ĐỀ TÀI
“Công nghệ CDW xử lý rác thải sinh
hoạt, qui mô vừa và nhỏ 20-30 tấn
rác/ngày”
Từ 1-5, TP Hồ Chí Minh: Tăng phí rác thải sinh hoạt 21
Công nghệ CD-WASTE
“Công nghệ CDW xử lý rác thải sinh hoạt, qui mô vừa và nhỏ 20-30 tấn rác/ngày”
Công nghệ nầy sẽ góp phần giải quyết các khó khăn cho các thị trấn, thị tứ, … xa nơi bố trí các
bãi rác xử lý tập trung, các địa phương có địa bàn phức tạp, khó thu gom và tập trung. rác thải.
Hạn chế lưu tồn rác thải lâu 2-3 ngày, làm phát sinh mùi hôi, nước rỉ rác từ sự phân hủy yếm khí,
thủy phân các chất thải hữu cơ, hình thành dạng keo dính bết các thành phần rác thải, gây trở
ngại cho việc phân loại và xử lý.
Công nghệ xử lý rác thải CDW là một giải pháp quản lý chất thải qui mô vừa và nhỏ, gắn liền
trách nhiệm của các Tổ, đội vệ sinh môi trường và các chủ nguồn thải. Là phương tiện để thực
hiện chủ trương “Xã hội hóa” trong lỉnh vực quản lý và bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, công nghệ CDW còn có nhiều tính mới về kỷ thuật, thiết kế và bố trí dây chuyền thiết
bị tinh, gọn, chắc chắn. Liên kết nhiều loại thiết bị trong không gian hình tháp kín, ít tốn diện
tích, hạn chế phát tán ô nhiễm. Giảm khoảng cách an toàn để có thể bố trí địa bàn xây dựng, lắp
đặt gần nguồn phát sinh rác thải, tiết kiệm chi phí vận chuyển. Tính cơ động cao, có thể di dời,
giải quyêt nhanh các tình trạng khẩn cấp về an ninh rác thải tại những thời điểm nóng ở những
khu vực nhạy cảm. Vốn đầu tư không quá cao, thu hút nhiều thành phần kinh tế đầu tư vào lỉnh
vực quản 1ý và xử lý môi trường.
Tóm tắt công nghệ
Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt CDW qui mô vừa và nhỏ là một sự kết hợp giữa phương pháp
quản lý và xử lý chất thải ngay ở gần nguồn thải của từng khu vực dân cư. Với một số đặc điểm
như sau:
• Xã hội hóa trong giải pháp thu gom, vận chuyển có định hướng. Tạo mối quan hệ hữu cơ giữa
chủ nguồn thải và đơn vị thu gom, xử lý rác thải.
• Kết hợp thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trong một tổ chức môi trường (doanh
nghiệp tư nhân hay nhà nước) với qui mô vừa và nhỏ. Rút ngắn cự ly giữa các điểm tập kết đến
khu xử lý. Hạn chế phát tán ô nhiễm và chi phí vận chuyển rác thải.
3. Nguyên lý xử lý và tái chế các phế liệu thu hồi từ rác thải :
Từ nguyên liệu là rác thải sinh hoạt, qua tiến trình phân loại và xử lý, tạo ra các sản phẩm như
sau :
Nguyên lý xử lý và tài nguyên hóa phế liệu thu hồi từ rác thải
Giới thiệu vài nét về Công nghệ MBT-CD.08
Công nghệ MBT- CD.08 là một công nghệ xử lý rác thải thành nhiên liệu, được nghiên cứu và
chế tạo trong nước. Xử lý chất thải rắn sinh hoạt của Việt Nam, chưa qua phân loại đầu nguồn,
hạn chế chôn lấp. Sản phẩm được sử dụng trong dân dụng và công nghiệp.
Công nghệ MBT-CD.08:
• Có tính linh hoạt cao, tạo ra nhiều lựa chọn sản phẩm tái chế từ các nguyên liệu trong rác thải .
Có thể dùng sản xuất phân bón hữu cơ, sản xuất nhiên liệu dân dụng tái tạo từ các chất thải hữu
cơ và nhiên liệu công nghiệp từ các chất thải hỗn hợp, nhiều thành phần khác.
• Công nghệ thiết bị gọn, phân khu chức năng rõ ràng cho từng công đoạn xử lý, dễ quản lý và
vận hành, bảo trì thiết bị.
• Đơn giản hóa khâu phân loại
• Tận thu các phế thải kim loại và nylon để tái chế riêng( tái chế tại nhà máy có chức năng suất
xử lý lớn hay cung cấp cho các cơ sở chuyên nghiệp đối với nhà máy có năng suất nhỏ.
• Các sản phẩm hình thành từ việc xử lý rác thải đều có thị trường tiêu thụ ổn định tại các địa
phương (đối với các nhà máy sản xuất nhỏ ) hay sử dụng vận hành nhà máy phát điện (nhà máy
năng suất lớn) đáp ứng nhu cầu về điện cho các tiểu vùng của địa phương.
• Công nghệ và thiết bị được nghiên cứu và chế tạo tại Việt Nam theo dạng module đáp ứng cho
các nhu cầu xử lý rác thải từ nhỏ nhất cho các vùng dân cư xa (20->50 tấn/ngày) đến các nhu cầu
lớn tại các tỉnh thành phố (500->1000 tấn/ngày). Phù hợp với tính chất, thành phần rác thải hỗn
tạp tại Việt Nam. Để nâng cao năng suất xử lý khi cần thiết .
• Chi phí đầu tư và vận hành thấp. Sản xuất thu hồi và tái tạo sau xử lý có chất lượng cao và
được thị trường chấp nhận. Nhanh thu hồi vốn
• Sử dụng công nghệ MBT-CD.08 sẽ giống như một dự án CDM, giảm phát thải khí gây hiệu
ứng nhà kính(chủ yếu là khí CH4, dễ dàng thông qua các ngân hàng carbon và có thêm thu nhập
bằng việc bán chứng chỉ carbon.
trường của nhà máy xử lý rác. Tổng vốn đầu tư của nhà máy hơn 35 tỷ đồng, trong đó Chính phủ
Đan Mạch tài trợ hơn 52%, còn lại là vốn đối ứng của Ngân sách tỉnh, Thị xã Sông Công và
Công ty TNHH Thuỷ lực máy. Ngoài ra Chính quyền địa phương và nhân dân còn đóng góp gần
20 tỷ đồng để xây dựng 7 km đường và giải phóng mặt bằng cho khu vực nhà máy.
Thay mặt lãnh đạo Bộ Xây dựng Bộ trưởng Nguyễn Hồng Quân đã biểu dưỡng sự nỗ lực
cố gắng của Sở Xây dựng Tỉnh Thái Nguyên với vai trò là chủ đầu tư công trình đã thực hiện dự
án đảm bảo tiến độ, chất lượng và hiệu quả, cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Lãnh đạo
tỉnh Thái Nguyên và Thị xã Sông Công, sự tích cực tham gia của UBND xã Tân Quang và cộng
đồng dân cư đã góp phần vào sự thành công của dự án. Bộ trưởng cũng khẳng định những thành
côcng ban đầu của dự án là bài học kinh nghiệm quan trọng để phát triển và nhân rộng mô hình
này trong cả nước, phù hợp với đặc thù và điều kiện mỗi địa phương.
Nhà máy xử lý và tái chế rác thải Thị xã Sông Công được đưa vào sử dụng sẽ mang lại lợi
ích về kinh tế , xã hội và môi trường, đáp ứng yêu cầu cấp bách hiện nay về xử lý ô nhiễm môi
trường cho Thị xã Sông Công và các khu vực xung quanh của Thành phố Thái Nguyên, cải thiện
môi trường xanh, sạch đẹp cho đô thị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân trên địa
bàn Thị xã Sông Công.
Sở Kế hoạch và Đầu tư Thái Nguyên
Hà Nội sắp hết chỗ chôn rác 04/04/2011
Nếu không quyết liệt triển khai kết quả dự án thí điểm phân loại rác tại nguồn 3R, sớm
đưa vào vận hành nhà máy xử lý rác quy mô lớn đầu tiên của Hà Nội ở Sóc Sơn, và áp
dụng các công nghệ tiêu thụ rác thành sản phẩm hàng hoá, v.v…, chỉ hai năm nữa Hà Nội
sẽ không biết đổ rác đi đâu.
Rác thiếu ý thức ngày càng lắm
Bất chấp Hà Nội được mở rộng thành thủ đô lớn thứ ba thế giới, quỹ đất dành cho chôn lấp rác
Hà Nội được xác định cũng đã hết, hầu như không mở rộng thêm được chỗ nào ngoài các bãi rác
hiện hành của Hà Nội cũ và Hà Tây cũ cộng lại.
Xe ủi hoạt động trên các núi rác ở Nam Sơn giờ không còn chuyện hiếm
Cách duy nhất trong vòng 10-20 năm tới để đối phó với nguy cơ này là thực hiện phân loại rác
tại nguồn hay, nói cách khác, nâng cao ý thức của người xả rác.
“Nếu tất cả rác ở Hà Nội được phân loại từ nguồn, các bãi rác hiện hành của Hà Nội sẽ kéo dài
Rờ rẫm 3R
“Phân loại tại nguồn, tái chế, tái sử dụng tiếp tục bất cập, xã hội hoá quản lý chất thải rắn vẫn ở
tình trạng manh mún, khiến tỷ lệ chôn lấp chất thải rắn ở Hà Nội quá lớn”, GS.TSKH Phạm
Ngọc Đăng, Giám đốc Trung tâm Môi trường Đô thị&Công nghiệp Hà Nội, nói.
Hà Nội từng tuyên truyền rất nhiều dự án phân loại rác tại nguồn (3R) do Cơ quan Hợp tác Quốc
tế Nhật Bản (JICA) tài trợ. Dự án bốn triệu USD được triển khai thí điểm trên tại bốn phường
của nội thành Hà Nội gồm Phan Chu Trinh, Nguyễn Du, Thành Công và Láng Hạ. Từ năm 2006
đến hết năm 2009 ,18.000 gia đình được huấn luyện cách phân loại rác tại nguồn. Từ năm 2008,
cùng với dự án 3R, URENCO phát cho mỗi gia đình hai thùng rác và hướng dẫn họ phân loại rác
tại nguồn.
Lợi ích của 3R được nói rất lắm tại rất nhiều hội thảo. Tại hội thảo mới đây nhất ngày 30-3 ở Hà
Nội về đề tài này, một lần nữa, người ta lại khẳng định chi phí cho vận chuyển rác tương đương
với việc áp dụng 3R nhưng việc phân loại tốt tiết kiệm được diện tích chôn lấp, đảm bảo vệ sinh
môi trường.
Một lần nữa, đại diện nhà tài trợ, ông Tadashi Suzuki, Văn phòng JICA, nói triển khai 3R là lối
thoát khả thi cho Hà Nội trước nguy cơ hết chỗ chôn lấp với hàng loạt lợi thế như giảm khối
lượng rác thải tạo ra tại nguồn, tiết kiệm không gian chôn lấp, tái chế rác như một nguồn nguyên
liệu, ngăn chặn suy thoái môi trường.
Dự án còn tạo cảm hứng cho việc thành lập Câu Lạc bộ 3R Hà Nội, với các tình nguyện viên đa
số còn rất trẻ. Họ, học sinh, sinh viên, chia làm nhiều nhóm kết hợp với các công nhân thu gom
đi hướng dẫn người dân đổ rác đúng nơi quy định.
Hoàng Thị Lan Chi, Chủ nhiệm Câu Lạc bộ 3R Hà Nội, chia sẻ sự chuyển đổi nhận thức của
mình: “Phân loại rác tại nguồn sẽ góp phần giảm thiểu lượng rác thải mang đi chôn lấp ở các bãi
rác và một lượng rác thải hữu cơ còn được chế biến thành phân hữu cơ”.…
Thế nhưng tại sao khi dự án chấm dứt, các chuyển biến về nhận thức và hành vi ấy gần như cũng
đi theo luôn dự án, thay vì được cộng hưởng sang các khu dân cư khác?
Chỉ biết Câu Lạc bộ 3R Hà Nội vẫn duy trì các hoạt động hướng dẫn nhân dân phân loai rác tại
nguồn.
“Thời gian qua, việc đổ rác ra đường đã giảm, đường phố đã sạch hơn” như đại diện URENCO
nói, v.v… Nhưng một con nhạn như thế không thể làm nổi mùa xuân. 15.400 gia đình tại bảy
thành. Các doanh nghiệp khác chịu trách nhiệm thu gom, vận
chuyển tại khu vực các huyện ngoại thành Hà Nội.
Bản thân URENCO mỗi ngày cũng thu được từ 60 – 70 tấn rác hữu
cơ (đã được phân loại) chuyển về nhà máy xử lý rác Cầu Diễn để xử
lý thành phân hữu cơ và bán thành hàng hoá.
Từ rác thải, Trung tâm Nghiên cứu&Chuyển giao Công nghệ Môi
trường đã nghiên cứu thành công công nghệ biến chúng thành gạch
và bê tông với giá rẻ hơn nhưng chất lượng tương đương gạch và bê
tông thương phẩm. Trung tâm còn dùng rác làm bê tông và đã được
thử nghiệm chịu tải đáp ứng tiêu chuẩn Việt Nam. TS. Nguyễn
Quang Thái, Cục Hạ Tầng Cơ sở, Bộ Xây dựng, nhận định: “Sáng
chế này có giá trị cao về kinh tế và có tính thực tiễn cao”.
Tuy nhiên, công nghệ làm gạch và bê tông từ rác, đến nay, vẫn dừng
ở quy mô rất khiêm tốn. Rộng hơn, các hoạt động tiêu thụ rác ấy, từ
tự phát của những lao động chân lấm tay bùn đến hoạt động quy mô
của doanh nghiệp và sáng kiến của nhà khoa học, không hiểu sao
vẫn chỉ dừng ở quy mô rất nhỏ so với lượng rác thải hằng ngày.
Trong khi chưa có bất cứ cơ chế tài chính đủ mạnh nào để khuyến
khích tái chế, quay vòng rác, chưa tìm thêm chỗ chon lấp rác mới,
lượng rác không xử lý và lượng rác thải thêm ngày càng nhiều, gia
tăng chóng mặt sau mỗi tháng, thậm chí, mỗi tuần, đại diện
URENCO – đơn vị vận chuyển rác lớn nhất thủ đô, nhận định.
XỬ LÝ RÁC THẢI Ở HÀ NỘI: MÃI KHÔNG LỰA CHỌN ĐƯỢC CÔNG NGHỆ
Bản in Gửi cho bạn bè Quay lại
Xử lý rác thải ở Hà Nội: Mãi không lựa chọn được công nghệ (16/07/2010)
Xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt đang là vấn đề cấp bách và bức xúc đối với các địa
phương, đặc biệt là Hà Nội. Hiện tại, hầu hết rác của thành phố đều sử dụng biện pháp
chôn lấp chất thải. Tuy nhiên, có tới 85-90% các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, có nguy
cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Khó khăn chậm trễ trong quá trình xử lý rác thải ở Hà
Nội có rất nhiều nguyên nhân; nhưng nguyên nhân vô lý nhất là: chậm vì phải chờ các
thôn, thì có 167 hố chôn lấp rác, chỉ vì lý do duy nhất: Ai cũng sợ bẩn! Và chuyện cả
huyện thành “bãi rác” âu cũng là điều dễ hiểu.
Chậm không phải vì thiếu vốn
Chuyện xử lý rác thải theo hướng nào, vẫn là đề tài “nóng” trong rất nhiều các diễn đàn
của Hà Nội. Thành phố vừa ban hành quyết định hỗ trợ toàn bộ kinh phí cho tất cả các
huyện thuộc địa bàn xây dựng khu chôn lấp rác thải cho chính địa phương mình, dù đây là
chủ trương đúng nhưng cũng ít được người dân tán thành. Anh Nguyễn Mạnh Dũng ở
Thường Tín chia sẻ: Nhà tôi gần khu chôn lấp rác thải nên tôi hiểu tại sao tại nhiều địa
phương người dân ngăn cản, thậm chí chống đối chính quyền vì “biến” địa phương mình
thành nơi tập kết rác. Bởi, dù rác có được chôn lấp, thì ô nhiễm vẫn hoàn ô nhiễm. Thế
nhưng, Hà Nội đã sắp tròn 1000 năm tuổi, nhưng mỗi vấn đề ô nhiễm vì rác thải mà vẫn
phải loay hoay tìm giải pháp. Nhiều người dân băn khoăn “phải chăng Hà Nội đang thiếu
nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực này”. Nếu vậy, khâu thu hút đầu tư của thành phố quá
kém? Mang câu hỏi ấy đến gặp Giám đốc Sở Tài nguyên- Môi trường Hà Nội, ông Vũ
Văn Hậu cho rằng: Hà Nội không thiếu nguồn lực cũng như các nhà đầu tư trong lĩnh vực
này, khó khăn không nằm ở việc thiếu vốn, mà Hà Nội đang lựa chọn loại công nghệ nào
cho thích hợp với điều kiện thực tế của Thủ đô”. Ông Hậu còn khẳng định: “Chúng tôi
vẫn đang trong giai đoạn lựa chọn công nghệ”, có thể là đốt rác hay ép rác tóm lại cần
tìm mô hình xử lý rác thông minh, vừa đảm bảo vệ sinh môi trường, nhưng đồng thời
cũng phải phù hợp với Hà Nội.
Thế chẳng hoá ra, vấn đề ô nhiễm môi trường vì rác thải vẫn chưa được giải quyết triệt để,
chậm trễ lại nằm ở phía các nhà quản lý, hoạch định chính sách?
Theo KTĐT
Ì ạch các dự án xử lý rác
Thứ Ba, 19.4.2011 | 10:35 (GMT + 7)
Thực ra, ngay từ năm 2009, Hà Nội đã nhìn thấy nguy cơ hết chỗ đổ rác và đưa ra nhiều
giải pháp, trong đó có việc mở rộng các bãi rác Nam Sơn và Xuân Sơn, xây dựng các nhà
máy (NM) chế biến rác. Tuy nhiên, công việc triển khai vẫn đang rất ì ạch.
Hà Nội sắp hết chỗ đổ rác
90% rác được xử lý bằng chôn lấp
công thu gom, vận chuyển,
diện tích chôn lấp.
Mới đây JICA Việt Nam cũng đưa cảnh báo, đến năm 2012, các bãi rác ở Hà Nội sẽ bị lấp đầy,
không còn năng lực để xử lý. Nếu không có những biện pháp kịp thời người dân Hà Nội sẽ
không còn chỗ đổ rác. Một chuyên gia trong lĩnh vực MT tính toán, chỉ cần các bãi rác đóng cửa,
sau 3 ngày, cả Hà Nội sẽ ngập ngụa vì rác.
Chỗ đổ rác đang là vấn đề cấp thiết của Hà Nội.
Ông Hòa xác nhận, thời điểm này bãi rác Nam Sơn, bãi rác thải lớn nhất TP, gánh gần như toàn
bộ rác của các quận nội thành đã kín chỗ và gần như chắc chắn vào năm 2012 sẽ bị lấp đầy hoàn
toàn, không còn khả năng tiếp nhận rác để xử lý.
Ông Hòa cho biết: “Không còn chỗ chôn lấp rác, chúng tôi phải tiến hành hạ cốt nền và chất rác
cao lên để vận hành bãi rác nhằm duy trì việc tiếp nhận rác thải của TP”. Trong khi bãi rác Nam
Sơn gần hết chỗ chôn lấp, thì khả năng “chia lửa” từ các bãi rác khác trên địa bàn là rất ít nếu
không muốn nói là không có. Theo ông Nguyễn Văn Lưỡng, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ MT
Hà Nội, bãi rác Xuân Sơn cũng đang trong cảnh hết quỹ đất chôn lấp, bãi rác Núi Thoong thì đã
dừng hoạt động do gặp sự cố và phục vụ quá trình xây dựng một NM xử lý rác trong khi các bãi
rác Kiêu Kỵ, Tả Thanh Oai… chỉ gánh được lượng rác tại các tiểu khu vực vùng ngoại thành mà
thôi.
Đụng đâu cũng khó
Ông Phạm Văn Khánh, Phó giám đốc Sở TN-MT Hà Nội cho
biết, DA mở rộng bãi rác Xuân Sơn và Nam Sơn đã được phê
duyệt, đang trong quá trình triển khai thực hiện, dự kiến trong
năm 2012 sẽ có thể tiếp nhận một lượng rác nhất định.
Tuy nhiên, trao đổi với phóng viên ông Hà Thanh Tùng, Trưởng phòng Kế hoạch, BQL DA hạ
tầng đô thị (Sở Xây dựng Hà Nội) cho biết, DA giai đoạn 2 bãi rác Nam Sơn đã được phê duyệt
với diện tích 140 ha nhưng đến thời điểm này vẫn đang trong quá trình thực hiện công tác chuẩn
bị đầu tư.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện DA vẫn đang trong quá trình nghiên cứu đánh giá về tác động
MT; các nhà khoa học đang nghiên cứu để đóng góp ý kiến trên cơ sở tài liệu của BQL DA hạ
xóm cho việc mở rộng bãi rác.
Ông Vũ Tuấn Lực, Trưởng
thôn Xuân Thịnh, cho hay, từ
nhiều năm nay, gần 100 hộ
dân thôn ông đã nhiều lần làm
đơn kiến nghị xin nhường lại
đất để mở rộng bãi rác, và
được chuyển đi nơi khác sinh
sống. Tuy nhiên, cấp lãnh đạo
chỉ đồng ý đền bù tiền công
trình di chuyển, nhưng không
đền bù tiền đất, cũng như cấp
đất nơi ở mới.
Một số vấn đề về chi phí xử lý rác thải sinh hoạt
14/04/2011 11:51
•
•
•
•
•
Quản lý chất thải rắn đang trở thành vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay do lượng chất thải
rắn ngày càng gia tăng, trong khi năng lực thu gom và xử lý chất thải rắn còn rất nhiều bất
cập.
Về mô hình tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị: Rác được gom từ các ngõ,
hẻm, trên phố đưa về vị trí tập kết để đưa lên xe ô tô vận chuyển đến địa điểm xử lý. Việc thu
gom và vận chuyển rác được thực hiện bởi các Cty TNHH Nhà nước một thành viên môi trường
đô thị, Cty TNHH hoặc HTX môi trường đô thị.
Viên đốt, sản phẩm của dây chuyền xử lý rác thải công nghệ MBT-CD.08.
Về các công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị được xử lý theo các công nghệ chủ yếu sau: Chôn lấp
rác là phương pháp xử lý rác phổ biến nhất. Hiện nay tại mỗi đô thị từ loại IV trở lên có ít nhất 1
là 115 - 142 nghìnđồng/tấn.ngày; chi phí chôn lấp rác có tính đến thu hồi vốn đầu tư là 219 - 286
nghìn đồng/tấn/ngày. Chi phí chế biến rác thành phân vi sinh công suất xử lý dưới 150.000
tấn/ngày là 290 - 270 nghìn đồng/tấn/ngày. Chi phí chế biến thành viên viên đốt bao gồm chi phí
đầu tư ban đầu, chi phí năng lượng, nguyên liệu xử lý, một số khoản chi phí khác có liên quan từ
270 - 230 nghìn đồng/tấn.ngày.
Từ kết quả nghiên cứu chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải đô thị, Nhà nước cần xem
xét, đánh giá, kiểm nghiệm các công nghệ xử lý đã thực hiện để khẳng định loại công nghệ xử lý
không phải chôn lấp có ưu điểm nổi trội để khuyến khích áp dụng. Mặt khác, cũng cần tăng
cường nghiên cứu, đánh giá các công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị đã thực hiện trên thế giới
nhưng phải phù hợp với đặc điểm rác thải cũng như công nghệ thu gom rác của nước ta để tiến
hành chuyển giao ứng dụng tại Việt Nam. Việc phân bổ kế hoạch vốn hàng năm cần tính đến
nguồn vốn đủ cho việc xử lý chất thải rắn đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật môi trường. Đơn giá cho
công tác xử lý chất thải rắn phải đảm bảo đáp ứng yêu cầu thu hồi vốn đầu tư. Chi phí xử lý chất
thải rắn chịu sự ảnh hưởng rất lớn của cự ly vận chuyển rác đến cơ sở chế biến. Vì vậy, trong qui
hoạch các cơ sở xử lý chất thải rắn cũng như phê duyệt các dự án đầu tư xử lý chất thải rắn theo
công nghệ không chôn lấp cần lựa chọn những địa điểm gần đô thị để giảm chi phí vận chuyển
rác. Thủ tục để cho vay ưu đãi về vay vốn cho đầu tư xử lý chất thải rắn cần phải đơn giản,
nhanh chóng để thu hút khu vực kinh tế tư nhân đầu tư. Quá trình kiểm tra, quản lý việc thực
hiện hợp đồng xử lý rác cần phải giám sát chặt chẽ về công nghệ xử lý, các sản phẩm của quá
trình xử lý và các điều kiện về môi trường.
TS Trần Hồng Mai
Viện trưởng Viện Kinh tế Xây dựng.
Từ 1-5, TP Hồ Chí Minh: Tăng phí rác thải
sinh hoạt
Theo www.sggp.org.vn - 2 năm trước 2009
* Năm 2008, chi 1.000 tỷ đồng ngân sách để vận chuyển và xử lý rác thải
Đó là kết luận của Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Trung Tín tại cuộc họp với các
quận huyện và sở ban ngành liên quan về việc tăng mức thu phí rác thải diễn ra ngày 9-4.
Theo đó, tuỳ vào đối tượng cụ thể mà phí rác thải sẽ có mức từ 10.000 đồng đến hơn
100.000 đồng/tháng.
Thu phí: Phải có tư cách pháp nhân
Về đơn vị đi thu phí sẽ do UBND phường, xã, các công ty dịch vụ công ích, đơn vị trúng thầu,
đơn vị có tư cách pháp nhân khác đảm trách. Các đơn vị này sẽ xác định khối lượng và định mức
phí cho từng chủ nguồn thải theo biểu giá quy định. Tuy nhiên, tuỳ theo tình hình thực tế tại địa
phương mà UBND quận huyện cho phép các đơn vị thực hiện thu phí tự trích giữ lại 5% -
10%/tổng mức phí rác thải thu được, phần còn lại nộp vào ngân sách nhà nước.
Liên quan đến việc triển khai đề xuất trên của Sở Tài nguyên và Môi trường, nhiều quận huyện
vẫn rất băn khoăn. Trong đó, chủ yếu tập trung vào việc làm thế nào để đưa lực lượng rác dân
lập vào các tổ chức có quản lý.
Đại diện quận 10 cho biết, hiện hơn 1/2 khối lượng rác trên địa bàn quận do lực lượng rác dân
lập đảm trách. Họ tự thu rác, tiền của hộ dân ở các hẻm rồi đổ vào điểm tập kết rác. Bản thân họ
không phải trả tiền vận chuyển cũng như xử lý rác. Nhưng làm thế nào để quản lý được lực
lượng này, đưa họ vào tổ chức quản lý là rất khó. Còn bắt họ đóng tiền cho ngân sách nhà nước
để bù đắp các chi phí vận chuyển, xử lý rác thì cần thiết phải có biện pháp mạnh. Nếu không rất
khó khả thi.
Đại diện UBND quận Tân Phú cho rằng, cần phải phân biệt rõ đối tượng thuộc cơ sở kinh doanh.
Có những cơ sở kinh doanh nhưng không phát sinh chất thải như cửa hàng bán điện thoại di
động, quần áo, tạp hoá… thì áp dụng mức phí khoảng 60.000 đồng/tháng là chưa hợp lý. Riêng
đại diện quận Thủ Đức thì cho rằng mức thu phí 10.000 đồng/hộ dân trong đường hẻm ở ngoại
thành là quá lạc hậu, cần thiết phải tăng lên mức 15.000 đồng/hộ…
Về vấn đề trên, Phó Chủ tịch UBND TPHCM đã khẳng định, việc thống nhất tăng phí và đơn vị
quản lý thu phí là rất cần thiết. Hiện mỗi năm thành phố phải chi hơn 1.000 tỷ đồng để bù vào
chi phí vận chuyển và xử lý rác. Trong khi đó, khối lượng rác thải vẫn tiếp tục tăng. Thành phố
không thể mãi sử dụng ngân sách để chi cho vấn đề này. Do đó, Phó Chủ tịch UBND TPHCM
Nguyễn Trung Tín đề nghị các quận huyện nhanh chóng chuẩn bị, bắt đầu từ ngày 1-5-2009
chính thức triển khai mức thu phí rác thải mới này.
Phó Chủ tịch cũng đồng ý với đề xuất của sở cho phép các đơn vị thực hiện thu phí tự trích giữ
lại 5% - 10%/tổng mức phí rác thải thu được, phần còn lại nộp vào ngân sách nhà nước; giao các