NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRÊ LAI (♂Clarias gariepinus x ♀C. Macrocephalus) - Pdf 11



65

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRÊ LAI
(♂Clarias gariepinus x ♀C. Macrocephalus)
Lê Văn Dân

Trường Đại học Nông Lâm, Đại học HuếTóm tắt. Cá trê lai là loài cá có giá trị kinh tế cao, có tốc độ sinh trưởng nhanh, ít
bị bệnh, ăn tạp, nuôi với mật độ dày và có thể nuôi trong bể xi măng hoặc trong ao.
Với nhiều ưu điểm như vậy, nhưng ở khu vực Bắc miền Trung chưa có nghiên cứu
nào về sản xuất giống đối tượng này để cung cấp cho nhu cầu nuôi của người dân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy LRHa + Dom có hiệu quả kích thích cá trê vàng cái
Việt Nam rụng trứng. Đối với cá trê phi đực không cần sử dụng chất kích thích.
Các kết quả về tỷ lệ thành thục, tỷ lệ rụng trứng, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, năng suất
cá bột và tỷ lệ sống của cá bột lên cá hương đều đáp ứng yêu cầu của sản xuất.
Từ khóa: Cá trê phi đực, cá trê vàng cái Việt Nam, LRHa , Dom, Moina.

1. Đặt vấn đề
Cá trê lai là một trong những loài có giá trị kinh tế cao, chất lượng thịt thơm
ngon và được thị trường trong nước chấp nhận. Cá có tốc độ sinh trưởng nhanh, ít bị
bệnh, có thể chịu đựng tốt với các yếu tố bất lợi của môi trường, nuôi với mật độ dày, ăn
tạp, có thể nuôi trong bể xi măng hoặc trong ao.
Do có những ưu điểm vượt trội, cá trê lai dần trở thành đối tượng nuôi chủ yếu ở
nước ta với sản lượng 80 – 100 tấn/ha/năm. Nhiều mô hình nuôi cá trê lai ở các tỉnh như

2
, độ sâu 1,2m. Cá cái được nuôi vỗ bằng thức ăn công nghiệp CP có mã số 9950-S
(độ đạm: 35%, béo: 5%, xơ: 6%, độ ẩm tối đa 11%), cho ăn 3 - 4% trọng lượng thân/
ngày. Trong quá trình nuôi vỗ điều khiển các yếu tố môi trường nằm trong khoảng thích
hợp. Cá trê phi đực lớn hơn 8 tháng tuổi có trọng lượng lớn hơn 400g được mua tại
Thừa Thiên Huế, lựa chọn cá khỏe mạnh mập có nhiều mỡ, cá được thả nuôi trong bể
chỉ kích thích nước không cho ăn khoảng 2 - 3 tháng.
Chọn cá trê vàng cái có bụng to, mềm, lỗ sinh dục sưng, có màu hồng, trứng cá
có hiện tượng lệch cực. Cá đực có gai sinh dục dài phớt hồng hoặc tím [1]. Chất kích
thích sinh sản được thực hiện với LRHa + Dom, sử dụng với 3 liều khác nhau. Mỗi liều
được lặp lại 3 lần. Cá cái chỉ tiêm 1 lần, cá đực không tiêm. Cá cái sau khi tiêm khoảng
8 đến 9 giờ vuốt trứng vào thau, đồng thời mổ lấy tinh cá đực để tiến hành thụ tinh nhân
tạo. Tỷ lệ đực cái là 1:4 (cá đực và cái có trọng lượng tương đương).
Thời gian hiệu ứng là khoảng thời gian từ khi tiêm đến khi cá rụng trứng đồng
loạt. Các chỉ tiêu khác như tỷ lệ thành thục, tổng nhiệt hiệu ứng, tỷ lệ rụng trứng, tỷ lệ
thụ tinh, tỷ lệ nở, năng suất cá bột, được tính toán theo Nguyễn Tường Anh (2008) và
Fravdin (1969). Các yếu tố môi trường đo bằng các thuốc thử do Thái Lan sản xuất.
Số liệu được xử lý theo phương pháp phân tích phương sai ANOVA qua mô hình
GLM trên phần mềm Minitab Version 15.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Các yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ
Các yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ là những yếu tố cực kỳ quan trọng,
nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian và tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ nên cần theo 67

dõi thường xuyên. Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong thời gian nuôi vỗ
được tổng hợp qua bảng 3.1.
Bảng 3.1. Sự biến động các yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ

7,3 3,0-4,0 4,1
0,10-
0,15
Tháng
8/2011
28,0 – 33,0

30,9 6,6-7,5

7,1 3,5-4,0 4,2
0,10-
0,15
Nhìn chung các yếu tố môi trường: pH, oxy hoà tan và NH
4
+
đều nằm trong
khoảng thích hợp cho sự thành thục của cá trê. Vào tháng 8 do nhiệt khá cao nên tảo
phát triển mạnh, màu nước xanh đậm có hiện tượng tảo tàn, để giải quyết điều này
chúng tôi thường xuyên thêm nước vào ao nuôi.
3.2. Tuổi, trọng lượng và kích thước thành thục lần đầu
Tuỳ thuộc vào từng loài cá trê mà có độ tuổi, trọng lượng và kích thước thành
thục khác nhau. Xác định trọng lượng và kích thước thành thục lần đầu của cá có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình nuôi vỗ.
Chúng tôi tiến hành cân trọng lượng và đo chiều dài cá bố mẹ. Kết quả cụ thể
thu được như sau:
Bảng 3.2. Tuổi, trọng lượng và kích thước thành thục lần đầu
Trọng lượng (g) Chiều dài (cm)
Giới
tính
Số

thành thục, sau 30 ngày nuôi tái phát có 85% cá cái thành thục. Kết quả thành thục của
cá trê cái nuôi chính vụ và tái phát khá cao, điều này khẳng định nguồn cá trê vàng cái
nuôi vỗ ở Thừa Thiên Huế có thể hoàn toàn chủ động để sản xuất giống nhân tạo. Tỷ lệ
thành thục của cá trê phi đực rất cao, dao động 80 -100%.
Bảng 3.3. Tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ
Đực Cái
Ngày kiểm
tra
Số con
kiểm tra
TLTT(%)
Số con
kiểm tra
TLTT(%)
9/7 10 100 20 70
14/7 5 100 42 75
19/7 6 80 6 80
4/8 6 100 6 82
3/8* - - 20 50
14/8* - - 40 85
Ghi chú: * (cá nuôi vỗ tái phát)
3.4. Kết quả sinh sản cá trê lai
Kết quả nghiên cứu về tổng nhiệt hiệu ứng của cá trê vàng cái được thể hiện ở
bảng 3.4.
Bảng 3.4. Thời gian và tổng nhiệt hiệu ứng của cá trê vàng cái
Liều thuốc/kg cá Thời gian hiệu ứng (h) Tổng nhiệt hiệu ứng (
0
h)
40µg LRHa + 2mg Dom 8
h

Tổng
trọng
lượng
(kg)
Liều tiêm
(μgLRHa+
mgDom)
/kg
Tỷ lệ
rụng
trứng
(%)
Thời
gian
hiệu
ứng
(h)
Tỷ lệ
thụ
tinh
(%)
Tỷ lệ
nở
(%)

Năng
suất cá
bột
(vạn/kg)
1A

h
10'
62,7 ±
3,7
a

74,7 ±
2,3
a
1,10
Ghi chú: - Ký hiệu a, b, c trong cùng cột thể hiện sự sai khác với P < 0,05.
- Nhiệt độ nước lúc cá đẻ và ấp là: 31-32
0
C. Tỉ lệ đực : cái là 1:4.
- Cá đực không tiêm
Qua bảng 3.5 cho thấy, khi sử dụng LRHa + Dom làm chất kích thích cho tỷ lệ rụng
trứng cao, dao động từ 88,8 – 100%. Kết quả thu được cho thấy, khi kích thích sinh sản cá
trê vàng cái ở các liều lượng khác nhau trong cùng điều kiện nhiệt độ thì thời gian hiệu ứng,
sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, thời gian nở, tỷ lệ nở và năng suất cá bột là khác nhau.
Thời gian hiệu ứng ở các lô thí nghiệm nhanh nhất ở liều (60μg LRHa+2mg
Dom)/kg và chậm nhất ở liều (40μg LRHa+2mg Dom)/kg. Điều này chứng tỏ liều lượng
thuốc càng cao thì thời gian hiệu ứng càng nhanh. Mặc dù vậy, ta thấy tỷ lệ thụ tinh và
tỷ lệ nở ở liều (60μg LRHa+2mg Dom)/kg không đạt tỷ lệ cao nhất. Điều này xảy ra có
khả năng do liều lượng thuốc cao làm ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm sinh dục.
Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao nhất ở liều (50μg LRHa+2mg Dom)/kg lần lượt là 72,1%
và 83,6% đều cao hơn so với 2 liều còn lại và sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê
(P < 0,05). Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở thấp nhất ở liều (40μg LRHa+2mg Dom)/kg (56,8% 70

DO
(mg/l)
NH
4
+
(mg/l)

Các chỉ tiêu
theo dõi
Dao động
Trung
bình
Dao động Dao động
Dao
động
Từ 6/8 -
30/8/2011
29,0 -
33,5
30,7 6,5 - 7,0 3,5 – 4,5 0 - 0,1
3.5.2. Kết quả ương cá trê lai
Kết quả sau 24 ngày ương bằng cách sử dụng thức ăn theo bảng 3.7 cho kết quả
tỷ lệ sống là 82% và chiều dài là 44,1mm là khá cao. Kết quả này tương đương với công
bố của Đoàn Khắc Độ (2008). 71

Bảng 3.7. Tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá trê lai
Tuổi (ngày) Thức ăn Chiều dài (mm) Tỷ lệ sống (%)


Nuôi vỗ cá bố mẹ
- Cá cái hơn 10 tháng tuổi,
trọng lượng hơn 150g, nuôi
trong ao, cho ăn thức ăn công
nghiệp (Protein>35%)

- Cá không bị xây xát
- Quản lý các yếu tố môi trường
nằm trong khoảng thích hợp

-
Cá đ

c hơn 8 tháng, tr

ng lư

ng
hơn 400g, nuôi trong bể kích
nước không cho ăn
- Mật độ 10 con/m
2Sinh sản nhân tạo
- Chọn cá bố mẹ cho đẻ:
+ Cá đực có gai sinh dục dài nhọn
+ Cá cái bụng to mềm, lỗ hậu môn lồi có màu
hồng, trứng tròn đều và lệch cực


u

- Sục khí; cho dòng nước chảy liên tục
- Sau khi nở 2,5 - 3 ngày, chuyển sang bể để ương
thành cá giống
Ương cá bột lên cá
gi

ng

-
Ương trong b

xi măng;
composite
- Độ sâu 0,3 – 0,5m
- Mật độ ương: 2000con/m
2- Ngày 3-5: ăn Moina, ngày 6-11 ăn giun
nước, ngày 12 -18: giun nước +TACN, 19
-24: TACN

Sau khi ương 24
ngày, cá đạt kích cỡ
44,1mm, tỷ lệ sống
82%.
.

Biology Vol.1(5), (2007), 078 – 081.
5. Elsa Cabrita, Vanesa Robles and Paz Herráez, Methods in Reproductive Aquaculture
Marine and Freshwater Species. CRC Press, Taylor & Francis Group. Boca Raton,
London, New York, 2008.
74

STUDY ON ARTICICIAL REPRODUCTION OF HYBRID CATFISH
( ♂Clarias gariepinus x ♀C. Macrocephalus)
Le Van Dan

College of Agriculture and Forestry, Hue University

Abstract. The hybrid catfish is one of the freshwater fish species having high
economic value, rapid growth, less diseases, omnivorousness and raised with
numerous density in the pond or cement tank. Despite such advantages, there have
been no studies or experiments on the artificial reproduction of this fish species in
order to satisfy the great demands of the local people on raising it. Results from the
study indicated that LRHa + Dom was significantly effective in inducing ovulation
of the yellow female catfish of Vietnam (♀C. Macrocephalus). For the male of
Clarias gariepinus, there is no need to use the gonadotropin. Results of the rate of
matureness, ovulation, fertilization and hatch as well as larvae productivity and
survival rate of raising from larvae to eperian were rather high and quite satisfy the
production requirements.
Keywords: The male of Clarias gariepinus, the yellow female catfish of Vietnam
(♀C. Macrocephalus), LRHa
3
, Dom, Moina.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status