PHẠM HỒ HẢI & NGUYỄN THỊ MÙI – Chế biến, bảo quản rơm
1
CHẾ BIẾN, BẢO QUẢN RƠM BẰNG PHƯƠNG PHÁP (BÁNH/KIỆN) ĐỂ SỬ DỤNG
NUÔI BÒ THỊT TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Phạm Hồ Hải, Nguyễn Thị Mùi và Lê Hà Châu
Bộ môn Dinh dưỡng, thức ăn chăn nuôi và đống cỏ
Viện Chăn Nuôi – Thụy Phương – Từ Liêm – Hà Nội
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Mùi – Bộ Môn dinh dưỡng, Thức ăn và Đồng cỏ
Viện Chăn nuôi -Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội
Tel: (04) 38.386.130; Fax: (04) 38.389.775; Email:
ABSTRACT
Treating, reserving rice straw by bales technique and use it for feeding cattle in Mekong River Delta
The study was carried out at three places: (i) Lieu Tu commune, Long Phu district, Soc Trang province; (ii)
Research Centre for Agriculture in Dong Thap Muoi and in Long An province from 01/07/2006 to 31/12/2007.
The results showed that: in the Lab, all of treatments for improving quality of rice straw appeared to be good in
colour, smell and nutrition components. However two treatments, the CT2 and CT4, were promising for treating
fresh rice straw. For dry rice straw, the CT8 treatment could be applied for practice. The combination of dry rice
straw with dry high protein foliage or legume (CT10) was easily processing in the production. At the prese nt
practice, suitable procedure for producing rice straw bales is a machine with capacity of 5 tonnes/day and
working by a group with 4 labours. Rice straw bale products have size of 60 x 40 x 50 cm and the weight was 25
kg. The price for producing 1 kg of product (including collecting rice straw and processing without
transportation) was ranged from 616 to 689 VND. Using machine for tie the bales resulted in reducing the losses
during transportation. After processing, rice straw product was keft in normal condition until 60 days without
effect on quality and colour. Replacing 50% fresh grasses by treated rice straw bales and storing after 2 months
in the diet for fattening cattle improved live weight gain and saved 30% of feed cost compared to control diet of
grasses and concentrate. Research result should be introduced into practices for making better use of by -products
as ruminant feeds
Key words: Rice straw, treatment, urea, processing, procedure, price, feeding, cattle
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rơm lúa được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi trâu bò ở các nước nhiệt đới. Ở Thái Lan,
75% rơm lúa rẫy và 82% rơm lúa nước dùng cho chăn nuôi trâu bò (Wanapat, 1990);
Rơm khô (ẩm độ khoảng 10-15%).
Rơm tươi sau thu hoạch (ẩm độ 40-50%)
1. Xử lý hoá học
1. Xử lý hoá học
CT 7
Ủ rơm với 4% urê + 30% nước,
CT 1
2% urê, 10% nước
CT 8
Ủ rơm với 4% urê + 50% nước
CT 2
2% urê, 20% nước
CT 9
Ủ rơm với 4% urê + 80% nước,
CT 3
4% urê, 10% nước
CT 4
4% urê, 20% nước
2. Phối hợp với cây giầu đạm và cỏ họ đậu
2. Xử lý sinh học
CT 10
Sử dụng 2 loại:
(i) Cây trà lá lớn và (ii) Dây lá đậu
CT 5
Men lactic với tỷ lệ 0,5% + 0,5%
muối ăn (NaCl) + 3% cám gạo
-
-
CT 6
Men lactic với tỷ lệ 0,5% + 1% muối
nghiệp
Bảo quản
sản phẩm
sau chế
biến
Xây dựng
mô hình
hoàn thiện
QT
Sản xuất
thử và
TN nuôi
gia súc
Hội thảo
đánh giá
kết quả
SX hàng
hoá
PHẠM HỒ HẢI & NGUYỄN THỊ MÙI – Chế biến, bảo quản rơm
3
Cải tiến thiết bị và công nghệ ép bánh rơm theo hướng công nghiệp: Thay đổi một số chi
tiết máy từ t/khảo ý kiến chuyên gia nhằm gia tăng khối lượng (KL) rơm đóng bánh; Bổ sung
các thiết bị hỗ trợ cho quá trình (QT) vận hành thiết bị; thử nghiệm qui trình (SX) rơm tươi.
Quy trình: Thu gom rơm ngoài đồng > phơi khô (sản xuất rơm khô); phun, tưới urê theo tỷ
lệ 2%, 4% + 20% nước (rơm tươi) > ép khối, trọng lượng 25-30 kg/khối (rơm khô); 45-50
kg/khối (rơm tươi), buột chặt bằng dây đai > cho vào bao ny lon (2 khối rơm/bao), bao gai
phía ngoài, may miệng bao (rơm tươi) > dự trữ ở nhiệt độ bình thường
Đánh giá chất lượng sản phẩm sau khi chế biến, bảo quản: (i) Cảm quan: màu sắc, mùi, độ
ẩm của 2 nghiệm thức 2% và 4% theo các thời điểm 7-10 ngày; 45 ngày và 60 ngày của rơm
không ủ và rơm ủ urê 2% và 4%, (ii) Đánh giá chất lượng (CL) bằng phương pháp (PP) lấy
Đối với 02 CT ủ men, đều cho gía trị DD khá tốt so với rơm tươi, HL đạm thô và khoáng
tăng, xơ thô lại giảm. Có lẽ, do quá trình lên men của vi khuẩn (VK) lactic đã phân hủy xơ
thành các dưỡng chất khác.
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 15-Tháng 12-2008
4
Bảng 2. Giá trị dinh dưỡng của rơm tươi sau khi xử lý ở mức độ phòng thí nghiệm
(%/DM)
TT
Công thức
DM (%)
CP
CF
Ash
1
Rơm tươi
34,50
4,02
33,10
14,75
2
CT 1 – sau 10 ngày ủ
32,87
9,01
33,27
13,40
3
CT 1 – 30 ngày ủ
48,60
8,26
34,00
13,97
9
CT 3 - 30 ngày ủ
45,80
9,01
33,60
14,50
10
CT 3 - 60 ngày ủ
35,20
14,40
36,30
14,80
11
CT 4 - 10 ngày ủ
32,27
9,51
34,17
13,33
12
CT 4 - 30 ngày ủ
45,80
10,10
34,50
14,70
13
CT 4 - 60 ngày ủ
33,20
11,40
48,10
17,00
19
CT 6 - 60 ngày ủ
42,50
10,30
27,70
16,40
Tuy nhiên, CT này sẽ khó thực hiện trong SX do quá trình ủ phức tạp và trong thời gian dự
trữ rất dễ bị chuột phá hoại do lượng cám trong rơm, 02 công thức này có thể thích hợp việc
sử dụng tại chỗ không phải vận chuyển
Bảng 3. Giá trị dinh dưỡng của rơm khô sau xử lý.
(%/DM)
T
T
Công thức
DM (%)
CP
CF
Ash
1
Rơm khô
82,70
5,38
29,60
14,20
2
CT 7 – 10 ngày ủ
79,80
9,74
33,60
16,30
Đối với rơm khô: Số liệu Bảng 3 cho chúng ta thấy, CT 7 tỏ ra thích hợp trong đk thực tiễn
SX vì sau 60 ngày bảo quản HL đạm thô đạt 12,1% và VCK xấp xỉ 70% đây là giá trị lý
tưởng cho gia súc. CT10 chỉ dựa trên cơ sở tính toán lý thuyết mà không lấy mẫu phân tích và
bằng nhận xét cảm quan, CT này phù hợp với đk SX và dễ dàng vận chuyễn và bảo quản
Ứng dụng kết quả phòng thí nghiệm vào dây chuyền sản xuất rơm đóng bánh/kiện tại
địa phương - Phương án thu gom rơm lúa/nguyên liệu ngoài đồng ruộng
PHẠM HỒ HẢI & NGUYỄN THỊ MÙI – Chế biến, bảo quản rơm
5
Bảng 4. Khó khăn, thuận lợi và giá thành thu gom nguyên liệu rơm lúa từ đồng ruộng
Thu gom trực tiếp từ nông dân
Khoán gọn cho người trung gian thu gom rơm đến
nơi đóng bánh
Giá mua vào 250.000 đồng/ha
Ưu điểm/thuận lợi dễ dàng thu mua với
SL lớn; giá cả hợp lý; chủ động được
nguồn nguyên liệu; CL rơm đồng nhất
Hạn chế: chí phí lao động cho thu gom
vận chuyển, phơi, phóng cao; diện tích
sân, bãi lớn; thời gian SX ngắn không
kéo dài
Giá mua vào 400.000-500.000 đồng/tấn rơm khô
Ưu điểm/thuận lợi: Tiết kiệm được lao động,
không đòi hỏi diện tích sân, bãi nhiều; bộ phận
quản lý tinh, gọn, nhẹ.
Hạn chế: không chủ động được nguồn nguyên
liệu; chất lượng rơm không đồng nhất; Tỷ lệ hao
hụt cao.
Mua và vận hành trang thiết bị đóng bánh.
Ưu điểm
tăng gấp đôi (28-30kg). Chính điều này đã nâng KN SX rơm khô đóng bánh của thiết bị này
lến 7-8 tấn/ngày, cao hơn so công suất TK 1,1-1,2 lẫn mà không thay đổi QT (Hình 1). Với
cải tiến trên và từ KQ phòng TN, chúng tôi đã SX rơm tươi ủ với urê theo CT2, CT4. Kết quả
theo dõi màu sắc, mùi và hiện tượng mốc của rơm lúa tươi; rơm lúa (Bảng 5)
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 15-Tháng 12-2008
6
Bảng 5: Đánh giá cảm quan mẫu ủ ở thời điểm sau khi ủ
Nghiệm thức
Màu sắc
Mùi
Lượng nước
Nấm mốc
Rơm tươi
Rơm xử lý: 2%ure
Rơm xử lý 4% ure
Nâu
Vàng sẫm
Vàng sẫm
Thối ít
Amoniac nhẹ
Amoniac nồng
Nước nhiều
Nước ít
Nước ít
Mốc trắng
Ít mốc trắng
Không có mốc trắng
Về màu sắc, rơm ủ ure nói chung có màu vàng sẫm, có mùi hắc nồng đặc trưng của amoniac
rất mạnh, còn rơm không ủ có màu nâu đen, có mùi ẩm mốc. Kết quả khẳng định, ure trong
QT ủ đã giải phóng amoniac và amoniac này có tác dụng tốt trong việc ức chế nấm mốc phát
16,04±0,93
b
34,80±0,52
15,74±0,61
4
Ủ 2% urê sau 21 ngày
20,12±0,52
a
16,06±1,00
b
33,97±0,96
16,22±0,43
5
Ủ 2% urê sau 30 ngày
21,43±0,95
a
15,84±0,18
b
32,52±0,33
16,24±0,81
6
Ủ 2% urê sau 45 ngày
23,49±0,92
b
16,64±0,28
b
32,39±0,47
16,30±0,63
7
Ủ 2% urê sau 60 ngày
11
Ủ 4% urê sau 30 ngày
21,03±0,92
a
16,84±0,12
b
33,10±0,93
16,17±0,22
12
Ủ 4% urê sau 45 ngày
20,23±1,73
a
16,94±0,08
b
33,14±1,21
16,15±0,79
13
Ủ 4% urê sau 60 ngày
24,33±1,58
b
16,88±0,79
b
32,28±1,56
16,09±0,69
Theo cột dọc, các chử cái khác nhau sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Quan sát ở các thời điểm 14, 21, 30, 45, 60 ngày tiếp theo: Lô đối chứng (100% rơm tươi)
lượng nước tiếp tục tăng, mùi thối tăng lên, màu sắc chuyển màu nâu đen. Các lô còn lại:
lượng nước tăng không nhiều, chưa nhũn nát, mùi amoniac tăng lên nhiều theo lượng ure bổ
sung vào, màu sắc không đổi, chưa có mốc trắng. Đối với CT 2% urê có hiện tượng bị mốc
trắng sau 45 ngày ủ. Kết quả này tương tự như Nguyễn Xuân Trạch, (2005). Cho rằng mẫu ủ
4
Công ép rơm thành khối (tính cho 1 tấn rơm khô), Công
0,8-0,9
70-80
5
N/iệu chạy máy (4 giờ, SX 3-4 tấn rơm đóng bánh), Lít
5-6
45-54
6
Dây buột (1 tấn rơm đóng bánh), Kg
1-2
40-50
7
Mua rơm tại ruộng, Tấn
1
250-300
8
Đạm urea, kg/tấn
20
56-60
Cộng
616-689
Ghi chú : (*) NS rơm 4-5 tấn/ha; (**): Giá tính thời điểm 04/2007
Giá thành SX rơm bao gồm các chi phí sau (tính cho 1 tấn rơm thành phẩm) trình bày ở Bảng
7, theo hình thức thuê khoán gọn (2) giá thành cho 1kg rơm 476-515đ/kg. Trong khi đó nếu
thuê mướn toàn bộ (1) thì giá thành 1kg rơm SX tại chỗ từ 616-689đ/kg. Giá này thay đổi tùy
theo mùa vụ và công lao động tại các địa phương với mức 15%. Công vận chuyển tính toán
bằng 20% đến 25% so với vân chuyển rơm thô chưa chế biến từ Sóc trăng về TP.HCM.
Sử dụng sản phẩm rơm sau chế biến đến khả năng sinh trưởng của bò thịt
Bảng 8. Khẩu phần và giá trị dinh dương của khẩu phần
Tổng vật chất khô (DM)
Kg
3,35
3,58
3,66
Tổng năng lượng (ME)
Mcal
6,41
7,10
7,22
Tổng protein thô (CP)
Gam
365,1
482,3
490,7
Bảng 8 cho thấy, mức năng lượng KP đạt từ 6.41-7.22 Mcal, HL protein thô từ 365-490gam,
phù hợp với TC NRC, 2000 cho bò sinh trưởng với mức tăng trọng BQ 300-500 g/con/ngày.
Bảng 9. Kết quả trọng lượng và tăng trọng bò thí nghiệm
Khẩu phần
Chỉ tiêu
T1
T2
T3
SE
P
P đầu thí nghiệm, kg/con
125
127
124
1,74
11,77
b
1,3
0,02
Tiêu tốn NL thức ăn, Mcal/kgP
40,6
23,4
22,2
-
-
Chi phí thức ăn, đ/kgP*
23,164,6
16,897,7
15,969,2
-
-
Các chử cái khác nhau sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0.05) * Giá được ước tính vào cuối tháng 12/2007.
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 15-Tháng 12-2008
8
Với KP trên mức tăng trọng BQ của bò 3 tháng thấp nhất là KP T1 đạt 158gam/con/ngày; ở
T2 đạt 303gam/con/ngày và cao nhất là ở T3 đạt 325 gam/con/ngày (P<0,05). Tiêu tốn năng
lượng trao đổi cho 1 kg tăng trọng cao nhất là ở T1 (40.6 Mcal/KgP), kế đến là T2 23.4
Mcal/kgP và thấp nhất là ở T3 chỉ có 22.2 Mcal/kgP (Bảng 9). Kết quả cho thấy, chi phí thức
ăn cho 1kg tăng trọng, thấp nhất là T3 (15.969 đ/kgP), sau là T2 là 16.897 đ/kgP và cao nhất
là T1 23.164 đ/kgP. Như vậy, sử dụng bánh rơm ủ urê trong KP nuôi sinh trưởng bê, sẽ cải
thiện tăng trọng, làm giảm chi phí thức ăn; đây là một hướng mở ra cho khả năng PT chăn
nuôi bò ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận: Ở qui mô Phòng thí nghiệm, hầu hết các CT xử lý rơm tươi và rơm khô đều cho kết
quả khá tốt về mặt cảm quan và giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên, CT2 (2% urê, 20% nước) và
Saadulah, M. and Siriwardene, J.A. de S. 1993. Reasons for success and failure of straw treatment and straw
feeding in Bangladesh and Sri Lanka. In: Singh, K. and Schiere, J.B. (eds.). Feeding of Ruminants on
Fibrous Crop Residues. Proceedings, International Workshop. National Dairy Research Institute. Karnal
(India). 4-8 February 1991. IARC, Delhi (India). Pp. 277-288.
Wanapat M, 1990. Nutritional Aspects of Ruminant production in Southeast Asia with special Reference to
Thailand. University of Khon Kaen, Thailand.
* Người phản biện: TS. Đỗ Viết Minh; TS. Đinh Văn Tuyền