Đề tài: “Bài tập lớn môn Luật Hôn nhân gia đình” - Pdf 11

Bài tp ln cui kì môn Lut hôn nhân gia đình Vit Nam

Nguyn Th Kim Cúc – 351823 - Nhóm 8 1
Đề tài:
“Bài tập lớn môn Luật Hôn nhân gia đình”

Bài tp ln cui kì môn Lut hôn nhân gia đình Vit Nam

Nguyn Th Kim Cúc – 351823 - Nhóm 8 2

LỜI MỞ ĐẦU:
Nước Việt Nam là một đất nước chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc
bởi quả trình đồng hóa trên tất cả các phương diện của chúng, nền tư tưởng chính
trị nho giáo đã trở thành khuôn mẫu chuẩn mực trong các quan hệ xã hội. Tuy
hình thái kinh tế xã hội phong kiến và những tàn dư về mặt chính trị đã khép lại
hơn nửa thế kỉ nhưng những quan niệm những định kiến hình thành trong giai
đoạn đó vẫn còn dai dẳng cho đến ngày hôm nay. Một trong những định kiến đó
chính là việc coi thường vị thế và tầm quan trọng của phụ nữ, “trai thì năm thê
bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”, hoặc tài sản trong gia đình là
thuộc về người đàn ông , người phụ nữ mặc nhiên không có quyền được sở hữu
chúng cho dù chính họ làm ra, một khi người chồng chết đi, nếu muốn đi bước
nữa người phụ nữ phải ra đi trắng tay, không được mang theo bất cứ tài sản nào
khác. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám vị thế và sức ảnh hưởng của người phụ
nữ trong xã hội đã nâng lên một tầm cao mới.Cũng từ đó quyền và lợi ích hợp
pháp của họ đã được xác lập và được bảo hộ bởi pháp luật. Ngày nay khi xã hội

li hôn lại cũng là một vấn đề nan giải không kém, bởi khi đó tình cảm vợ chồng
không còn nữa vì vậy mà lợi ích vật chất lại được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên
khi giải quyết các vụ li hôn có liên quan tới tài sản thường thì người phụ nữ sẽ là
người bị thiệt thòi hơn. Khá nhiều trường hợp người vợ ở nhà, người chồng là
người chủ yếu tạo ra thu nhập chính cho gia đình, vì vậy khi li hôn căn cứ vào
công sức đóng góp, đương nhiên người chồng sẽ được nhiều hơn. Cũng có
những trường hợp người chồng giao tài sản riêng cho một người khác đứng tên
hoặc nhờ một người nào đó tạo hợp đồng tặng cho giả tạo những tài sản riêng
của mình, khi đó mặc dù tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân nhưng trên pháp lí
Bài tp ln cui kì môn Lut hôn nhân gia đình Vit Nam

Nguyn Th Kim Cúc – 351823 - Nhóm 8 4

đó chỉ của riêng người chồng. Hoặc người vợ có đi làm, nhưng thu nhập lại dùng
cho việc chi tiêu trong gia đình dẫn đến những tài sản lớn thì do chồng đứng tên
và trên thực tế thì nó được mua bởi tiền của anh ta, khi đó tài sản sẽ khó mà chia
đôi theo nguyên tắc chia tài sản… Đây chỉ là một số trường hợp tổng kết lại trên
thực tế, mang tính chất tổng quát nhưng chúng ta đã thấy phần thiệt thòi về tài
sản hầu hết là rơi vào người phụ nữ, người vợ khi li hôn.
1.2.Thực trạng pháp luật Việt Nam:
1.2.1. Sơ lược về pháp luật Việt Nam trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người vợ trong việc chia tài sản của vợ chồng khi li hôn
Tuy chịu nhiều ảnh hưởng của Trung quốc nhưng lịch sử của chúng ta đã
chứng minh rằng dân tộc Việt Nam có những đặc điểm riêng mà quả trình đồng
hóa cũng không lấy mất được đó là việc không hoàn toàn đặt người phụ nữ thuộc
loại “những công cụ lao động biết nói”. Điều đó được thể hiện rõ ràng trong bộ
luật Hồng Đức. Pháp luật quy định cụ thể ở các điều 374, 375 và 376 (Quốc triều
hình luật). Tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng
thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ
và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung).

d) Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa
thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp.
- Luật hôn nhân gia đình năm 2000
Mục b khoản 2 điều 95
Bài tp ln cui kì môn Lut hôn nhân gia đình Vit Nam

Nguyn Th Kim Cúc – 351823 - Nhóm 8 6

b) Bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của vợ con chưa thành niên hoặc đã bị
tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có
tài sản để tự nuôi mình;
Như vậy luật hôn nhân gia đình tuy đã được sử đổi thành các bộ luật mới qua
các năm 1959, 1986, 2000 nhưng luôn nhấn mạnh tới việc bảo vệ quyền và lợi
ích của người phụ nữ. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với đường lối cuả Đảng và
chính sách của chính phủ việc bảo vệ người phụ nữ trong xã hội đã có những
bước phát triển vượt bậc, một trong những điểm tích cực đó chính là đã nghiêm
túc đặt quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản cho người phụ nữ khi li hôn xảy ra,
điều này đã giúp cho người phụ nữ chủ động hơn trong việc tạo lập cuộc sống
mới ngay sau nỗi buồn tinh thần.
1.2.2. Pháp luật đương đại:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận:
“Điều 52: Mọi công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật”;
“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”
Đây là những chế định đầu tiên, là tiền đề cho việc khẳng định người phụ nữ
được đứng ngang tầm với người đàn ông trong xã hội, có quyền lợi và nghĩa vụ
tương đương với nhau.
- Cũng trên cơ sở tiến bộ đó, cùng với việc kế thừa và phát triển những
điểm tích cực trong luật hôn nhân gia đình 1959, 1980 luật Hôn nhân gia đình
năm 2000 đã qui định:
“ Điều 19: Bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ chồng

nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì
phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.”
Nếu như khoản 2 điều 85 qui định mang nặng tính tình cảm ( trong lúc mang thai
và nuôi con nhỏ người phụ nữ cần được thoải mái về mặt tinh thần và cần nhận
được sự chăm sóc của người khác nhất là đối với chồng của họ) thì trong khoản
2 điều 95 lại bảo vệ người phụ nữ trên phương diện vật chất, nhấn mạnh tới một
nguyên tắc trong việc chia tài sản đó là phải bảo về quyền và lợi ích hợp pháp
của vợ. Bởi hơn ai hết các nhà làm luật hiểu rằng khi hôn nhân tan vỡ thì lao
động tìm thu nhập để nuôi con và ổn định cuộc sống chính là cách nhanh nhất
giúp người phụ nữ có thể vượt qua khó khăn.Đó cũng chính là qui định thể hiện
rất rõ tính chất nhân đạo của Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam.Đây là chế định
quan trọng nhằm pháp luật hóa đường lối chủ trương của Đảng nhà nước trong
việc xây dựng một xã hội bình đẳng, bảo vệ người phụ nữ. Có thể nhận thấy
những qui định pháp luật về vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
người vợ trong việc chia tài sản của vợ chồng khi li hôn ở Việt Nam ngày càng
có những điểm tiến bộ và hoàn thiện hơn, trực tiếp tác động đến việc giải quyết
các vấn đề tranh chấp tài sản khi li hôn. Bên cạnh đó tại điều 60 qui định nghĩa
vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi li hôn như sau: “Khi li hôn, nếu bên khó
khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lí do chính đáng thì bên kia có
nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”, điều này qui định có thể thấy
phục vụ hầu như cho lợi ích của người vợ bởi trên thực tế người phụ nữ thường
rơi vào tình trạng túng thiếu về tiền bạc để tạo lập cuộc sống.
Ngoài ra trong luật Đất đai cũng qui định tất cả những giấy tờ, đăng ký tài
sản gia đình bao gồm cả quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở phải được ghi
cả tên vợ và chồng, đây là yếu tố pháp luật mang tính tiến bộ, là sự minh chứng
Bài tp ln cui kì môn Lut hôn nhân gia đình Vit Nam

Nguyn Th Kim Cúc – 351823 - Nhóm 8 9

cho sự bình đẳng giới giữa vợ và chồng nó cũng là cơ sở pháp lí quan trọng để

2. Nguyên nhân:
2.1. Nguyên nhân về mặt lịch sử kinh tế - xã hội:
Sau hàng nghìn năm Bắc thuộc, một trong những hậu quả nặng nề nhất mà
quá trình đồng hóa để lại là vấn đề phân biệt đối sử đối với người phụ nữ. Nền tư
tưởng pháp lí Nho giáo đã ăn sâu bén rễ vào tiềm thức của mỗi con người, trở
thành những “thói quen” về quan điểm không dễ gì thay đổi. Tuy hình thái kinh
tế xã hội phong kiến ở đâu trên khắp thế giới cũng có sự phân biệt giai cấp và
giới tính, cũng có những thời điểm sự phân biệt đó đã dâng lên đến đỉnh điểm
nhưng phải nói rằng chính nền Nho giáo đã khiến cho sự phân biệt đó vẫn tồn tại
dai dẳng cho đến ngày hôm nay ở các nước Châu Á như Trung Quốc , Việt
Nam…
Việt Nam là một nước đang phát triển, trình độ của lực lượng lao động
còn chưa cao, điều đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mỗi gia đình
mà đặc biệt là người phụ nữ. Thu nhập không nhiều nên người phụ nữ, người vợ
trong gia đình phải lao động nhiều hơn để chăm sóc gia đình, phải hi sinh nhiều
lợi ích của bản thân để lo cho cuộc sống ấy. Thời đại kinh tế thị trường hôn nhân
đôi khi lại mang tính vụ lợi, không loại trừ khả năng đây là một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng li hôn để tranh chấp tài sản, nhìn nhận khách
quan thì có những trường hợp lỗi lại thuộc về người vợ tuy nhiên người phụ nữ
là một thành tố cần có sự bảo vệ của xã hội xuất phát từ những đặc điểm của họ,
mà chủ yếu qui định bởi thiên chức làm vợ và làm mẹ của người phụ nữ.
Tuy nhiên ta có thể nhận thấy rằng pháp luật Việt Nam ngày càng thể hiện
những điểm tiến bộ của mình việc qui định đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
Bài tp ln cui kì môn Lut hôn nhân gia đình Vit Nam

Nguyn Th Kim Cúc – 351823 - Nhóm 8 11

cho bà mẹ trẻ em, cụ thể là tại mục b khoản 2 điều 95, điều luật này cho thấy tính
chất nhân đạo của pháp luật Việt Nam. Có được thành quả đó là do đường lối
chủ trương của Đảng Nhà nước, trong vấn đề bảo vệ người phụ nữ cũng không

hạn chế thời gian cho gia đình vì vậy đương nhiên sẽ kiếm được nhiều tiền hơn.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc người vợ sẽ bị thiệt thòi về
mặt tài sản khi li hôn là do có một bộ phận người phụ nữ thường ở nhà chăm sóc
gia đình đảm nhận công việc nội trợ và không làm bên ngoài. Theo một số liệu
thống kê về phân công lao động trong gia đình thì lao động sản xuất chính tới
24,8% trong khi đó người vợ chỉ là 11,5 % và cả hai người là 48,1%. Như vậy có
thể thấy người chồn chiếm ưu thế hơn về việc là lao động chính trong gia
đình.(2) Dĩ nhiên họ không trực tiếp tạo ra tài sản cho gia đình, cho nên tài sản
đó dễ thuộc về người chồng bởi pháp luật có qui định “tài sản chung của vợ
chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên,
tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập duy trì, phát
triển tài sản này”.Cũng chính bởi có những trường hợp như trên nên có qui định:
“ Lao động của vợ chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”.
Qui định này trực tiếp bảo đảm về mặt tài sản cho những “bà nội trợ” khi li hôn
xảy ra.
Nếu như người vợ có một công việc và thu nhập ổn định thì phần lớn
những thu nhập đấy cũng phục vụ cho chi tiêu trong gia đình, vì vậy ít có khả
năng tiết kiệm để tạo tài sản chung mới. Trong khi đó người chồng có thể giữ
phần còn lại một cách không công khai và bằng cách nào đó tạo cho mình một
tài khoản riêng, khi li hôn, nghiễm nhiên tài sản đó sẽ thuộc về họ mặc dù đó là
tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân. Đây là một lỗ hổng của pháp luật trên
thực tế cũng khó có thể giải quyết nếu không chứng minh được đó là tài sản
riêng của họ.
Bài tp ln cui kì môn Lut hôn nhân gia đình Vit Nam

Nguyn Th Kim Cúc – 351823 - Nhóm 8 13

Đối với gia đình Việt Nam, dù ở nông thôn hay ở thành phố, nhà ở, đất đai
(đất ở, đất canh tác, đất lâm nghiệp) luôn có giá trị đặc biệt lớn và rất quan trọng
trong khối tài sản được coi là bất động sản của mỗi hộ gia đình. Trước đây theo

hướng để giải quyết vấn đề này. Trước hết cần tuyên truyền vận động, thông qua
các hoạt động xã hội để thay đổi quan niệm tư duy cổ hủ của người Việt Nam,
làm sao cho không còn tư tưởng trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng trong
gia đình. Nâng cao hiểu biết của người phụ nữ về quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, từ đó có những hiểu biết cơ bản để tự bảo vệ bản thân.Có 84,8% đồng ý
với quan điểm các gia đình tự phấn đấu tạo dựng cuộc sống gia đình được tốt
hơn, 9% đồng ý là do sự giúp đỡ của cộng đồng, nhà nước và chỉ có 2,1% đồng ý
với ý kiến được cha mẹ họ hàng giúp đỡ. Như vậy có thể thấy được tầm quan
trọng của sự giúp đỡ từ phái cộng đồng nhà nước. Vì thế phải tăng cường hoạt
động các tổ chức chính trị xã hội như hội phụ nữ để xây dựng một tập thể biết
quan tâm đùm bọc và chia sẻ với nhau…Khuyến khích việc xây dựng gia đình
ông bà cha mẹ mẫu mực con cháu thảo hiền. Bên cạnh đó cũng cần nâng cao
hiệu quả hòa giải của tòa án để giảm thiếu tối đa các vụ li hôn mang tính nhất
thời bồng bột.
Về phía pháp luật cần có những chế định cụ thể hơn về vấn đề chia tài sản
trong hôn nhân để tránh tình trạng hiếu nhầm vận dụng sai hay “lách luật”.Một
vấn đề đặt ra là có hay không một hợp đồng hôn nhân giữa vợ và chồng khi kết
hôn, ở đó tài sản riêng của mỗi người sẽ được thể hiện rõ rang trên giấy tờ, tuy
nhiên cần nghiên cứu kĩ càng vì đặc điểm văn hóa truyền thống của nước ta khác
nhiều so với phương Tây. Trong quá trình giải quyết chia tài sản cần căn cứ vào
việc tài sản đó có được từ thời kì hôn nhân hay không, các tài sản là bất động sản
mặc dù đứng tên một người nhưng thực chất đó có phải là sở hữu riêng, cần quan
tâm đến cuộc sống sau hôn nhân đặc biệt là của người vợ và con cái, để từ đó
Bài tp ln cui kì môn Lut hôn nhân gia đình Vit Nam

Nguyn Th Kim Cúc – 351823 - Nhóm 8 15

xác định chính xác số tài sản mà người vợ cần (có điều kiện) mà có những qui
định cho hợp lí.
Một vấn đề nữa đó là bản thân người phụ nữ cũng cần xác định được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status