1
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thị trường phát triển kéo theo sự phát triển của
hoạt động đầu tư tài chính. Từ vài năm trở lại đây, thông tin về hoạt
động đầu tư tài chính đã không còn là mới lạ đối với Việt Nam,
chúng diễn ra thường xuyên như một tất yếu của nền kinh tế. Cả các
công ty thuộc sở hữu Nhà nước lẫn tư nhân, cả chính phủ lẫn các
loại hình tổ chức kinh doanh khác đều tham gia hoạt động đầu tư tài
chính cả trong nước lẫn ngoài nước.
Hoạt động đầu tư tài chính trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập
và kết nối ngày càng trở nên quan trọng. Trong xu thế này các tổ
chức kinh tế có xu hướng liên doanh, liên kết với nhau để cùng tiến
hành sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm với chi phí rẻ, tiết kiệm
hơn mà hiệu quả lại cao hơn. Lợi thế do toàn cầu hóa mang lại là rất
nhiều song cũng đầy những thách thức mà bản thân trong nó chứa
đựng, và hoạt động đầu tư tài chính cũng nằm trong xu thế chung
của thế giới.
Kế toán với chức năng, nhiệm vụ của mình là cung cấp thông
tin kinh tế tài chính quan trọng, đáng tin cậy cho các nhà quản lý
doanh nghiệp nói chung, tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
nói riêng và các đối tượng có liên quan. Để đáp ứng được yêu cầu
hạch một cách trung thực, đầy đủ, khách quan đòi hỏi kế toán cần
phải tuân thủ các yêu cầu, nguyên tắc, phương pháp kế toán hoạt
động đầu tư tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế và với chuẩn
2
mực và chế độ kế toán Việt, đảm bảo độ tin cậy cao nhất đối với
đến việc cung cấp thông tin cho việc trình bày bào cáo tài chính hợp
nhất. Đồng thời đề tài không nghiên cứu các hoạt động đầu tư tài
chính ngắn hạn.
Chỉ khảo sát kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn
Bưu chính viễn thông Việt Nam từ năm 2005 đến nay.
Thời gian ứng dụng các giải pháp hoàn thiện kế toán hoạt
động đầu tư tài chính tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
từ năm 2008.
• Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu lý luận về kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo
quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam ban hành theo
Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng
Bộ tài chính, thực trạng kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập
đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện kế
toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông
Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: Phương pháp tổng
hợp, phân tích thống kê và phương pháp so sánh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hoá và hoàn thiện những vấn đề lý luận cơ bản liên
4
quan đến kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo chuẩn mực và chế
độ kế toán Việt Nam.
Khảo sát thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn
thiện kế toán hoạt động đầu tư tài chính tại Tập đoàn Bưu chính
viễn thông Việt Nam.
* Đầu tư tài chính dài hạn là hình thức đầu tư mà thời hạn thu
hồi các khoản đầu tư lớn hơn một năm hay sau một chu kỳ sản xuất
kinh doanh.
Căn cứ theo mức độ đầu tư: Mức độ đầu tư của doanh nghiệp
được thể hiện qua việc nắm giữ quyền kiểm soát của doanh nghiệp
6
(nắm giữ quyền biểu quyết). Theo tiêu thức này, có thể chia các
khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp thành các loại sau:
* Đầu tư vào công ty liên kết: đầu tư vào công ty liên kết là
khoản đầu tư vào công ty mà trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng
đáng kể nhưng không phải là công ty con hoặc công ty liên doanh
của nhà đầu tư.
Ảnh hưởng đáng kể được hiểu là quyền tham gia của nhà đầu
tư vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và hoạt
động của bên nhận đầu tư nhưng không kiểm soát các chính sách
đó. Nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể là nhà đầu tư nắm giữ trực
tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con ít nhất từ 20% đến
dưới 50% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư trừ khi có quy định
hoặc thỏa thuận khác. Ngược lại nếu nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp
hay gián tiếp thông qua các công ty con ít hơn 20% quyền biểu
quyết của bên nhận đầu tư thì không được gọi là nhà đầu tư có ảnh
hưởng đáng kể, trừ khi có quy định hoặc thỏa thuận khác.
Tỷ lệ quyền biểu quyết của nhà đầu tư trong vốn chủ sở hũu
của bên nhận đầu tư được xác định như sau:
•
Trường hợp tỷ lệ quyền biểu quyết của nhà đầu tư trong
Tổng vốn góp của công ty con của
nhà đầu tư trong công ty liên kết
x 100%
Tổng vốn chủ sở hữu của công ty
liên kết
Trường hợp tỷ lệ quyền biểu quyết khác với tỷ lệ vốn
góp do có thoả thuận khác giữa nhà đầu tư và công ty liên kết,
quyền biểu quyết của nhà đầu tư được xác định căn cứ vào biên bản
thoả thuận giữa nhà đầu tư và công ty liên kết.
Một nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể thường được thể hiện ở
một hoặc các biểu hiện sau: Có mặt của nhà đầu tư trong ban giám
đốc điều hành hoặc tương đương ban giám đốc, nhà đầu tư được
tham gia vào quá trình hạch định chính sách kinh doanh, có các giao
dịch quan trọng giữa nhà đầu tư và bên nhận đầu tư hoặc có sự trao
đổi về cán bộ quản lý hoặc có sự cung cấp thông tin kỹ thuật cơ bản
và các bí quyết công nghệ.
Như vậy công ty liên kết là một pháp nhân độc lập trong đó
nhà đầu tư sở hữu công ty liên kết thông qua cổ phần sở hữu. Nhà
đầu tư được quyền tham gia vào các quyết định về chính sách hoạt
động, chính sách tài chính trong công ty liên kết và lợi ích của nhà
8
đầu tư trong công ty liên kết được xác định theo tỷ lệ sở hữu của
một chiếc máy bay, các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất
do mỗi bên góp vốn liên doanh đảm nhiệm, mỗi bên tự trang trải các
khoản chi phí phát sinh trong giai đoạn công nghệ của mình và nhận
được thu nhập từ việc bán máy bay theo thỏa thuận được phân chia
theo hợp đồng liên doanh.
Về mặt quản lý tài chính: Đối với từng thành viên tham gia bộ
phận liên doanh này không tách thành một cơ cấu tài chính riêng mà
thống nhất trong cơ cấu tài chính của thành viên. Mỗi bên liên
doanh sẽ sử dụng tài sản, vốn riêng để hoạt động kinh doanh được
phân chia. Điều đó có nghĩa là từng thành viên trong liên doanh có
quyền và nghĩa vụ trong phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh
được thực hiện do nhân viên các bên tham gia trực tiếp điều hành,
và có thể tiến hành song song với các hoạt động sản xuất kinh
doanh khác của từng thành viên.
Với đặc trưng cơ bản của hình thức này khi liên doanh được
thành lập các bên góp vốn không phải chuyển vốn, tài sản của mình
vào liên doanh, toàn bộ vốn góp là bộ phận tài chính của bên tham
gia nhưng phải được quản lý riêng biệt và phục vụ cho hoạt động
kinh doanh của liên doanh. Vốn đầu tư không phải chuyển ra bên
ngoài doanh nghiệp, lượng vốn này doanh nghiệp vẫn phải điều
hành và kiểm soát để phục vụ các hoạt động kinh doanh được phân
10
chia trong hợp đồng liên doanh. Điều đó cho thấy liên doanh theo
hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh đồng kiểm soát không thỏa
mãn điều kiện của một tài sản đầu tư tài chính.
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh tài
sản được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh là việc một
thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu.
+ Hợp đồng liên doanh dưới hình thức thành lập cơ sở kinh
doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh. Cơ sở
kinh doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh (cơ
sở được đồng kiểm soát) đòi hỏi phải có sự thành lập một cơ sở kinh
doanh mới. Hoạt động của cơ sở này cũng giống như hoạt động của
các doanh nghiệp khác, chỉ khác là thỏa thuận bằng hợp đồng giữa
các bên góp vốn liên doanh quy định quyền đồng kiểm soát của họ
đối với các hoạt động kinh tế của cơ sở này. Ví dụ: Công ty liên
doanh VKX được thành lập trên cơ sở liên doanh Tập đoàn Bưu
chính viễn thông Việt Nam và đối tác Hàn Quốc.
Về quản lý tài chính: Liên doanh là một cơ cấu tài chính tách
biệt ra khỏi các bên liên doanh và hoạt động độc lập như một pháp
nhân kinh doanh mới. Công ty liên doanh sẽ kiểm soát tài sản liên
doanh, gánh chịu các khoản nợ, chi phí và thực hiện thu nhập từ các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Liên doanh sử dụng pháp nhân riêng
của mình trong các hợp đồng và tạo nguồn tài chính phục vụ cho
12
các mục đích của hoạt động kinh doanh của liên doanh. Thường thì
các cơ sở kinh doanh này tồn tại dưới dạng công ty trách nhiệm hữu
hạn hay một công ty hợp danh, và phải tuân thủ quy chế pháp lý của
từng hình thức mà liên doanh tồn tại. Mỗi bên liên doanh sẽ đồng
kiểm soát liên doanh trên cơ sở vốn góp, đồng thời số vốn góp này
được coi như một tài sản đầu tư tài chính dài hạn. Việc vốn góp liên
doanh có thể bằng tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, hàng tồn
kho...Khi tài sản đã góp vào công ty liên doanh thì nó không còn là
sở hữu của các bên liên doanh nữa mà thuộc sở hữu của công ty liên
hoạt động theo quy chế thoả thuận, công ty mẹ có quyền bổ nhiệm
hoặc bãi nhiệm đa số các thành viên Hội đồng quản trị hoặc cấp
quản lý tương đương hay công ty mẹ có quyền bổ nhiệm hoặc bãi
nhiệm đa số các thành viên Hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý
tương đương.
* Đầu tư tài chính khác: Đầu tư tài chính khác bao gồm các
khoản đầu tư vào các cơ sở khác mà nhà đầu tư chỉ nắm giữ dưới
20% quyền biểu quyết mà không có thoả thuận nào khác. Ngoài ra
thuộc đầu tư tài chính khác còn bao gồm đầu tư để mua các loại
chứng khoán ngắn hạn, dài hạn trên thị trường tài chính, cho vay
vốn và các khoản đầu tư tài chính khác với mục đích hưởng lãi.
14
1.1.2. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán đối với hoạt động
đầu tư tài chính trong doanh nghiệp.
Đầu tư tài chính là một bộ phận tài sản tài chính của doanh
nghiệp, là bộ phận tài sản mang tính rủi ro cao, ảnh hưởng nhiều
đến thông tin tài chính của doanh nghiệp. Các tài sản đầu tư tài
chính bao gồm nhiều hình thức đầu tư khác nhau như đầu tư chứng
khoán, đầu tư liên doanh, liên kết, đầu tư vào công ty con, các
khoản cho vay...phần lớn các khoản đầu tư này thể hiện quyền kiểm
soát của nhà đầu tư ở các mức độ khác nhau đối với cơ sở được đầu
tư. Chúng tạo ra những mối quan hệ tài chính phức tạp giữa các cơ
sở đầu tư, làm cho thông tin tài chính của các thực thể đan xen lẫn
nhau tạo thành tổ chức tài chính với các mối ràng buộc chặt chẽ,
tình trạng tài chính của từng cơ sở được đầu tư có ảnh hưởng nhiều
đến nhà đầu tư ở các mức độ khác nhau. Để đảm bảo thông tin tài
chính của từng nhà đầu tư được trình bày trung thực và hợp lý làm
+ Cung cấp kịp thời những thông tin về tình hình đầu tư nhằm
phục vụ tốt cho công tác lãnh đạo và quản lý kinh doanh ở doanh
nghiệp.
1.2. Kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo quy định của
chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam.
16
1.2.1.Kế toán hoạt động đầu tư tài chính theo quy định của
chuẩn mực kế toán Việt Nam
Kế toán hoạt động đầu tư tài chính được điều chỉnh bởi chuẩn
mực số 07: Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết; Chuẩn
mực số 08: Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh;
Chuẩn mực số 25: Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu
tư vào công ty con.
• Chuẩn mực số 07 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty
liên kết.
Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán các khoản đầu tư vào
công ty liên kết của nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể trong công ty
liên kết.
Có hai phương pháp để kế toán khoản đầu tư vào công ty liên
kết đó là phương pháp vốn chủ sở hữu và phương pháp giá gốc.
Theo phương pháp giá gốc thì:
+ Ghi nhận ban đầu khoản đầu tư theo giá gốc.
+ Ghi nhận tiếp theo là nhà đầu tư chỉ hạch toán vào thu nhập
trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khoản được chia từ lợi
nhuận thuần luỹ kế của bên nhận đầu tư phát sinh sau ngày đầu tư.
Các khoản khác mà nhà đầu tư nhận được ngoài lợi nhuận được chia
được coi là phần thu hồi các khoản đầu tư và được ghi nhận là
công ty liên doanh của nhà đầu tư. Trong nội dung chuẩn mực đề
18
cập đến cả ba hình thức liên doanh: hoạt động sản xuất kinh doanh
đồng kiểm soát, tài sản đồng kiểm soát và cơ sở đồng kiểm soát.
Tuy nhiên như đã trình bày ở trên là hình thức hoạt động sản xuất
kinh doanh đồng kiểm soát và tài sản đồng kiểm soát không thuộc
phạm vi đề tài nên tác giả chỉ trình bày nội dung chuẩn mực áp dụng
đối với hình thức liên doanh cơ sở đồng kiểm soát.
Cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát là một doanh nghiệp độc
lập, tuy nhiên vẫn chịu sự kiểm soát của các bên góp vốn liên doanh
theo hợp đồng liên doanh. Cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát phải tổ
chức thực hiện công tác kế toán riêng theo quy định của pháp luật
hiện hành về kế toán như các doanh nghiệp khác.
Cơ sở kinh doanh được đồng kiểm soát chịu trách nhiệm kiểm
soát tài sản, các khoản nợ phải trả, thu nhập và chi phí phát sinh tại
đơn vị mình. Cơ sở kinh doanh này sử dụng tên của liên doanh
trong các hợp đồng, giao dịch kinh tế và huy động nguồn lực tài
chính phục vụ cho các mục đích của liên doanh. Mỗi bên góp vốn
liên doanh có quyền được hưởng một phần kết quả hoạt động của cơ
sở kinh doanh hoặc được chia sản phẩm của liên doanh theo thỏa
thuận của hợp đồng liên doanh.
+ Ghi nhận khoản đầu tư: Nhà đầu tư ghi nhận ban đầu khoản
đầu tư vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát theo giá gốc.
19
ứng với lợi ích của mình trong liên doanh.
+ Thay đổi ghi nhận: Khi thu hồi vốn góp liên doanh vào cơ
sở kinh doanh đồng kiểm soát, căn cứ vào giá trị vật tư, tài sản và
tiền do liên doanh trả lại để ghi giảm số vốn góp.
+ Trình bày thông tin trên báo cáo tài chính của nhà đầu tư vào
công ty liên doanh theo hai phương pháp giá gốc và phương pháp
vốn chủ sở hữu. Bên góp vốn liên doanh ngừng sử dụng phương
pháp vốn chủ sở hữu kể từ ngày bên góp vốn liên doanh kết thúc
quyền đồng kiểm soát hoặc không có ảnh hưởng đáng kể đối với cơ
sở kinh doanh được đồng kiểm soát. Bên góp vốn liên doanh không
có công ty con không lập báo cáo tài chính hợp nhất và phải cung
cấp các thông tin liên quan đến khoản vốn góp của họ trong liên
doanh như những bên góp vốn liên doanh có công ty con.
Bên góp vốn liên doanh phải trình bày chi tiết các khoản vốn
góp trong các liên doanh quan trọng mà bên góp vốn liên doanh
tham gia.
Bên góp vốn liên doanh phải trình bày tổng giá trị của các
khoản nợ ngẫu nhiên, trừ khi khả năng lỗ là thấp và tồn tại biệt lập
với giá trị của các khoản nợ ngẫu nhiên khác, đồng thời phải trình
bày riêng biệt tổng giá trị của các khoản cam kết theo phần vốn góp
21
vào liên doanh của bên góp vốn liên doanh với các khoản cam kết
khác.
• Chuẩn mực số 25 “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán
khoản đầu tư vào công ty con”.
Chuẩn mực này áp dụng để lập và trình bày các báo cáo tài
chính hợp nhất của một tập đoàn gồm nhiều công ty chịu sự kiểm
+ Cổ tức hoặc lợi nhuận được chia theo thông báo của công ty
liên kết và được hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính. Các
khoản thu nhập khác ngoài cổ tức, lợi nhuận được chia nhà đầu tư
hạch toán giảm trừ giá gốc đầu tư.
+ Lãi do thanh lý, nhượng bán khoản đầu tư liên kết được
hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính
Chi phí từ hoạt động đầu tư liên kết bao gồm
+ Chi phí chuyển tài sản đi góp vốn là chi phí phát sinh ngoài
chi phí mua khoản đầu tư liên kết và được kế toán hạch toán vào chi
phí khác.
+ Khoản lỗ do thanh lý, nhượng bán khoản đầu tư liên kết và
được hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính.
23
Kế toán đầu tư vào công ty liên kết sử dụng tài khoản 223
“Đầu tư vào công ty liên kết”. Kết cấu và nội dung phản ánh của
Tài khoản 223 như sau:
+ Bên Nợ: Giá gốc khoản đầu tư được mua tăng.
+ Bên Có: Giá gốc khoản đầu tư giảm do thu được các khoản
lợi ích ngoài lợi nhuận được chia, do bán, thanh lý toàn bộ hoặc một
phần khoản đầu tư.
+ Số dư bên Nợ: Giá gốc khoản đầu tư vào công ty liên kết
hiện đang nắm giữ cuối kỳ.
Kế toán phải mở sổ kế toán chi tiết theo dõi giá trị khoản đầu
tư vào từng công ty liên kết. Từ thời điểm nhà đầu tư không còn
được coi là có ảnh hưởng đáng kể đối với công ty liên kết, nhà đầu
tư phải kết chuyển giá trị ghi sổ của khoản đầu tư vào công ty liên
kết sang các tài khoản khác có liên quan.
(3)
(12)
TK 152, 153, 156,
211, 213, 217
TK 214 (1,2,3,7)
TK 221
(4)
13
(5)
TK 711
TK 811
(7)
(6)
TK 515
(8)
25
Chú thích sơ đồ 1.1
(1)Doanh nghiệp đầu tư vào công ty liên kết (chiếm từ 20% đến
50% vốn chủ sở hữu ở doanh nghiệp nhận vốn góp)
Bổ sung mua thêm cổ phiếu hoặc góp thêm vốn để có tỷ
lệ quyền biểu quyết trên 50%