TCNCYH 25 (5) 2003
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân sỏi
niệu điều trị tại khoa thận bệnh viện Bạch Mai
Đỗ Thị Liệu
1
, Nguyễn Thị Loan
2
1
Bộ môn Nội tổng hợp Đại học Y Hà Nội,
2
Sinh viên Y6 Đại học Y Hà Nội
Qua nghiên cứu 150 bệnh nhân sỏi niệu chúng tôi có những nhận xét sau:
Tỷ lệ phát hiện bệnh gặp ở nam giới nhiều hơn nữ (tỷ lệ nam: nữ là 55,3%: 44,7%). Tuổi thờng
gặp là 45 tuổi, đặc biệt là ở bệnh nhân > 55 tuổi (47,3%).
90% bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng của sỏi thận, tiết niệu. 10% bệnh nhân đợc phát hiện tình
cờ. Biểu hiện thờng gặp nhất là đau vùng hông lng (54%). Đau quặn thận rõ cũng gặp ở 10,7%
trờng hợp.
Các biến chứng nặng gặp ở một tỷ lệ đáng kể, đặc biệt nhất là tình trạng suy thận chiếm 62,6%
bệnh nhân, trong đó có 20,2% bệnh nhân suy thận độ IIIb và độ IV. Nguyên nhân dẫn đến suy thận có
thể do tình trạng ứ nớc, ứ mủ bể thận (24% bệnh nhân) hoặc viêm thận bể thận cấp, mạn (38% bệnh
nhân)
Siêu âm phát hiện đợc 91,1% bệnh nhân sỏi, trong khi chụp X quang hệ tiết niệu chỉ phát hiện
đợc 80,5% bệnh nhân. Siêu âm có u thế là phát hiện đợc cả những sỏi không cản quang nhng
khó phát hiện đợc sỏi niệu quản, đặc biệt là đoạn niệu quản giữa.
I. Đặt vấn đề
Sỏi niệu là một bệnh rất thờng gặp. Nếu
bệnh đợc phát hiện muộn thì có nhiều biến
chứng nặng, có thể có nguy cơ tử vong.
Tất cả các bệnh nhân đều đợc làm bệnh
án thống nhất, các kết quả đợc đánh giá nh
sau:
Tăng huyết áp dựa theo phân loại của
WHO/ ISH 1999. Huyết áp đợc coi là tăng khi
lớn hơn hoặc bằng 140/ 90 mmHg.
Suy thận dựa theo bảng phân độ suy
thận của Nguyễn Văn Xang [7]:
74
TCNCYH 25 (5) 2003
Độ I: Creatinin huyết thanh. 110-129
àmol/l
Độ II: Creatinin huyết thanh. 130-299
àmol/l
Độ IIIa: Creatinin huyết thanh. 300-
499àmol/l
Độ IIIb: Creatinin huyết thanh 500-900
àmol/l
Độ IV: Creatinin huyết thanh > 900
àmol/l
Các số liệu thu thập đợc xử lý theo thuật
toán thống kê trên máy vi tính bằng chơng
trình phần mềm SPSS 10.0.
III. Kết quả
1. Đặc điểm chung về đối tợng nghiên
cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành trên 150 bệnh
nhân bao gồm 67 bệnh nhân nữ (44,7%) và 83
bệnh nhân nam (55,3%). Tuổi trung bình là
53,5 14,2 tuổi. Tuổi thấp nhất là 18 tuổi, cao
nhập viện cũng gặp ở một tỉ lệ cao là 32,7%.
Bảng 2: Tiền sử bệnh sỏi thận tiết niệu
Tiền sử n %
Cha phát hiện bệnh STTN 78 52
Đã phẫu thuật 1 lần 31 20,7
Đã phẫu thuật 2 lần 5 3,3
Đã phẫu thuật 3 lần 1 0,7
Đã phát
hiện
bệnh
STTN
Cha phẫu thuật 35 23,3
Cộng 150 100
Có 72/150 bệnh nhân có tiền sử đã đợc
phát hiện sỏi thận tiết niệu. 37 bệnh nhân có
tiền sử đã đợc phẫu thuật lấy sỏi trong đó 5
bệnh nhân đợc phẫu thuật 2 lần, 1 bệnh nhân
đợc phẫu thuật 3 lần.
3. Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 3 : Tình trạng chức năng thận dựa
vào Creatinin huyết thanh
Creatinin huyết
thanh (àmol/l)
Số bệnh nhân
(n=139)
Tỷ lệ %
< 110 52 37,4
110- 129 17 12,2
130-229 30 21,6
90-110 130 89,7
Cl
>110 10 6,9
<2,15 6/20 30
2,15-2,6 14/20 70
Ca
+ +
>2,6 0 0
Qua bảng 4 cho thấy rối loạn điện giải máu
ở bệnh nhân sỏi niệu rất đa dạng. Giảm Na
+
máu gặp ở 9% bệnh nhân, tăng K
+
gặp ở
15,2% bệnh nhân. Chỉ có 20 bệnh nhân đợc
làm xét nghiệm Ca
2+
máu nhng không phát
hiện trờng hợp nào có tăng Ca
2+
máu rõ rệt.
Bảng 5: Tỷ lệ xuất hiện các thành phần
Protein, hồng cầu, bạch cầu, tinh thể trong
nớc tiểu
Thành phần nớc tiểu Số bệnh
nhân
Tỷ lệ
bên
7 5,7
SĐBT 1 bên SNQ 2
bên
1 0,8
SNQ 1 bên 7 5,7
SNQ 2 bên 1 0,8
Không phát hiện sỏi 12 9,1
Bảng 7. Tình trạng đài bể thận gin qua
siêu âm.
Tình trạng
đài bể thận - NQ
Số bệnh nhân
(n=135)
Tỷ lệ
%
Giãn 1 bên 68 50,4
Giãn 2 bên 48 35,5
ĐBT
Không giãn 19 14,1
Giãn 1 bên 32 24,4
Giãn 2 bên 6 4,5
NQ
Không giãn 97 71,4
Có 135/150 bệnh nhân đợc làm siêu âm
thận tiết niệu trong đó có 123 bệnh nhân phát
hiện đợc sỏi chiếm 91,1% bệnh nhân. Qua
chứng nặng cấp tính nh viêm thận bể thận
cấp, ứ nớc, ứ mủ bể thận cũng chiếm một tỷ lệ
đáng kể là 15,3 và 24% bệnh nhân nghiên cứu.
IV. bàn luận
1. Đặc điểm về tuổi, giới của đối tợng
nghiên cứu.
Qua nghiên cứu 150 bệnh nhân sỏi niệu
của 2 năm 1999- 2001 điều trị tại khoa Thận
bệnh viện Bạch Mai chúng tôi nhận thấy tỷ lệ
phát hiện bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ (tỷ lệ
nam : nữ là 55,3% : 44,7%). Tuổi thờng gặp là
> 45 tuổi, đặc biệt là ở bệnh nhân > 55 tuổi
(47,3%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù
hợp với nhận xét của một số tác giả khác.
Theo nghiên cứu tiến hành tại khoa Tiết
niệu bệnh viện Bình Dân từ 1973-1977, có
1160 trờng hợp sỏi thận đợc điều trị nội trú,
tỷ lệ nam chiếm 69,39%, nữ chiếm 30,61% [5].
Theo một số nghiên cứu của Fan. Y thì cho
rằng Androgen tăng, oestrogen giảm là nguyên
nhân làm tăng oxalic máu, bài tiết oxalat niệu
dẫn đến bệnh sỏi niệu là bệnh gặp u thế ở
nam giới [9].
2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
ở bệnh nhân sỏi thận, tiết niệu.
Theo nghiên cứu của chúng tôi 90% bệnh
nhân có triệu chứng lâm sàng của bệnh sỏi
thận, tiết niệu; 10% bệnh nhân đợc phát hiện
tình cờ.
Biểu hiện thờng gặp nhất là đau vùng hông
điều trị tại một khoa thận nội khoa đầu ngành,
đa số các bệnh nhân đợc điều trị là các bệnh
nhân nặng, có biến chứng.
Thận to biểu hiện của một tình trạng ứ
nớc, ứ mủ gặp ở 12/150 bệnh nhân trong
nhóm nghiên cứu của chúng tôi, thấp hơn nhận
77
TCNCYH 25 (5) 2003
xét của một số tác giả khác. Đoàn Đắc Huy
nhận xét rằng có 26,76% bệnh nhân có thận to
ứ nớc, Nguyễn Thuỵ Linh gặp tỷ lệ này là
13,3%. Có sự khác nhau này có lẽ do đối tợng
bệnh nhân của chúng tôi là bệnh nhân đợc
điều trị tại khoa thận nội khoa nên biến chứng
nhiễm trùng, suy thận thờng gặp hơn là thận
to ứ nớc, một tình trạng bệnh lý cần can thiệp
ngoại khoa.
Các triệu chứng khác:
Tăng huyết áp ở 23,3% tổng số bệnh nhân
nghiên cứu. Suy thận gặp ở 62,6% bệnh nhân.
Đây là hai tình trạng bệnh lý chứng tỏ các biến
chứng ở thận đã nặng và lâu dài. Trong số những
bệnh nhân có suy thận lúc nhập viện, tỷ lệ bệnh
nhân suy thận độ II chiếm cao nhất (21,6%). Tuy
nhiên cũng có 13,7% bệnh nhân suy thận độ IIIb
và 6,5% bệnh nhân suy thận độ IV. Tỷ lệ cao của
biến chứng suy thận trong bệnh nhân nghiên cứu
của chúng tôi chứng tỏ bệnh sỏi niệu là một bệnh
lý nặng cần đợc chẩn đoán và xử trí sớm để tránh
biến chứng suy thận không hồi phục, một biến
hợp đã có suy thận do sỏi. Tạp chí Y học thực
hành số 4/1997. Trang 12-44.
3. Trần Đức Hoè (1994). Lâm sàng và thái
độ xử trí 65 trờng hợp sỏi san hô hai bên thận.
Tạp chí Y học thực hành số 2/1994. Trang 6-
10.
4. Đoàn Đắc Huy (2000). Nghiên cứu chẩn
đoán điều trị sỏi trong các dị tật bẩm sinh
đờng tiết niệu trên ở ngời lớn bệnh viện Việt
Đức Hà Nội từ 1995 đến 1999. Luận án thạc sỹ
Y học 2000.
5. Ngô Gia Hy (1980). Sỏi cơ quan niệu.
Niệu học tập I. Nhà xuất bản Y học, trang 50-
85.
6. Nguyễn Thuỵ Linh (2001). Một số đặc
điểm lâm sàng và chẩn đoán bệnh sỏi đờng
tiết niệu trên đã có biến chứng suy thận. Y học
Việt Nam số 4,5,6/2001. Trang 125 -131.
7. Nguyễn Văn Xang (2000): Suy thận mạn,
Bài giảng Bệnh học nội khoa, Nhà xuất bản Y
học, Hà Nội, tập I; trang 148-158.
8. Alain Roje G (1992). The medical
management of renal stone. Oxford textbook of
clinical nephrology, Vol III. P.1847 - 1866.
9. Fan.Y (1999). Role of sex hormones in
experimental calcium oxalate nephrolithiasis
Medline.
10. George W. Drach (1992). Urinary
lithiasis etiology, diagnostic and medical
management. Campbells urology. Vol 2.