TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA QUẢN
TRỊ
KINH
DOANH
so
Cũ
oa
FOREIGN
TTMDE
UNIVERSirr
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
(ĐỀ tài:
HOÀN
THIỆN
TỔ CHỨC
KIÊM TOÁN NỘI
BỘ
TẠI
TẬP
ĐOÀN BƯU CHÍNH VIÊN THÔNG VIỆT
NAM
Sinh
ì
MỤC LỤC
LỜI
MỞ ĐẦU Ì
Chương
ì:
LÝ
LUẬN
CHUNG
VẾ Tổ
CHỨC
VÀ
HOẠT
ĐỘNG
CỦA
KIỂM
TOÁN NỘI BỘ 3
1.1
Những
vấn đề cơ bản của
kiểm
toán
nại
bạ 3
1.1.1
Bản
chất và sự cần thiết của kiểm toán nội
bộ 3
1.1.2
Đối
toán viên nội
bộ 14
1.2.4
Mô
hình t chức
bộ máy
kiểm toán nội
bộ 15
ì .2.5
Các
mối quan hệ của kiềm toán nội
bộ 17
1.3 Môi trường pháp
lý
về
tổ
chức
và
hoạt
đạng của bạ máy
kiểm
toán
nại
bạ ở
Việt
Nam 18
Chương
li:
THỰC
TRẠNG
Bưu
chính Viễn thông Việt
Nam 23
2.1.3
Sự
cẩn thiết chuyển đi từTng
Công
ty
Bưu
chính Viễn thông Việt
Nam
lên
Tập
đoàn
Bìm
chính Viễn thông Việt
Nam 26
n
2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy kiểm toán nội bộ
trong
Tổng Công
ty
Bưu chính
Viễn
thông
Việt
Nam 27
2.2.1 Khái quát về sự ra đời, phát triển và
một số
thành
ty
Bưu chính
Viễn
thông
Việt
Nam 52
2.3.1
Về
tổ chức
53
2.3.2
Về
hoạt động
55
2.4 Một
số
kinh
nghiệm về
tổ
chức
và
hoạt
động
kiểm
toán
nội
bộ của
một
số
Tập đoàn trên
Viễn
thông
Việt
Nam 63
3.1.1
Đặc
trưng hoạt động chủ yếu của
Tập
đoàn
63
3.1.2
Cơ
cấu tổ chức của
Tập
đoàn
Bưu
chính Viễn thông Việt
Nam 64
3.2 Sự
cần
thiết
phải
hoàn
thiện
tổ
chức
kiểm
toán
nội
bộ và
mô
hình
Tập
đoán
71
ra
3.3 Các nguyên
tắc
hoàn
thiện
tổ chức kiểm toán
nội
bộ
tại
Tổng Công
ty
Bưu chính
Viễn
thông
Việt
Nam
khi
chuyển sang
hoạt
động
theo
mô
hình Tập đoàn 74
3.4 Các
giải
Viễn thông
Việt
Nam 80
3.4.3
Đào tạo và sử dụng kiểm toán
viên
nội
bộ 86
3.4.4
Hoàn
thiện
quan hệ
giữa
kiểm toán
nội
bộ
với
các bộ phận khác
trong
Tập đoàn 87
PHẦN
KẾT
LUẬN
89
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Ì
LỜI
chức,
hoạt
động
tại
nhiều
doanh
nghiệp. Hiện
nay
kiểm
toán
nội
bộ đang được nhìn
nhận
như một công cụ
quan
trọng trong
quản
trị
doanh
nghiệp
hiện
đại
mà
đặc
biệt
là
công
tác
kiểm
soát
tổ chức
lại
Tổng
công
ty
Bưu chính
Viễn
thông
Việt
Nam và các đem
vị
thành viên
với lộ
trình
hết
năm
2005
hình thành
xong
Tập
đoàn được Thủ
tướng
Chính phủ phê
duyệt tại
Quyết
định số
58/2005/QĐ-TTg ngày
23/3/2005.
Việc
Chính phủ
sức
nặng
nề
dối với
Tổng
Công
ty
vì đây là một mô hình
kinh
doanh
mới
ở
Việt
Nam, chúng
ta
hoàn toàn chưa có
kinh
nghiệm,
việc
khảo
sát
thực tế
mô hình Tập đoàn
tại
các nước
di
trước còn hạn
chế.
Chính vì vậy
việc
hiệu
quả, thực
sự
trở
thành
tập
đoàn
kinh
tế
mạnh,
có trình độ công
nghệ quản
lý
hiện
đại
và chuyên môn hoa cao là
một vủn đề
rủt
quan
trọng
và
củp
bách
đối
với
Lãnh đạo
Tổng
Công
ty.
Xuủt
tác
kiểm
toán
nội
bộ
tại
Tập đoàn
cả về
mặt
lý
luận
và
thực
tiễn.
Nguyền
Thị
Hồng Văn
-
Nhạt
-
K40 - QTKD
Khoa
luận
tốt
nghiệp
2
2.
Mục đích nghiên
cứu của
đề
dung
hoạt
động
của
bộ máy
kiểm
toán
nội
bộ
trong
Tập
đoàn Bưu chính
Viễn
thông
Việt
Nam
được
hoàn
thiện
theo
mô hình
mới phải
đảm bảo tính
khoa
học,
có tính khả
thi
cao,
có
thể
hoạt
động
của bộ máy
kiểm
toán
nội
bộ
đởi với
Tổng
Công
ty
Bưu chính
Viễn
thông
Việt
Nam
hoạt
động
theo
mô hình Tập đoàn Bưu chính
Viễn
thông
Việt
Nam
(bao
gồm
cả
công
ty
mẹ và công
5.
Bở
cục của
luận
văn
Ngoài
phần
mở đầu và
kết
luận,
Luận
văn
được
chia
thành 03
chương:
Chương
ỉ.
Lý
luận
chung
vê tổ
chức
và
hoạt
động của kiểm
toán
nội bộ.
Chương
li.
Bưu
chính Viễn thông Việt
Nam
khi
chuyển
sang hoạt
động
theo
mô
hình
Tập
đoàn.
Nguyên
Thị
Hồng Văn
-
Nhật
-
K40 - QTKD
Khoa
luận
tốt
nghiệp
3
CHƯƠNGì
LÝ
LUẬN
CHUNG
VẾ Tổ
CHỨC
trong
hệ
thống kiểm
soát
nội
bộ
của
một
dơn
vị,
có
chức
năng
kiểm
tra,
đánh giá tính
phù
hợp,
hiệu
quả sự tuân
thủ
pháp
luật
và
các quy
định của
hệ
thống
kế
toán
giá
các
hoạt
động
tài chính
và
phi
tài chính nhằm nâng cao
hiệu
quả của
các
hoạt
động
và góp
phần
hoàn
thiện
hệ
thống
quản
lý
tại
các
đơn
vị.
Kiểm
toán
nội
bộ
là
quả
nhất.
Kiểm
toán
nội
bộ
cũng là
công cụ
để
phân
tích,
dành giá
chất
lượng
của
hệ
thống
kế toán và hệ
thống kiểm
soát
nội
bộ
của
doanh
nghiệp.
1.1.1.2.
Sự
cần
thiết
của kiểm toán nội
ra
đời
của
hoạt
động
kiểm
toán
nội
bộ
xuất
phát
từ
những
yếu
tố
sau:
Doanh
nghiệp
phát
triển
một
cách
nhanh
chóng
làm
quy
mô và độ
phức
tạp
của
động
kinh
doanh
đang
diễn
ra;
Khoảng
cách
thu nhận
và
phản
hồi
thông
tin
quản
lý
giữa
lãnh
đạo
doanh
nghiệp
và các bộ
phận
trực
thuộc
ngày càng xa cách về
khoảng
cách
Nguyễn
Thị
chức
năng
kiểm,
đánh giá độ
tin
cậy và tính đầy
đủ,
chính xác của các thông
tin
tài
chính và
phi
tài
chính
có
thể
định
lượng
được
phục
vụ cho yêu cầu
quản
lý của lãnh đạo
doanh
nghiệp;
Yêu cầu ngày một cao về độ chính xác
của
các thông
tin
trên các báo
cho lãnh đạo
doanh
nghiệp
trước
khi
công bữ các báo
cáo
tài
chính;
Tiến
hành các
hoạt
động
kinh
doanh
trong
doanh
nghiệp
là
những
con
người
cụ
thể,
các nhân viên này
cũng
có
những
nhược
điểm
các
chức
năng
kiểm
toán
nội
bộ.
Trong
quá trình
chuyển
đổi
nền
kinh
tế
như nước
ta
hiện
nay,
các
doanh
nghiệp phải
tự
chịu
trách
nhiệm
về
kết
quả
hoạt
động sản
thiện
và nâng cao
chất
lượng
hoạt
động,
tăng
cường
sức
mạnh
cho hệ
thững kiểm
soát
nội
bộ của
doanh
nghiệp.
1.1.2.
Đối
tượng
và
mục
đích
của
kiểm toán
nội
bộ
1.1.2.1.
Đối
tượng
nghiệp
bao gồm:
thực
trạng
hoạt
động tài chính, hệ
thững
các báo cáo tài chính và báo cáo
quản
trị,
chức
năng
hiệu
quả các
Nguyễn
Thị
Hồng Vàn -
Nhật
- K40
- QTKD
Khoa
luận
tốt
nghiệp
5
hoạt
động của
doanh
nghiệp
và tính tuân
quan
tâm
nhiều
hơn đến độ
tin
cậy của thông
tin
thì
đối tượng
của
kiểm
toán
nội
bộ sẽ
tập
trung
chủ yếu vào hệ
thống kiểm
soát
nội bộ
Nếu
doanh
nghiệp
quan
tâm
nhiều
hơn đến tính
hiệu
quả của
việc
dụng
các
nguồn
lực
đó.
1.1.2.2.
Mục
đích
của kiểm
toán
nội
bộ
Mục đích của
kiểm
toán
nội
bộ là nhớm giúp ban lãnh đạo
doanh
nghiệp kiểm
tra,
soát xét để hạn
chế
các
rủi
ro
và ngăn
ngừa
các
sai
sót, vi
thực
hiện
các mục tiêu
sau:
-
Kiểm
tra,
đánh giá và
thẩm
định độ
tin
cậy thích đáng và phù hợp
của
các thông
tin
kinh tế
tài
chính và hệ
thống
kế toán
doanh
nghiệp.
- Đánh
giá,
kiểm
tra
tính
hiệu
quả,
hiệu
soát
nội
bộ của
doanh
nghiệp;
ngăn
ngừa
hạn chế các hành
vi vi
phạm và đề ra các
biện
pháp xử lý kịp
thời.
- Đánh giá mức độ
hiệu
lực
và tính
hiệu
quả của
việc
sử
dụng
các
nguồn
lực,
các phương án
hoạt
động và các
quyết
định
kiểm
toán); chức
năng xác
nhận; chức
năng
đánh giá và tư
vấn
về tình hình
của
doanh
nghiệp.
Nội
dung
kiểm
tra,
xác
nhận
và đánh giá của
kiểm
toán
nội
bộ bao
gồm: độ
tin
cậy của thông
tin
tài chính kế toán do kế toán
tổng
hợp,
xử lý
chức
năng
trên,
chức
năng đánh giá
-
tư
vấn
để
tham
mưu,
đề
xuất, kiến
nghị
nhằm
cỉa
thiện,
hoàn
thiện
cấc mọt
hoọt
động của
doanh
nghiệp
mà đặc
biệt
là
đối với
công tác
quản
Kiểm
tra
tính
hiệu lực
và
hiệu
quả
của
hệ
thống
kiểm
soát
nội
bộ,
của
hoọt
động sản
xuất kinh
doanh
và
điều
hành
kinh
doanh;
Kiểm
tra,
kiểm
soát
chất
lượng
chính,
kế toán;
Phát
hiện
những
tồn
tọi,
yếu kém và sơ hở
trong
quản
lý nhằm đưa
ra
các
giải
pháp
cải
tiến,
hoàn
thiện,
nâng cao
hiệu
quả
của
công tác
quản
lý;
Tư
vấn
về cóng tác
tài
bộ
1.1.4.1.
Nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ
Kiểm
toán
nội
bộ được
tổ
chức
trong
một
doanh
nghiệp,
tuy
theo
tính
chất,
trình độ hay yêu cầu
quản
lý mà
kiểm
toán
nội
bộ có
thể
tiến
hành
thực hiện
các
loại
nội
dung
này,
kiểm
toán
nội
bộ
thực hiện
để
kiểm
tra,
đánh giá
toàn bộ thông
tin
có
thể
định
lượng
thuộc
báo cáo tài chính của
doanh
nghiệp,
từ
đó
kết luận
là báo cáo của
doanh
nghiệp
có được trình bày hợp
lý,
phản
ánh
trong
báo
cáo
quản
trị
vỉi
các thông
tin
có
thể
định
lượng
của báo cáo
tài
chính.
Nội
dung
của
kiểm
toán báo cáo
tài
chính và báo cáo kế toán
quản
trị
gồm:
-
Kiểm
tra
mực kế toán,
chế
độ chính sách tài
chính,
kế
toán,
thuế trong
quá trình
hạch
toán và
lập
báo cáo
tài
chính và báo cáo kế toán
quản
trị
của các đơn
vị
thành viên.
Thông qua
kiểm
toán phát
hiện
những
tồn
tại,
yếu kém, sơ
hở,
gian
lận
Ban Giám đốc về công tác kế
toán,
tài
chính,
công tác
quản
lý và
điều
hành
hoạt
động sản
xuất kinh
doanh
có
hiệu
quả.
Nguyễn Thị Hồng Vân - Nhật - K40 - QTKD
Khoa
luận
tốt
nghiệp
8
b,
Kiểm toán tuân
thủ
Kiểm
toán tuân
thủ
là
kiểm
Việc kiểm
tra
tính tuân
thủ
luật
pháp,
chính
sách,
chế
độ
kinh
tế,
tài
chính của Nhà
nước,
các chính sách,
nghị
quyết, quyết
định,
quy chế của
Hội
đồng
quản
trị
và ban lãnh đạo
doanh
nghiệp.
-
Kiểm
tra
quyết
định
của Hội
đồng
quản
trị
và Giám dốc
doanh
nghiệp.
-
Kiểm
tra việc
chấp
hành các nguyên
tắc
chuẩn
mởc, chính
sách,
chế
độ kế toán
từ
khâu
lập
chứng
từ,
tổ
chức
thởc
hiện
hạch
tục,
phương pháp
hoạt
động
của
bất
kỳ một bộ
phận
nào
trong
doanh
nghiệp
hay tác
dụng
của một
phương án
kinh
doanh,
một quy trình công
nghệ,
một
loại
tài
sản
đưa vào sử
dụng
nhằm mục đích đánh giá tính
kinh tế, hiệu
quả và
hiệu
Vì vậy
kiểm
toán quá trình
hoạt
động còn dược
gọi
là
kiểm
toán tính
hiệu
quả.
1.1.4.2.
Hình
thức
của kiểm toán
nội
bộ
Hoạt
động
kiểm
toán
cũng
như các
hoạt
động khác của con
người,
hiệu
quả công
việc rất
được chú
tốt
nghiệp
9
a, Căn cứ vào phạm vi hay số lượng đối tượng thực hiện của cuộc
kiểm
toán,
có hai hình
thức
kiểm
toán:
-
Kiểm
toán toàn
diện
nhằm vào toàn bộ
hoạt
động
kinh
doanh,
hoạt
dộng
kế toán
với
mục đích xem xét tính
trung
thực,
hợp lý của tài
liệu,
số
liệu
tập
trung
vào số
nghiệp
vụ
nhất
đứnh,
ví dụ
như
kiểm
toán ngân
quỹ,
kiểm
toán
hoạt
động bán hàng,
kiểm
toán
chi
phí,
lợi
nhuận
b, Căn cứ vào
thời
kỳ thực hiện cuộc kiểm
toán,
có hai hình thức
kiểm
toán:
-
nhờ đó có
thể
hạn
chế,
ngăn
chặn
được các hậu
quả,
tác
hại
có
thể
xảy
ra.
Do các
cuộc
kiểm
toán này
được
thực hiện
thường xuyên nên tác
dụng
ngăn
chặn
là
rất
hiệu
quả.
-
Kiểm
điểm thực hiện cuộc kiểm
toán,
có hai hình thức
kiểm toán:
-
Kiểm
toán trước
hoạt
động
(tiền
kiểm):
là
loại
hình
kiểm
toán được
thực
hiện
trước
khi
một
hoạt
động phát
sinh,
nhằm bảo đảm cho
doanh
nghiệp hoạt
động đạt được
kết
quả cao
trường hợp này,
cuộc
kiểm
toán chỉ nhằm xem xét dể xác đứnh tính
trung
thực,
hợp lý và
Nguyễn Thị Hồng Vân - Nhật - K40 - QTKD
Khoa luận
tốt
nghiệp
lo
hiệu
quả của các
hoạt
động mà
doanh
nghiệp
đã
thực
hiện,
đồng
thời
phát
hiện
các
vi
phạm
gian
lận
kiểm
toán viên
thực
hiện
các
thử
nghiệm
kiểm
soát để
thu thập
bằng chứng
đánh giá mức độ tuân
thủ
các
chính
sách,
chế
độ,
nhỏng
quy định
nội
bộ
trong
công tác kế
toán,
tài
chính,
đặc
biệt
là quá trình
các số dư. Phân
tích là
việc
xem xét các thông
tin,
các số
liệu,
các mối
quan
hệ có liên
quan
tới
nhau
nhưng
việc
so sánh số
liệu
các
khoản
mục trên báo cáo tài chính
giỏa
kỳ này
với
niên độ kỳ
trước,
giỏa thực
hiện
với
kế
hoạch,
tỷ
lệ
của các kỳ
trước.
Từ đó
kiểm
toán viên sẽ
xác định
trọng
tâm của
cuộc
kiểm
toán cần
tập
trung
để tìm
hiểu
và thu
thập
các
bằng chứng
về chúng.
Trong kiểm
toán báo cáo tài chính cần phân
tích mối
quan
hệ tỷ
lệ giỏa
tài sản cố định trên
tổng
với tổng
tài sản lưu
động;
mối
quan
hệ
giỏa
nợ
phải
trả
trên
tổng
tài
sản;
các
tỷ
lệ
phản
ánh khả năng
thanh
toán
Theo
phương pháp
kiểm
tra
chi
tiết
các
nghiệp
vụ và số dư các tài
Nguyễn
Thị
Hồng Vàn - Nhật - K40 - QTKD
Khoa
luận
tốt
nghiệp
li
số
báo cáo
của
đơn
vị
để có
nhận
xét về độ
tin
cậy của các
nghiệp
vụ và các
số
dư
đó.
Kiểm
tra chi
tiết
số
dư:
là
việc
chứng từ
với
sổ kế
toán;
giữa
sổ kế toán
với
báo cáo tài chính. Sau đó tính
toán
lại
số dư các tài
khoản
để có cơ sấ so sánh,
đối
chiếu
với
các số
liệu
trong
các báo cáo
tài
chính và
rút
ra
nhận
xét các số
kiệu
trong
báo cáo.
-
thủ tục
và
quy
trình
kiểm
soát,
quản lý;
kiểm
tra
các thông
tin
trên các báo cáo về tình
hình
chi
phí và
kết
quả
hoạt
động sản
xuất
kinh
doanh,
về tình hình tài
sản Thông
qua
kiểm
tra,
kiểm
toán viên
nội
về
thực
hiện
các quy chế
kiểm
soát và hệ
thống
các
giải
pháp
kiểm
soát
quản
lý.
Phương pháp phân tích giúp cho
kiểm
toán viên có
những nhận
xét,
đánh giá đúng về tính
hiệu
lực
và
hiệu
quả
trong
hoạt
động của
doanh
nghiệp.
tại
một
doanh
nghiệp
nào
đó, tuy
vào
các
điều
kiện
cụ
thể
của
doanh
nghiệp
để áp
dụng
các
biện
pháp
kiểm
toán
cụ
thể
và nhìn
chung
đựơc
tiến
hành
theo
tốt
nghiệp
12
Bưốc
4:
Theo
dõi
sau
kiểm
toán và đánh giá công
việc
kiểm
toán.
Tuy
theo nội
dung
của
kiểm
toán
nội
bộ
thực
hiện
là
kiểm
toán báo
cáo kế
toan,
kiểm
toán
1.2.1. Tiêu
chuẩn
thiết
lập
bộ máy
kiểm toán
nội
bộ
1.2.1.1.
Quy mô
của
doanh nghiệp
- Quy mô
của doanh
nghiệp
là
một tiêu
chuẩn quan
trọng
nhất
để làm
cân cứ cho
việc
xác đờnh sự cần
thiết
nên thành
lập
bộ máy
kiểm
toán
ít
doanh
nghiệp tổ
chức
bộ
phận
kiểm
toán
nội
bộ.
- Quy mô của
doanh
nghiệp
có
thể
đánh giá
theo
doanh
thu,
tổng
giá
trờ
tài
sản,
số
vốn
hoạt
động hay số công nhân viên.
- Bằng
việc
1.2.1.2.
Phạm
vi
hoạt động
Phạm
vi hoạt
động của các bộ
phận
đơn vờ
trong
doanh
nghiệp
cũng
là một tiêu
chuẩn quan
trọng
nếu xét
theo
khía
cạnh
chất
lượng
thông
tin.
Nhiều
doanh
có
nhiều
đơn vờ
trực
thuộc
do sự xa cách về mặt đờa
lý.
Ngược
lại
các đơn
vờ
trực
thuộc
như các công
ty
hay văn phòng không
phải
bao
giờ
cũng nhận
được
các thông
tin
cần
thiết
cho
hoạt
động của họ
từ
trụ
sở
chính.
Các
kiểm
phận,
đơn vờ
trực
thuộc thực
hiện, việc
phân
quyền,
phân
Nguyễn
Thị
Hồng Vàn -
Nhật
- K40
- QTKD
Khoa
luận
tốt
nghiệp
13
cấp
quản
lý chỉ
đạt
được
hiệu
quả
khi
các mục
tiêu,
thủ tục
ở
ba
mức:
-
Rủi ro
trong việc
triển
khai thực hiện
cụ
thể
tại
các bộ
phắn,
đơn vị
trực
thuộc
cung
cấp cho cấp
trên,
chẳng
hạn như
việc
cố
gắng
cải
thiện
một
cách
giả
tạo
tồn
kho
Như
vắy,
kiểm
toán
nội
bộ là cần
thiết
dể đảm bảo
luắt
pháp quy
định
được tuân
thủ
trong tất
cả các
trung
tâm,
các bộ
phắn,
các đơn
vị
thành
viên.
Ì.2.1.4.Năng
lực,
trình
độ
cửa
năng thích
nghi với
môi trường
làm
việc
cao.
Tuy
nhiên,
không
phải
bao
giờ
doanh
nghiệp
cũng
có đủ cán bộ
hội
tụ
đủ
những
điều
kiện
cần
thiết.
Trình độ năng
lực
chuyên môn của cán bộ
có
thể
là
riêng.
Kiểm
toán viên
nội
bộ có
thể
khắc
phục
được
những
hạn
chế
này
bằng
cách đưa
ra
những khoa
đào
tạo
về
mục tiêu và
những thủ tục
cần tuân
thủ
hay trình bày,
giải
thích cho các
nhân viên về
những
khuyết
có quy mô
lớn
và có
nhiều lĩnh
vực
hoạt
động sản
xuất
kinh
doanh.
Thực
vắy,
vì muốn có
Nguyễn Thị Hồng Vân - Nhật - K40 - QTKD
Khoa luận
tốt
nghiệp
14
các
thủ
tục,
quy
tắc
thống nhất
cho
tất
cả các
lĩnh
vực
hoạt
doanh
và
việc
xác định các tiêu
chuần. Kiểm
toán viên
nội
bộ có
thể
và nên dưa
ra
các
thủ
tục,
quy trình
cung
cấp thông
tin
riêng cho
từng
lĩnh
vực
hoạt
động.
1.2.2.
Nguyên
tắc,
nhiệm vụ của
tổ
chức bộ máy kiểm toán nội bộ
đựng
các yếu
tố
của
kiểm
toán để
thực hiện
chức
năng
kiểm
toán.
Việc
tổ chức
bộ mấy
kiểm
toán
nội
bộ
phải
tuân
thủ
các nguyên
tắc
cơ bản
của
tổ
chức
một bộ máy đó là:
- Xây
dựng đội
tắc
chung
của lý
thuyết
tổ
chức
và phù hợp
với
quy
luật
của
phép
biện
chứng
về liên hệ.
- Quán
triệt
nguyên
tắc chung
của mọi hệ
thống
tổ
chức
bộ máy,
nguyên
tắc tập
trung
dân chủ thích ứng
với từng
bộ
nội bộ
1.2.3.1.
Khái niệm về kiểm toán
viên
nội bộ
Kiểm
toán viên
nội
bộ là các chuyên
gia
kế toán có kỹ năng
nghiệp
vụ
kiểm
toán nhưng
hoạt
dộng
không chuyên
nghiệp,
không cần có
chứng
chỉ, giấy
phép hành
nghề.
Các
kiểm
toán viên
nội
bộ dược bố
trí,
dối
vói một
người
muốn
trở
thành
kiểm
toán viên
nội bộ.
Kiểm
toán viên
nội
bộ
phải
đảm bảo các
chi
tiêu như
sau:
- Độc
lập
là nguyên
tắc
hành
nghề
cơ bản của
kiểm
toán
viên.
Trong
quá trình
của mình.
Kiểm
toán viên
không đưừc vừa làm
dịch
vụ kế
toán,
vừa làm
dịch
vụ
kiểm
toán.
- Chính
trực:
kiểm
toán viên
phải thẳng
thắn,
trung
thực,
có chính
kiến
- Khách
quan:
kiểm
toán viên
phải
công
bằng,
tôn
có năng
lực
và
nghiệp
vụ chuyên môn, có
hiểu
biết
cần
thiết
cả
về lý
thuyết
và
thực
hành kế
toán,
kiểm
toán.
Đồng
thời
kiểm
toán viên
phải
thực
hiện
công
việc
kiểm
toán
với
bộ kỹ
thuật
để đáp ứng yêu cầu công
việc.
- Tính bí
mật: kiểm
toán viên
phải
bảo mật các thông
tin
có đưừc
trong
quá trình
kiểm
toán,
không đưừc
tiết
lộ bất
kỳ một thông
tin
nào
khi
chưa đưừc phép của
người
có
thẩm
quyển, trừ khi
có
nghĩa
vụ
hành.
1.2.4.
Mô hình
tổ
chức bộ máy kiểm toán nội bộ
Tổ
chức
bộ máy
kiểm
toán
nội
bộ là
việc
lựa chọn
mô hình
tổ
chức
bộ
máy
kiểm
toán
nội
bộ để
thực
hiện
kiểm
toán
trong
nội
bộ
quy mô,
điều
kiện
cụ
thể
của đơn vị nhà
quản
lý có
thể
lựa chọn
mô
hình tổ
chức
của bộ
phận
kiểm
toán
nội
bộ
theo
các mô hình cơ bản sau
đây:
- Mô hình
tập
trung:
Theo
mô hình này đơn
vị
sẽ
chỉ tổ chức
động
tập trung,
không phân
tán.
Mô hình này bảo đảm tính khách
quan,
độc
lập
của kiểm
toán viên
nội
bộ và
thuận
tiện
cho
việc
chuyên môn hoa của
kiểm
toán
nội
bộ .
- Mô hình phân
tán:
theo
mô hình này ngoài bộ
phận
kiểm
toán
nội
bộ
ty con,
chi
nhánh đó. Bộ
phận
kiểm
toán
nội
bộ
trung
tâm sẽ
kiểm tra
toàn bộ
hoởt
động của đơn vị và
chịu
trách
nhiệm
thực
hiện
những cuộc
kiểm
toán
phức
tởp,
có quy mô toàn đơn
vị.
Mô hình
này thích hợp
với
công
tổ
chức
các văn phòng
kiểm
toán
nội
bộ khu
vực,
phụ trách một khu vực
địa
lý cụ
thể.
Tuy
theo
phởm
vi,
hình
thức,
tính
chất
tổ chức
của
doanh
nghiệp
mà
lãnh đởo của
doanh
nghiệp
có
thể
kiểm
toán
nội
bộ
trong
doanh
nghiệp
cần được
tổ
chức
theo
cơ
cấu
ngành dọc đơn
giản
theo từng hoởt
động
kinh
doanh.
Bộ
phận
kiểm
toán
nội
bộ
chỉ
nên
tổ
chức
ở đơn
quan
hệ
với
bên
trong
và bên ngoài.
Ì.2.5.1 .Quan
hệ
giữa kiểm toán
nội
bộ
với
các
đơn
vị,
bộ
phận trong
doanh nghiệp
Hoạt
động của
kiểm
toán
nội
bộ
trong
doanh
nghiệp phải
đảm bảo
được
tính độc
lập.
Tuy
nhiên vì cùng là các bộ
phận
trong
một
doanh
nghiệp,
trong
quá trình
kiểm
toán cần có được sự
phối
hợp
của
các bộ
phận
nén phát
sinh
mối
quan
hệ:
- Các bộ
phận,
đơn
vị
trong
doanh
nghiệp
có liên
vực
nên cần sự giúp đỡ
của
chuyên
gia
trong
lĩnh
vực đó.
Do
vậy,
để
kiểm
toán
nội
bộ
thực
hiện tốt
chờc
năng của mình cần
phải
đảm bảo có
quyền
hạn yêu cầu các bộ
phận,
đơn
vị cung
cấp thông
tin
và
cung
kiểm
toán
chi
tiết
đồng
thời
phải
thông báo cho lãnh đạo
các bộ
phận
được
biết
chi
tiết.
Doanh
nghiệp
cũng
cần
phải
có quy
chế
về
luân
chuyển
thông
tin
cho
kiểm
toán
nội
và
kiểm toán
bên
ngoài
Phân
chia
kiểm
toán
theo
chủ
thể
thực
hiện
kiểm
toán
ta
có:
Kiểm
toán Nhà
nước,
kiểm
toán độc
lập
và
kiểm
toán
nội
bộ.
Trong
đó,
Nhật
- K40
- QTKD
Khoa
luận
tốt
nghiệp
18
Khi
ba
loại
hình
kiểm
toán có
chung
một
đối
tượng
kiểm
toán sẽ
xuất
hiện
mối
quan
hệ hữu cơ và tương hỗ
lẫn
nhau. Kiểm
toán
nội
bộ là
thông
tin
do
kiểm
toán viên
nội
bộ cung cấp,
kiểm
toán viên bên ngoài
cũng
phải lựa
chọn
trên
quan
điểm
có
chọn
lọc.
Khi dưa
ra kết
quả
kiểm
toán, các
kiểm
toán viên bên ngoài
phải
chịu
hoàn toàn trách
nhiệm.
Kiểm
cụa mình
với
những
thay đổi
điều chỉnh
cho phù
hợp.
Do có
nhiều
điểm
tương đồng nên sự phát
triển
cao cụa
kiểm
toán bên ngoài
cũng
làm cho
kiểm
toán
nội
bộ phát
triển.
Sự
kết
hợp,
kế
thừa kết
quả
kiểm
toán
nhau
để
tạo
nên một hệ
thống
hoàn
chỉnh.
1.3. Môi trường pháp lý về tổ chức và
hoạt
động của bộ máy
kiểm
toán
nội
bộ ở
Việt
Nam
Trong
quá trình phát
triển,
trước
những
yêu cầu và đòi
hỏi
cụa
thị
trường
cũng
như
từ
lãnh đạo các
giám
sát,
duy trì sự
hoạt
động
hữu
hiệu
cụa
hệ
thống kiểm
soát
nội
bộ toàn
doanh
nghiệp,
là công cụ
hỗ
trợ
cho ban lãnh đạo
doanh
nghiệp.
Tại
Điều
36 Nghị định
59/CP
cụa Thụ
tướng
Chính phụ ngày
3/10/1996
về ban hành Quy
19
theo
quy
định
hiện
hành.
Doanh
nghiệp
tự tổ
chức
kiểm
toán
nội
bộ báo cáo
tài
chính của mình
hoặc
thuê
kiểm
toán độc
lập
nếu
thấy
cần
thiết".
Nghị
định
59/CP
đã xác định
loại
toán
doanh
nghiệp
Nhà
nước.
Theo
Thông tư
này:
"Báo cáo
tài
chính
của doanh
nghiệp
phụi
được
kiểm
toán và có xác
nhận
đã được
kiểm
toán
của
kiểm
toán
nội
bộ
hoặc
kiểm
toán
độc
năng,
nhiệm
vụ và
quyền
hạn của
kiểm
toán
nội
bộ
trong
doanh
nghiệp
Nhà
nước.
Để
hướng
dẫn các
doanh
nghiệp thực
hiện
Quy
chế
này và
tổ
chức
bộ máy
kiểm
toán
nội
bộ,
của
Thông tư
số
52/1998/TT-BTC
về
việc
lựa
chọn
hình
thức tổ
chức
bộ máy
kiểm
toán
nội
bộ,
xác
định
tiêu
chuẩn của
kiểm
toán viên
nội
bộ và bổ
nhiệm
Trưởng
phòng
kiểm
toán nội bộ, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số
171/1998/TT-BTC ngày
hoạt
động
kiểm
toán
nội
bộ
tại
Việt
Nam. Tuy
nhiên,
Quyết
định trên mới
chỉ
là
quyết
định
quụn
lý Nhà nước
đối với hoạt
động
kiểm
toán
nội
bộ và
chưa
chỉ
ra
được các nguyên
tắc thủ tục
có tính
nội
bộ
ở các
doanh
nghiệp.
Đối với Thông tư 171/1998/TT-BTC ngày
Nguyễn
Thị
Hồng Vàn - Nhật - K40 - QTKD
Khoa
luận
tốt
nghiệp
20
22/12/1998
sửa
đổi
Thông tư 52/1998/TT-BTC vẫn chưa
hướng
dẫn một
cách cụ
thể
hơn về xây
dựng
trình
tự kiểm
toán
cũng
như các quy trình xử
lý
nghiệp
đã hình thành và đưa vào
hoạt
động
kiểm
toán
nội
bộ một cách có
hiệu
quả,
góp
phặn
tăng
cường
hiệu
quả sản
xuất
và
giảm
được
chi
phí
thuê
tư
vấn
kế toán
hoặc
kiểm
toán độc
lập.
bộ
phận
kế toán
tại
doanh
nghiệp.
Nguyễn Thị Hồng Vân - Nhật - K40 - QTKD