đa tin tức. Đây là đặc điểm quan trọng chi phối đến công tác
tổ chức, quản lý hạch toán kinh doanh dịch vụ viễn thông. Nó đòi hỏi sự phải có
quy định thống nhất về thủ tục quy trình khai thác; sự phối hợp chặt chẽ về kỹ
thuật, nghiệp vụ, lao động, hạch toán kinh doanh giữa các doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ viễn thông.
Mặc dù có nhiều đơn vị viễn thông tham gia vào quá trình truyền đa tin tức
hoàn chỉnh nhng việc thanh toán cớc chỉ diễn ra ở một nơi, thờng là nơi chấp nhận