Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
1 Đề tài:
“Chế độ pháp lý và thực tiễn về việc ký kết,
thực hiện hợp đồng tín dụng tại chi nhánh
ngân hàng Nn& PTNT Láng Hạ.”
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
2
MỞ ĐẦU
Hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới
(WTO), khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước với nhau cũng như các
ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài là rất gay gắt. Để hội nhập và phát
triển bền vững các ngân hàng nói chung và chi nhánh Láng Hạ nói riêng cần chủ
động tích cực chuẩn bị điều kiện tham gia thị trường tài chính quốc tế thông qua
hoạt động phát hành cổ phiếu, xây dựng chiến lược phát triển quan hệ ngân hàng,
nhất là hệ thống thông tin quản lý, hệ thống giao dịch điện tử Hoạt động tín dụng
vẫn là một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại; cũng giống
như các hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng có thời gian hoàn vốn dài,
liên quan đến các điều kiện kinh tế diễn biến trong tương lai nên độ rủi ro rất cao.
Hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng là hợp đồng tín dụng, mặc dù hợp đồng tín
dụng đã được sử dụng rất lâu nhưng do nền kinh tế thị trường luôn có sự thay đổi
nên các văn bản ban hành ra để điều chỉnh hợp đồng tín dụng không còn phù hợp
của tổ chức tín dụng, có thể đưa ra một định nghĩa về hợp đồng tín dụng như sau:
Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho
vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ
chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời
hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm.
1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng ngân hàng là một dạng của hợp đồng vay, vì vậy nó cũng
mang những đặc điểm của hợp đồng vay tài sản nói chung. Đặc điểm này thể hiện ở
chỗ hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng đơn vụ theo quy định tại khoản 2-
điều 405 Bộ luật dân sự. Điều đó có nghĩa là trong hợp đồng tín dụng ngân hàng chỉ
có bên tín dụng mới có quyền yêu cầu và bên khách hàng có nghĩa vụ phải trả đầy
đủ số nợ tín dụng khi đến hạn và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, do hoạt động ngân hàng có những điểm đặc thù so với các hoạt động
kinh doanh khác nên hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng có những đặc điểm riêng.
Ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một
số dấu hiệu đặc trưng sau đây để phân biệt với các chủng loại hợp đồng khác trong
giao lưu dân sự và thương mại.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
4
1.2.1. Về chủ thể hợp đồng tín dụng
Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều
kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy
định như luật tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp, luật ngân hàng…và các văn bản
quy phạm pháp luật. Đây cũng là điểm khác cơ bản giữa hợp đồng tín dụng với hợp
đồng vay khác. Tổ chức tín dụng có thể yêu cầu khách hàng vay vốn trong hợp
đồng tín dụng phải thoả mãn một số điều kiện nhất định về tư cách pháp lý và khả
năng tài chính như: khách hàng vay phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực
doanh của khách hàng vay sẽ ảnh hưởng ngay đến các tổ chức tín dụng. Ngoài ra,
do tín dụng ngân hàng được hình thành chủ yếu trên cơ sở tiền gửi của dân chúng,
nên rủi ro trong tín dụng ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn
ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng và cả xã hội. Còn đối
với hợp đồng vay tài sản phát sinh trong giao dịch dân sự, do người cho vay dùng
tài sản của chính mình để cho vay nên khi rủi ro xảy ra thì chỉ người cho vay phải
gánh chịu hậu quả. Rủi ro này không làm ảnh đến những người khác và xã hội như
đối với hợp đồng tín dụng. Đặc trưng này đã tạo ra cho hợp đồng tín dụng có những
nét đặc thù như điều kiện chặt chẽ về chủ thể, về hình thức hợp đồng, về các biện
pháp bảo lãnh.
1.2.4. Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng
Trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân)
của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng
minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên
vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với
mình.
1.2.5. Hợp đồng tín dụng là hợp đồng luôn nhằm mục đích thu lợi nhuận
Khác với hợp đồng vay tài sản yếu tố lãi suất không phải là yếu tố bắt buộc,
mà phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên. Trong hợp đồng tín dụng tổ chức tín
dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp cho những chi phí cho các
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
6
hoạt động của mình như: trả lãi tiền gửi, trả lương cho nhân viên… mà còn nhằm
bảo đảm cho những hoạt động đặc trưng mang tính rủi ro cao của mình, bù đắp cho
các rủi ro luôn xảy ra đối với tổ chức tín dụng. Như vậy, việc thu lợi nhuận không
chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng, mà còn xuất phát lợi ích của người gửi
tiền và lợi ích của xã hội.
1.2.6. Hợp đồng tín dụng chỉ được ký kết dưới hình thức văn bản
bảo đảm.
1.3.2. Căn cứ vào bản chất hợp đồng có thể chia thành
Mặc dù luật các tổ chức tín dụng không trực tiếo quy định cơ sở để phân
định, nhưng theo các quy định của pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 thì căn cứ
vào chủ thể ký kết và mục đích của các chủ thể khi giao kết hợp đồng, hợp đồng tín
dụng ngân hàng có thể tồn tại dưới hai hình thức:
+ Hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế: là hợp đồng tín dụng giao kết giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng là chủ thể kinh doanh như: doanh nghiệp, hộ kinh
doanh cá thể, người làm công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hộ gia đình…và
việc giao kết hợp đồng tín dụng nhằm mục đích kinh doanh.
+Hợp đồng tín dụng là hợp đồng dân sự: là những hợp đồng tín dụng được giao
kết giữa tổ chức tín dụng với khách hàng mà không phải là chủ thể kinh doanh hoặc
là chủ thể kinh doanh nhưng việc giao kết hợp đồng tín dụng không nhằm mục đích
kinh doanh như: tiêu dùng, học tập…
Việc phân loại như trên chỉ có ý nghĩa để xác định cơ sở pháp lý thích hợp
cho việc giao kết hợp đồng và xác định thẩm quyền và thủ tục giải quyết các tranh
chấp xảy ra từ quan hệ hợp đồng tín dụng.
1.3.3. Căn cứ vào thời hạn cho vay có thể chia thành
+ Hợp đồng tín dụng ngắn hạn: là những hợp đồng tín dụng mà thời hạn cho vay
dưới 12 tháng.
+ Hợp đồng tín dụng dài hạn: là những hợp đồng tín dụng có thời hạn cho vay từ
1 năm trở lên.
2. Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có
đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và không vi
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
8
phạm điều cấm của pháp luật và nó không trái với đạo đức xã hội. Nội dung của
hợp đồng tín dụng phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận về ý chí;
tiện vào các mục đích phiêu lưu, mạo hiểm. Để bảo đảm lợi ích của cả hai bên và
đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng một cách hiệu quả, các bên có thể thoả
thuận về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng
vốn đã thay đổi.
2.3. Phương thức thanh toán tiền vay
Đây là điều kiện quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và
lãi cho vay. Do đó, các bên cần phải thoả thuận rõ ràng số tiền vay được trả theo
phương thức nào như: trả toàn bộ một lần, theo từng kỳ hạn hay hoàn trả dần…
2.4. Điều khoản về đối tượng hợp đồng
Trong điều khoản này các bên phải thoả thuận về số tiền vay, lãi suất cho
vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn.
2.5. Thời hạn vay
Thời hạn vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận
tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã được thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Các bên phải ghi rõ trong
hợp đồng tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả sau. Nếu có thể gia
hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng này trong hợp đồng tín
dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thoả thuận sau trong quá trình thực hiện
hợp đồng tín dụng. Kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã
được thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời
gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ tiền vay cho tổ chức tín dụng.
2.6. Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Đây là điều khoản mang tính chất thường lệ, các bên có quyền thoả thuận về
biện pháp giải quyết tranh chấp nào. Nếu trong hợp đồng tín dụng không ghi điều
khoản này thì việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tín dụng
3.1. Hình thức
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
11
- Mục đích và nội dung của hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của
pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Với điều kiện này nhằm mục đích bảo vệ lợi
ích chung và trật tự công cộng, tránh sự xâm hại của các bên tham gia hợp đồng chỉ
vì lợi ích riêng của họ. Nội dung của hợp đồng tín dụng được coi là hợp pháp khi
các điều khoản của hợp đồng tín dụng không vi phạm các điều cấm mà pháp luật đã
quy định hoặc không trái với quy tắc và giá trị đạo đức đã được xã hội thừa nhận.
- Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình
đẳng, tự do: một hợp đồng tín dụng được coi là không có sự đồng thuận khi sự thoả
thuận đó giữa các bên bị các khiếm khuyết như sự nhầm lẫn, sự lừa dối, lừa
gạt…khi giao kết hợp đồng. Nhưng các khiếm khuyết này phải có ảnh hưởng mang
tính quyết định đến ý chí giao kết hợp đồng của các bên thì mới được coi là sự kiện
pháp lý làm cho hợp đồng tín dụng vô hiệu.
- Hình thức của hợp đồng tín dụng phù hợp với các quy định của pháp luật
ngân hàng: Điều kiện này được quy định trong các văn bản pháp luật về ngân hàng
nhằm mục đích ngăn ngừa các rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn cho hoạt động
kinh doanh tiền tệ của các tổ chức tín dụng. Theo quy định của pháp luật hiện hành,
hợp đồng tín dụng phải được giao kết bằng văn bản thì mới có hiệu lực pháp lý ràng
buộc giữa các bên.
Về nguyên tắc khi khoản vay được bảo đảm bằng tài sản thì hợp đồng bảo
đảm phải được ký, có hiệu lực trước hoặc cùng với ngày ký hợp đồng tín dụng.
Trường hợp hợp đồng tín dụng được ký trước hợp đồng bảo đảm thì vốn vay được
giải ngân sau khi hợp đồng bảo đảm đã có hiệu lực. Nhưng nhiều hợp đồng tín dụng
đã được ngân hàng và khách hàng thoả thuận “hợp đồng tín dụng này có hiệu lực kể
từ ngày ký hợp đồng bảo đảm hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo đảm được đăng ký
giao dịch bảo đảm. Giao dịch bảo đảm thực chất là hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo
lãnh bằng tài sản, theo đó bên bảo đảm với bên nhận bảo đảm về việc dùng bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự. Do vậy, các cán bộ tín dụng hiểu rằng nếu các bên đã
nhưng mục đích, nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo
đức xã hội, hoặc hợp đồng tín dụng được xác lập một cách giả tạo để che dấu một
giao dịch khác. Hợp đồng bị vô hiệu, các bên không có cơ hội khắc phục các thiếu
sót để làm cho hợp đồng tín dụng có hiệu lực trở lại.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
13
- Hoặc hợp đồng tín dụng vô hiệu một phần: những hợp đồng tín dụng được
các bên ký kết chỉ vi phạm các điều kiện thủ tục như: thiếu dấu của pháp nhân,
không ghi đầy đủ các yếu tố liên quan đến tư cách của các bên; hình thức của hợp
đồng không phù hợp với quy định của pháp luật…Trong trường hợp này các bên có
thể khắc phục những nguyên nhân làm cho hợp đồng tín dụng vô hiệu; để trên cơ sở
đó khiến cho hợp đồng tín dụng có hiệu lực trở lại. Nếu quá thời hạn cho phép mà
các bên không khắc phục được những nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu thì
bên có quyền lợi bị xâm hại có quyền yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng tín dụng vô
hiệu.
Hậu quả pháp lý do hợp đồng tín dụng vô hiệu:
- Không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với các bên ngay từ thời
điểm giao kết.
- Các bên phải phục hồi tình trạng ban đầu như trước khi ký kết hợp đồng tín
dụng. Sau khi hợp đồng tín dụng bị vô hiệu thì các bên phải tự thu xếp hoàn trả lại
cho nhau tất cả những gì đã nhận, đúng như tình trạng ban đầu khi hợp đồng tín
dụng chưa được ký kết.
4. Hợp đồng tín dụng ngoại tệ
- Hợp đồng tín dụng ngoại tệ là hợp đồng được ký kết giữa một bên là ngân
hàng ngoại thương với khách hàng là cá nhân, tổ chức nước ngoài. Hoạt động cấp
tín dụng ngoại tệ là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề vốn trong hoạt
động sản xuất- kinh doanh với các cá nhân, tổ chức nước ngoài. Việc giao kết hợp
đồng tín dụng ngoại tệ nhằm bù đắp, bổ sung phần vốn ngoại tệ tự có trong sản
xuất- kinh doanh.
II. Chế độ pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng
1. Giao kết hợp đồng tín dụng
Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp
vụ- pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định.
1.1. Nguyên tắc giao kết
1.1.1. Hợp đồng tín dụng là loại hợp đồng dân sự nên các bên khi giao kết phải
tuân thủ các nguyên tắc sau
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
15
a. Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể đều có
quyền tham gia giao kết, nếu họ muốn mà không ai có quyền ngăn cản. Bằng ý chí
tự do của mình, các chủ thể có quyền giao kết do pháp luật quy định. Nhưng tự do
của mỗi chủ thể phải “không trái với pháp luật, đạo đức xã hội”. Nằm trong mối
liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi chủ thể vừa có quyền “tự do giao kết
hợp đồng” vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật, đạo đức xã hội.
b. Các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng.
Khi các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp
đồng, thì ý chí tự nguyện của các bên mới thực sự bảo đảm; những hợp đồng được
giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tự nguyện của các bên sẽ không được pháp
luật thừa nhận. Tất cả các hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối
hoặc đe doạ đều là những hợp đồng không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khi
giao kết; vì thế nó bị vô hiệu.
1.1.2. Hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế nên các bên khi giao kết phải tuân
thủ các nguyên tắc sau
a. Nguyên tắc tự nguyện.
Hợp đồng là sự thoả thuận và thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ
hợp đồng, do đó việc giao kết hợp đồng kinh tế phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của
động kinh tế của mình và tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh của bên cùng ký,
nếu không hợp đồng của các bên ký kết sẽ vô hiệu. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan
trọng trong việc bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh doanh, buộc các
chủ thể kinh doanh chỉ được phép hoạt động trong phạm vi đăng ký kinh doanh.
1.1.3. Hợp đồng tín dụng là loại hợp đồng đặc biệt
Do chủ thể tham gia giao kết cũng như đối tượng của hợp đồng có khác biệt
so với các loại hợp đồng khác nên khi giao kết các bên tuân theo nguyên tắc riêng
như sau:
- Nguyên tắc tự do: Thể hiện là tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về quyết
định trong cho vay của mình; không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái
pháp luật vào quyền tự chủ trong quá trình cho vay và thu hồi nợ của tổ chức tín
dụng. Còn đối với khách hàng vay có quyền vay của bất kỳ tổ chức tín dụng nào, có
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
17
thể ký kết với một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, được vay theo thể thức nào cũng
được theo luật định.
- Nguyên tắc vốn vay phải luôn được giá trị vật tư, hàng hoá tương đương làm
bảo đảm: Cơ sở của nguyên tắc này biểu hiện ở chỗ; yêu cầu của quy luật lưu thông
và trong phạm vi của cả nền kinh tế hay trong từng thời điểm cụ thể, khối lượng tiền
tệ trong lưu thông phải tương ứng với giá trị khối lượng hàng hoá trong lưu thông.
Nghĩa là khi cho một tổ chức kinh tế vay vốn, ngân hàng đã đưa một khối lượng
tiền tệ nhất định vào lưu thông; vì vậy, phải có một khối lượng giá trị vật tư, hàng
hoá tương đương làm đảm bảo. Nguyên tắc này đòi hỏi khi vay vốn ngânhàng, phải
có một khối lượng vật tư tương đương thuộc sở hữu của mình để làm đảm bảo cho
vốn vay.
- Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay
đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng: Vốn vay ngân hàng cấp cho
các doanh nghiệp là nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất- kinh doanh. Nhu cầu vay vốn
của các doanh nghiệp phải gắn với mục đích kinh doanh- sản xuất. Để được vay vốn
Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là hành vi pháp lý do một bên
thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện
ý chí mong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng.
1.2.2. Hồ sơ vay vốn
Để được vay vốn bên đi vay phải gửi đến tổ chức tín dụng phục vụ mình các
kế hoạch vay vốn, các hồ sơ tài liệu liên quan đến công trình xin vay vốn. Theo
khoản 1- điều 55- luật tổ chức tín dụng, hồ sơ tín dụng gồm:
- Hợp đồng tín dụng và tài liệu ghi rõ mục đích sử dụng vốn, căn cứ pháp lý về
tài sản bảo đảm (nếu có).
- Báo cáo thực trạng tài chính của khách hàng, của người bảo lãnh.
- Quyết định cấp tín dụng có chữ ký của người có thẩm quyền; trong trường
hợp quyết định tập thể, phải có biên bản, ghi rõ quyết định được thông qua.
- Những tài liệu phát sinh trong quá trình sử dụng khoản vay liên quan đến hợp
đồng tín dụng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
19
Theo Điều 14- quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng, thì :
- Khi có nhu cầu vay vốn khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị
vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn như quy định tại
điều 7 quy chế này. Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính
xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng.
- Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu khách hàng cần gửi cho tổ chức
tín dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loại khách hàng, loại cho vay và
khoản vay.
1.2.3. Thẩm định hồ sơ tín dụng
Hồ sơ tín dụng tốt phải đảm bảo các yếu tố sau: Các thông tin cơ bản về
doanh nghiệp xin vay; thông tin tài chính hiện tại; lịch sử tài chính; thông tin về
như một lời tuyên bố đồng ý giao kết hợp đồng chứ không phải là hành vi pháp lý
làm phát sinh quan hệ hợp đồng giữa các bên và do đó cũng không thể thay thế cho
việc giao kết hợp đồng chính thức giữa các bên. Giao kết hợp đồng chỉ được xem là
hoàn thành khi các bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trực tiếp các
điều khoản của hợp đồng và người đại diện có thẩm quyền của các bên đã trực tiếp
kí tên vào văn bản hợp đồng tín dụng.
2. Thực hiện hợp đồng tín dụng
Thực hiện hợp đồng tín dụng là mục đích của việc giao kết hợp đồng tín
dụng. Đây là giai đoạn quan trọng nhất, bởi lẽ chỉ khi nào hợp đồng tín dụng được
thực hiện nghiêm chỉnh thì quyền và lợi ích hợp pháp của các bên mới được thoả
mãn và bảo đảm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, xuất phát từ nhu cầu
bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, các bên thường quan tâm đặc biệt đến những vấn
đề sau:
- Thoả thuận áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng, trong đó chủ yếu là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cho tổ
chức tín dụng. Thoả thuận này nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên chủ nợ là tổ chức
tín dụng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, nếu bên vay không thực hiện
được nghĩa vụ trả nợ tiền vay khi đến hạn và không được tổ chức tín dụng cho gia
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
21
hạn nợ thì tài sản bảo đảm tiền vay có thể được xử lý theo thoả thuận của các bên
hoặc theo quy định của pháp luật.
- Thoả thuận việc gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Thoả thuận này
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bên vay trong việc xử dụng vốn vay và trên cơ sở
đó giúp bên vay thanh toán nợ cho tổ chứ tín dụng. Trong quá trình thực hiện hợp
đồng tín dụng, đôi khi gặp những khó khăn khiến cho bên vay không có khả năng
thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay đúng hạn. Việc gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn
trả nợ phải được các bên ghi rõ trong hợp đồng tín dụng và coi đó là sự sửa đổi điều
khoản về thời hạn trả nợ tiền vay.
vừa phải bảo đảm thu đủ tiền gốc đã cho vay vừa phải bảo đảm thu đủ tiền lãi vay.
Đây là nguyên tắc áp dụng cho cả ngân hàng và người đi vay. Nguyên tắc này vừa
là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh vừa là cơ sở để các doanh
nghiệp tiến hành hạch toán kinh tế trong hoạt động của mình. Nguyên tắc này buộc
ngân hàng và các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn trong cơ chế khắc nghiệt
của thị trường. Việc thực hiện nguyên tắc này tạo cho ngân hàng thu hồi được vốn
cho vay và lợi nhuận; nguyên tắc này buộc người đi vay phải cân nhắc và hạch toán
nguồn vốn vay ra sao cho việc sử dụng nguồn vốn đó thực sự có hiệu quả, đáp ứng
được mục đích vay vốn.
- Nguyên tắc tránh rủi ro, không dồn vốn cho một số ít tổ chức kinh tế vay:
Trong nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế bình đẳng với nhau về mặt pháp lý. Họ vừa hợp tác với
nhau, vừa cạnh tranh. Hoạt động trong môi trường vừa thuận lợi vừa khắc nghiệt
đó, tất yếu xảy ra hiện tượng là có nhiều doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, phát
triển mạnh, đồng thời cũng sẽ có những doanh nghiệp bị thua lỗ dẫn tới phá sản. Để
thực hiện nguyên tắc tránh rủi ro, ngân hàng phải nghiên cứu kỹ hồ sơ khách hàng
vay vốn, bao gồm khả năng tài chính, tình hình sản xuất- kinh doanh, để hạn chế
đến mức tối thiểu mọi rủi ro đối với các nguồn vốn cho vay. Do kinh doanh tín
dụng là một trong những hoạt động chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro nhất vì vậy để
phòng ngừa và hạn chế rủi ro, hoạt động tín dụng phải thực hiện nguyên tắc tránh
rủi ro.
2.2. Quy trình thực hiện
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
23
2.2.1. Kiểm tra, giám sát khoản vay
Kiểm tra xem mục đích vay vốn có phù hợp với đăng ký kinh doanh hay
không; kiểm tra tính hợp pháp của mục đích vay vốn.
2.2.2.Xử lý rủi ro của các khoản vay có vấn đề
Khoản vay có vấn đề bao gồm khoản vay đã quá hạn và khoản vay tuy chưa
Bảo đảm tiền vay là việc NHNN áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa
rủi ro tạo cơ sở pháp lý và kinh tế để thu hồi nợ đã vay. Tín dụng là một trong
những hoạt động chính, cơ bản mang lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng. Kinh
doanh tín dụng luôn gắn liền rủi ro tín dụng, ngoài việc xác định khả năng thanh
toán của người đi vay thì việc xác định tài sản thế chấp của người đi vay có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng; chính vì vậy, phải có tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng.
Các biện pháp đó là: bảo lãnh; cầm cố giấy tờ có giá, hàng hóa và các tài sản khác;
thế chấp.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ở nước ta được thể hiện
trong văn bản Quy định về việc thế chấp vay vốn ngân hàng ban hành kèm theo
quyết định số 156/1989/QĐ-NH ngày 18-11-1989 của Tổng giám đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam; Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (25-9-1989); Pháp lệnh hợp đồng
dân sự (1-7-1991); Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài ban hành kèm theo
Nghị định số 58/1993/NĐ-CP ngày 30-8-1993 của Chính Phủ; Quy chế bảo lãnh và
tái bảo lãnh ban hành kèm theo quyết định số 23/1994/QĐ-NH14 ngày 21-02-1994
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân
hàng ban hành kèm theo quyết định số 196/1994/QĐ-NH14 ngày 16-9-1994 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Với tư cách là một biện pháp hợp đồng tín dụng ngân hàng, bảo lãnh trong
lĩnh vực tín dụng ngân hàng là việc một tổ chức cá nhân cam kết trả nợ thay cho
người đi vay trong trường hợp người đi vay không có khả năng trả được khoản nợ
vay. Về phía ngân hàng, bảo lãnh là một trong các nghiệp vụ của ngân hàng, là cam
kết của ngân hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm trả tiền thay cho bên được bảo lãnh,
nếu bên được bảo lãnh không thực hiện đúng, đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với bên
yêu cầu bảo lãnh, được quy định cụ thể tại thư bảo lãnh của ngân hàng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bùi Thị Nga Lớp Luật kinh doanh 45
25
Thế chấp tài sản trong quan hệ hợp đồng tín dụng ngân hàng được hiểu là
việc một cá nhân hay pháp nhân dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo