TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ RỦI RO MÔI TRƯỜNG
ĐỀ BÀI: TÌM HIỂU VỀ PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN SỬ DỤNG
TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn: THS. ĐINH BÁCH KHOA
Nhóm sinh viên thực hiện: Ngô Thị Việt Anh - QLMT K50
Nguyễn Thị Oanh - CNMT K50
Đoàn Bảo Châu - CNMT K50
Phùng Thị Điệp - CNMT K50
Đỗ Công Tùng - CNMT K50
Hµ néi - 10/2008
- 1 -
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………… 2
Phần 1 : Giới thiệu tổng quát
I/ Giới thiệu về ĐTM………………………………………………….. 4
1/ Sự ra đời và phát triển của ĐTM…………………………………... 4
2/ Nguyên tắc tổng quát trong quy trình làm ĐTM…………………... 6
3/ Một số định nghĩa về ĐTM……………………………………….. 9
II/ Đánh giá môi trường bằng phương pháp ma trận…………………..12
Phần 2 : Dự án ĐTM trong nhà máy dệ nhuộm tại công ty TNHH
Panko Bình Dương
I/ Công nghiệp dệt nhuộm……………………………………………..16
1/ Xuất xứ của dự án………………………………………………….16
2/ Cơ quan tổ chức có thẩm quyền phê duyệt……………………….. 16
3/ Đặc điểm của ngành công nghiệp dệt nhuộm…………………….. 16
II/ Các tác động từ quá trình triển khai và xây dựng dự án…………….20
1/ Tác động tới môi trường tự nhiên………………………………….20
thực sự trở thành một yêu cầu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
ở Việt Nam với ý nghĩa là một công cụ xử lý một cách tích cực mối quan hệ giữa
phát triển và bảo vệ môi trường.
Bản tiểu luận dưới đây trình bày sơ lược về lịch sử phát triển ĐTM. Tiếp đó
trình bày bảng ĐTM theo phương pháp ma trận thực hiện cho dự án xây dựng nhà
máy dệt nhuộm tại công ty TNHH Panko Vina tỉnh Bình Dương.
- 3 -
Phần I: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
I/ Giới thiệu về ĐTM
1 / Sự ra đời và phát triển của ĐTM
Những hoạt động của con người đã gây ra các nguồn ô nhiễm không khí
chính: giao thông, công nghiệp, hoạt động đô thị, khai thác hầm mỏ và rất nhiều
thứ khác. Để có thể kiểm soát những hoạt động này nhằm giảm sự ô nhiễm, rất cần
thiết phát triển luật pháp và các quy tắc ban đầu là để cấm các hoạt động với
những ảnh hưởng lớn đến môi trường, thứ hai là để đưa ra một dạng dự báo ảnh
hưởng một dự án có thể có đối với môi trường, bằng cách so sánh những ảnh
hưởng này với những tiêu chuẩn không khí. Đây chính là lý ro đánh giá tác động
môi trường (ĐTM) ra đời. Đó là một quá trình bao gồm định nghĩa, dự đoán, đánh
giá và giảm nhẹ những ảnh hưởng sinh hoạt, xã hội và các khía cạnh liên quan của
những hoạt động vì mục đích phát triển , từ đó đưa ra quyết định và cam kết. Mục
đích của ĐTM là cung cấp cho các nhà ra quyết định những tư liệu khoa học cần
thiết về những hậu quả môi trường của quá trình ra quyết định. Trước khi có
những khái niệm cụ thể về ĐTM, việc đưa ra quyết định đối với các hoạt đông
phát triển thường dựa vào việc phát triển tính khả thi, hợp lý, tối ưu các nhân tố
kinh tế, kỹ thuật, các nhân tố về môi trường bị bỏ qua hoặc không chú ý đúng mực
do không có các công cụ phát triển thích hợp. Thực tế ở trong quá khứ đã có rất
nhiều những dự án lớn gặp phải khó khăn vì không xem xét đầu đủ mối quan hệ
với môi trường xung quanh, một số dự án được coi là không bền vững vì làm suy
thoái thiên nhiên, một số khác bị đinh chỉ do phát sinh những mặt chi không được
dự tính trước. Do đó việc đảm bảo việc bảo vệ môi trường được quan tâm và kết
đánh giá tác động môi trường cần bảo đảm giảm những ảnh ưởng có hại đến tự
nhiên, việc đánh giá tự nhiên cần bao gồm những yếu tố cơ bản của tất cả các kế
hoạch và được công bố và thảo luận công khai. Chương trình quốc tế về môi
trường (UNEP) đã tuân theo quy định này, thiết lập một hội đồng ĐTM cấp cao và
đưa ra những hướng dẫn chung, kiểm tra những tiêu chuẩn và mẫu, và đến năm
1987 đưa ra “ Mục đích và quy tắc của Đánh giá tác động môi trường”. 13 quy tắc
này tạo điều kiện giới thiệu hệ thống ĐTM ở những nước thành viên cũng như
đẩy mạnh sự phát triển của các thủ tục ĐTM quốc tế trong trường hợp một số
nước muốn mở rộng ranh giới ảnh hưởng đến các nước khác. Năm 1987, Hiệp
đồng thế giới về môi trường và phát triển đã đưa ra bản báo cáo (thường được biết
đến như báo cáo Bruntland). Nó đã nhấn mạnh vai trò của ĐTM trong việc đẩy
mạnh phát triển bền vững. Nó cũng chỉ ra: “khi một dự án có ảnh hưởng lến đến
môi trường, cần xem xét kỹ lưỡng ý kiến của cộng đồng, và quyết được cần được
cồng đồng phê chuẩn, có thể bằng một cuộc trưng cầu ý dân”.
- 5 -
Điều luật 17 của Tuyên bố Rio 1992 về môi trường và phát triển là về ĐTM:
“Đánh giá tác động môi trường, như một công cụ quốc gia, cần phải đám trách cho
những hoạt động có thể có những ảnh hưởng có hại tới môi trường và là một phần
của quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
2/ Nguyên tắc tổng quát trong quy trình làm ĐTM
a/Những dự án nào cần có ĐTM?
Bất cứ dụ án nào có thể ảnh hưởng vào môi trường đều cần phải có ĐTM. Để
cụ thể, luật môi trường mỗi nước thường cho danh sách những loại dự án cần làm
ĐTM ( cộng đồng Âu châu có hai danh sách, danh sách I cho các công trình
"nguy hiểm" luôn luôn phải làm ĐTM (nhà máy lọc dầu, nhà máy điện, nhà máy
hóa học...), danh sách II cho các loại công trình khác làm hay không tùy trường
hợp (quy mô to hay nhỏ, vị trí công trình, ...) . Luật Môi trường Việt Nam 2006
quy định chủ các dự án sau đây phải lập Báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường:
a) Dự án công trình quan trọng quốc gia;
b) Dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu
trường hay bộ nào khác có thẩm quyền về dự án) thẩm định, những dự án có tầm
cỡ địa phương thì do chính quyền tỉnh thẩm định.
Dân chúng trong vùng bị ảnh hưởng phải có quyền đọc và góp ý về ĐTM. Do
đó, cần có một phần trong ĐTM để tóm tắt những luận điểm chính, bằng ngôn ngữ
thường ngày, không dùng những ngôn ngữ kỹ thuật hay luật pháp mà chỉ có
chuyên viên hay luật sư mới hiểu được. Phần ngôn ngữ thường ngày này là một
khoản tối quan trọng của ĐTM Sự tham dự của công chúng trong lộ trình đánh giá
tác dụng vào môi trường là một điều tối cần, vì chính họ là một thành phần của
môi trường. Ngoài ra nó cũng ngăn ngừa kiểu làm lấy lệ hay tham nhũng trong
việc cứu xét ảnh hưởng môi trường của dự án.
e/ Cấu trúc ĐTM
Tùy luật các nước có những đòi hỏi chi tiết hơi khác nhau về ĐTM nhưng
những điểm chính thì không có gì khác biệt và đều có những phần sau đây:
(1) Dự án và những lựa chọn: Mục đích, các chi tiết kỹ thuật cụ thể của công
trình (chẳng hạn nếu là nhà máy thì sẽ có những bộ phận gì, dùng vật liệu
gì, tiêu bao nhiêu năng lượng, dùng bao nhiêu công nhân, mặt bàn ra
sao, ....). Ngoài ra, cần cho biết những lựa chọn khác và so sánh chúng với
dự án hiện tại. Chẳng hạn, nếu dự án là xây một cái cầu treo qua sông thì
cần phải kể ra đầy đủ những biện pháp khác như xây kiểu cầu khác, hoặc
xây ở chỗ khác, hoặc không xây cầu mà dùng phà, v.v. và cho biết tại sao
không dùng những biện pháp đó. "Không làm gì" cũng là một biện pháp, và
do đó cũng phải giải thích tại sao nên phát triển dự án này thay vì không làm
gì, nếu không làm thì lợi và hại ra sao. Những so sánh này cần phải khách
quan và khoa học chứ không được "một chiều" theo kiểu luật sư bào chữa
cho thân chủ.
- 7 -
(2) Khung cảnh môi trường nền của dự án: tả rõ môi trường có thể bị ảnh
hưởng. Đây không phải chỉ là môi trường thiên nhiên thường chiếm một mà
còn cả môi trường con người: cảnh quan, văn hóa, di tích lịch sử, xã hội (đời
sống xã hội của dân chúng, giải trí), kinh tế (công ăn việc làm, lợi tức cho
ảnh hưởng lên thiên nhiên, cảnh quan sẽ rất là quan trọng. Nếu xây phi trường thì
vấn đề tiếng ồn và giao thông sẽ quan trọng. Nếu xây trong thành phố cổ như Huế
hay Hà nội thì di tích lịch sử cần được chú ý. Xây trong khu đông dân cư thì ảnh
hưởng vào cư dân cần chú ý.
f/ Vai trò của công chúng
- 8 -
Vì dân chúng là những người bị ảnh hưởng nhiều nhất về phương diện môi
trường, nên một trong những nguyên tác căn bản trong luật môi trường quốc tế là
công chúng vùng ảnh hưởng phải có cơ hội bàn luận và bày tỏ ý kiến, và chủ dự án
phải tích cực tìm hiểu ý kiến của dân chúng. Nguyên tắc này được ghi rõ ràng
trong các tài liệu và luật lệ của Hội Đánh Giá Tác động Môi Trường Quốc Tế
3/ Một số định nghĩa về ĐTM
a/ Theo tổ chức hớp tác và phát triển kinh tế ( OECD)
“ Tuyên bố về chính sách môi trường” của OECD năm 1974 là tài liệu quốc tế
thống nhất đầu tiên về ĐTM. Tuyên bố này là những hoạt động tiếp nối Hội thảo
của Liên hiệp quốc về Môi trường con người 1972. Nó đã xác định phương hướng
cho luật pháp môi trường ở những nước thành viên OECD.
Năm 1983 một nhóm đặc biệt “ Uỷ ban Ad Hoc vè đánh giá môi trường và hỗ
trợ phát triển” được lập ra dưới Uỷ ban môi trường để kiểm tra các quá trình
ĐTM, phương pháp và cách tiến hành trong khi vẫn giữ quan hệ gần với Uỷ ban
hỗ trợ phát triển (DAC).
b/ Theo cộng đồng các nước châu Âu - EU
Chỉ thị của EU liên quan đến ĐTM được đưa ra năm 1985. Chỉ thị này đòi hỏi
một định nghĩa về ĐTM rõ ràng để thực thi đối với những dự án với ảnh hưởng
môi trường quan trọng và những nước thành viên. Hệ thống ĐTM được giới thiệu
chính thức năm 1988. Từ 1985, sự cung cấp ĐTM ở các nước EU đã được tiến
hành tập trung ở các nước thành viên.
Sau đó, do những khác biệt trong cách thức tiến hành đánh giá của các nước,
một dự luật đã được xem xét lại vào tháng 12 năm 1995 trong cuộc gặp thượng
đỉnh các bộ trưởng bộ Môi trưởng. Dự luật này đã có hiệu lực vào tháng 1 năm
những phần tiếp theo cũng được bổ sung như một nghị quyết. “Để đảm bảo việc
đánh giá môi trường được đặt lên hàng đầu trong việc lập kế hoạch và làm luật,
nghiên cứu về đánh giá môi trường chiến lược cần được thực hiện và cần có những
cân nhắc cụ thể để thiết lập hệ thống đánh giá môi trường chiến lược một cách
linh hoạt, dựa trên xu hướng quốc tế và tình hình Nhật Bản.
Sự phát triển của ĐTM
Trước
1970
- Xem xét dự án dựa trên phân tích kỹ thuật và kinh tế
- Xem xét có giới hạn đến những hậu quả về mặt môi trường.
Nửa giữa
1970s
- NEPA giới thiệu ĐTM năm 1970 ở Hoa Kỳ
- Những nguyên tắc cơ bản: hướng dẫn, các quá trình bao gồm sự
yêu cầu tham gia của cộng đồng
- Những phương pháp luận căn bản cho phân tích ảnh hưởng
được phát triển (vd: ma trận, mạng lưới)
- Canada, Australia và New Zealand trở thành những nước đầu
tiên theo NEPA năm 1973 – 1974
- 10 -