LỜI NÓI ĐẦU
Chăn nuôi là một ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, cung cấp cho
con nguời và xã hội về thực phẩm và mục đích khác. Là một ngành luôn
chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.
Cùng với sự phát triển của nó, chăn nuôi sẽ ngày phải phát triển cho đến
nay vẫn cha có ngành nào thay thế đù¬c nó trong việc sản xuất và cung cấp
thực phẩm.
Trong xu hướng phát triển của nền nông nghiệp, ngành trồng trót sẽ
giảm dần và ngành chăn nuôi sẽ tăng lên cả về quy mô lẫn tỷ trọng bởi vì:
- Xu hướng phát triển của xã hội loài nguời so với sản phẩm của ngành
trồng trọt, các sản phẩm của ngành chăn nuôi sẽ đuợc tiêu thụ nhiều hơn.
- Là ngành có giá trị kinh tế cao hơn ngành trồng trọt, nó sẽ có khả năng
tích luỹ vốn cho phát triển kinh tế xã hội nông thôn.
Trên tinh thần đó, việc xem xét và tim ra những uu điểm và hạn chế để
phát triển ngành chăn nuôi ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là cần thiết. Vì
lẽ đó đề tài “Một số giải pháp &phát triển trang trại chăn nuôi bò thịt ở
nước ta giai đoạn 2007-2015’ ’được xác lập.
Mục đích nghiên cứu đề tài là: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ
bản phát triển kinh tÕ trang traị chăn nuôi . Phân tích thực trạng phát triển
chăn nuôi bò ở níc ta,chỉ ra những phơng hớng và giải pháp để phát triển
chăn nuôi bò ở nước ta phát triển lên.
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương chính.
Chương I: Cơ sở lý luận chung về kinh tế trang trại và kinh tế trang trại
chăn nuôi .
Chương II: Thực trạng vµ c¬ héi phát triển chăn nuôi bò thÞt ë ViÖt Nam
200-2007
Chương III: Mục tiêu và giải pháp thực hiện phát triển chăn nuôi bò thịt.
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này em xin chân thành cảm ơn Vụ Nông
Nghiệp thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, cảm ơn các đơn vị phòng ban trực
thuộc Vụ Nông nghiệp đã giúp đỡ thông tin cần thiết để em hoàn thành đề tài
này.
+ Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông
nghiệp ở tất cả các nớc, thờng do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản
xuất kinh doanh của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể
sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ t liệu sản xuất
(ruộng đất, công cụ sản xuất, vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần
hoặc toàn bộ t liệu sản xuất trên.
+ Trang trại t bản t nhân là loại hình trang tr¹i nông nghiệp ít phổ biến ở
các nớc, đến nay số lợng không nhiều thờng là các trang trại t bản t nhân,
công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động làm thuê kể
cả lao động sản xuất và lao động quản lý.
- Trang trại thờng có các qui mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn ) song song
tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình…Trang trại
thờng có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong
và ngoài nông nghiệp, với phơng thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên
môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau.
Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm,
ng nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, t liệu sản xuất thuộc
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập. Sản xuất đợc tiến hành
trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đợc tập trung tơng đối lớn, với
cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao: hoạt động tự chủ
và luôn gắn với thị trờng.
b. Khái niệm về kinh tế trang trại:
- Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá, phát sinh
và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho nền kinh tế tiểu
nông tự cấp tự túc.
- Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt
động sản xuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: các hoạt động trớc và sau
sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các
trang trại thuộc các ngành, nông, lâm, ng nghiệp ở các vùng kinh tế khác
nhau.
cầm…Đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt
động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi. Bao gồm các hoạt
động trớc và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là
hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp
hoá, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình
công nghiệp hoá từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng nh
trình độ sản xuất, qui mô và năng lực sản xuất đáp ứng đợc nhu cầu sản phẩm
hàng hoá nh thịt, trứng, sữa… trên thị trờng, phù hợp với sự phát triển kinh tế
thị trờng hiện nay.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh
tế trang trại nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp,
khác với các nghành sản xuất khác: Lâm nghiệp hay Thuỷ sản phụ thuộc
nhiều vào điều kiện đất đai, khí tợng và thời tiết nh đối với chăn nuôi đó chỉ là
những ảnh hởng tác động đến vật nuôi, nó phụ chính vào điều kiện chăm sóc,
nuôi dìng của các trang trại. Sản phẩm của chăn nuôi nó phục vụ trực tiếp
nhu cầu tiêu dùng của đại đa số nguời dân trong cả nớc.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là sự phát triển tất yếu của qui luật sản xuất
hàng hoá , trong điều kiện kinh tế thị trờng, xuất phát từ nhu cầu thị trờng, do
vậy các yếu tố đầu vào nh vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ, cũng
nh các sản phẩm đầu ra nh thịt, trứng, sữa đều là hàng hoá.
Vậy có thể đúc kết lại khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi nó là một
hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp với mục đích chủ yếu là
sản xuất hàng hoá nh: thịt, trứng, sữa…Với qui mô đất đai, các yếu tố sản
xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, có tổ chức và quản lý tiến bộ, có hạch
toán kinh tế nh các doanh nghiệp.
2. Bản chất của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại chăn
nuôi nói riêng.
a. Bản chất của trang trại nói chung.
- Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trực tiếp sản
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng đợc phát triển rất sớm, nhng với qui
mô nhỏ, tỷ trọng hàng hoá cha cao cho nên hàng hoá cung ứng ra thị trờng
còn ít.
- Cho đến hiện nay thì kinh tế trang trại chăn nuôi đã phát triển cả về qui
mô số lợng, tỷ trọng hàng hoá cao, nhưng tập chung chủ yếu ở các vùng đồng
bằng; đối với các khu vực trung du niềm núi phía bắc thì còn cha phát triển
nhiều tuy nhiên đã có một số trang trại chăn nuôi sản xuất kinh doanh khá
hiệu quả .
II. Vai trò , đặc trng của kinh tế trang trại:
1- Vai trò của kinh tế trang trại:
- Phát triển kinh tế trang trại có vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân
nó có tác động lớn về kinh tế, xã hội và môi trờng.
- Vì nó là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền sản
xuất hàng hoá. Vì vậy nó có vai trò rất lớn trong việc sản xuất lơng thực, thực
phẩm cung cấp cho xã hội.
- Trang trại là tế bào quan trọng để phát triển nông nghiệp nông thôn,
thực hiện sự phân công lao động xã hội trong điều kiện nớc ta chuyển từ sản
xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá.
- Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại có vai trò cực kỳ to lớn đ-
ợc biểu hiện :
+ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm
năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phơng thức sản xuất chủ
yếu. Vì vậy nó cho phép huy động khai thác, đất đai sức lao động và nguồn
lực khác một cách đầy đủ , hợp lý và có hiệu quả. Nhờ vậy nó góp phần thúc
đẩy tăng trởng và phát triển kinh tế trong nông nghiệp nông thôn nói riêng và
phát triển kinh tế xã hội nói chung.
+ Trang trại với kết quả và hiệu quả sản xuất cao, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hoá cao,
khắc phục dần tình trạng manh mún tạo vùng chuyên môn hoá cao, đẩy nhanh
nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá.
của kinh tế trang trại khác với kinh tế tiểu nông…Ngời chủ trang trại sản xuất
và bán tất cả các sản phẩm của họ làm ra và mua vào tất cả kể cả thóc giống,
còn ngời tiểu nông sản xuất và tự tiêu thụ hầu hết các sản phẩm làm ra mua,
bán càng ít càng tốt, cho đến nay trải qua hàng thế kỷ phát triển kinh tế trang
trại đã chứng minh đặc trng cơ bản cuả kinh tế trang trại là sản xuất nông sản.
Hàng hoá theo nhu cầu của thị trờng, tỷ xuất hàng hoá đạt từ 70 đến 80% trở
lên, tỷ xuất hàng hoá càng cao, càng thể hiện đợc bản chất và trình độ phát
triển của kinh tế trang trại. Khác với kinh tế tiểu nông… Là sản xuất tự túc
theo nhu cầu của gia đình nông dân.
- Chủ trang trại là chủ thể kinh tế cá thể (bao gồm kinh tế gia đình và
kinh tế tiểu chủ) nắm một phần quyền sở hữu và toàn bộ quyền sử dụng đối
với ruộng đất, t liệu sản xuất, vốn và sản phẩm làm ra.
- Kinh tế trang trại sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
của thời kỳ công nghiệp hoá, nên mọi hoạt động đều xuất phát từ nhu cầu thị
trờng nông sản trong và ngoài nớc. Vì vậy tất cả các yếu tố đầu vào của kinh
tế trang trại (đất đai, lao động, vốn khoa học, công nghệ) cũng như yếu tố đầu
ra (nông sản thô, sản phẩm chế biến) đều là hàng hoá.
- Do đặc trng của sản xuất hàng hoá chi phối đòi hỏi phải tạo ưu thế cạnh
tranh trong sản xuất kinh doanh, để thực hiện yêu cầu tái sản xuất mở rộng,
hoạt động của kinh tế trang trại được thực hiện theo xu thế tập trung tích tụ
sản xuất ngày càng cao, tiến đến qui mô tối ưu của trang trại phù hợp với từng
ngành sản xuất, từng vùng kinh tế, từng thời kỳ công nghiệp hoá, tạo ra tỷ
xuất hàng hoá cao, khối lượng hàng hoá nhiều, chất lượng hàng hoá tốt và giá
thành hạ. Đi đôi với việc tập trung, nâng cao năng lực sản xuất của từng trang
trại còn diễn ra xu thế tập trung, các trang trại thành những vùng sản xuất
hàng hoá chuyên môn hoá về từng loại sản phẩm như lương thực, trái cây,thịt,
trứng, sữa …Với khối lợng hàng hoá lớn .
- Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau trong đó trang trại gia
đình là phổ biến, có những đặc trưng là rất linh hoạt trong tổ chức hoạt động
vì có thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn
được thị trường cần những sản phẩm gì, số lượng bao nhiêu, chất lượng và
chủng loại, giá cả và thời điểm cung cấp như thế nào… Nếu chủ trang trại
không có những thông tin về các vấn đề trên, hoạt động kinh doanh sẽ không
có hiệu quả. Vì vậy tiếp cận thị trường là yêu cầu cấp thiết đối với các trang
trại nói chung, chủ trang trại nói riêng.
b- đặc trưng của kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng:
Trên cơ sở khái niệm về kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại
chăn nuôi nói riêng mà chúng ta đi vào tìm hiểu đặc trưng kinh tế trang trại
chăn nuôi được thể hiện qua những điểm sau:
- Kinh tế trang trại chăn nuôi có đặc trưng là sản xuất sản phẩm hàng hoá
mà sản phẩm nó là các loại thịt, trứng, sữa… đáp ứng được nhu cầu của thị tr-
ờng, như vậy để đáp ứng được nhu cầu của thị trờng thì quy mô trang trại
chăn nuôi phải ở mức độ tương đối lớn, khác biệt với hộ gia đình.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi sản xuất các sản phẩm thịt, trứng, sữa…
trong điều kiện kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá nên mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh đều xuất phát nhu cầu thị trường. Chính vì vậy tất cả các
yếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ… cũng như các
yếu tố đầu ra như sản phẩm thịt, trứng , sữa… đều là sản phẩm hàng hoá.
- Do đặc trưng sản xuất hàng hoá ngành chăn nuôi chi phối mà phải đòi
hỏi tạo ra ưu thế cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, để thực hiện yêu
cầu tái sản xuất mở rộng, hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi theo xu thế
tích tụ, tập trung sản xuất kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ xuất hàng hoá cao,
khối lượng hàng hoá ngày càng nhiều, chất lượng tốt. Đi đôi với việc tập
trung, nâng cao năng lực sản xuất của từng trang trại còn diễn ra xu thế tập
trung các trang trại thành các vùng chuyên môn hoá về từng loại như vùng
chuyên canh nuôi đại gia súc như: trâu, bò …vùng thì chuyên môn hoá nuôi
lợn nái sinh sản, lợn thịt, sữa với mục đích tạo ra khối lượng hàng hoá lớn .
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng có nhiều loại hình khác nhau trong đó
trang trại gia đình vẫn là phổ biến, có đặc trng rất linh hoạt trong từng hoạt
động, vì có thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá,
- Có sự tập chung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là
tiền vốn và ruộng đất, đây là một điều kiện rất cần thiết đối với một trang trại.
- Quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hạch
toán kinh tế (lỗ, lãi) và phân tích kinh doanh như các doanh nghiệp.
2- Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng:
Cũng như điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung, đối
với trang trại chăn nuôi nói riêng, cũng kế thừa trên cơ sở các điều kiện ra đời
và phát triển của kinh tế trang trại nói chung, kinh tế trang trai chăn nuôi ra
đời và phát triển cần có các điều kiện sau:
a-Điều kiện môi trường pháp lí :
- Các trang trại chăn nuôi sản xuất kinh doanh phải thoả mãn sản phẩm
hàng hoá với tỷ trọng hàng hoá từ 70 đến 80% trở lên, các yếu tố đầu vào,
đầu ra là hàng hoá.
- Các trang trại chăn nuôi sản xuất kinh doanh phải đảm bảo được lợi
nhuận theo yêu cầu để đáp ứng đợc nhu cầu tái sản xuất mở rộng.
- Có sự hỗ trợ của công nghệ chế biến. Đây là một điều kiện mà đối với
các trang trại hiện nay phát triển với quy mô lớn. Cần phải có sự hỗ trợ của
công nghiệp chế biến để có thể đáp ứng đợc các loại sản phẩm về chủng loại
và về chất lợng.
- Có sự hình thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá như
chuyên môn hoá về nuôi trâu, bò, ngựa …và chuyên môn hoá về nuôi lợn nái
sinh sản, lợn thịt, lợn thịt xuất khẩu, lợn sữa, gia cầm như gà, vịt.
- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng mà trước hết là giao
thông, thuỷ lợi…Đặc biệt là hệ thống giao thông là điều kiện quan trọng phát
triển cho ngành chăn nuôi nói riêng và nông nghiệp và các ngành khác nói
chung, muốn có sự phát triển thì hệ thống giao thông phải phát triển, hàng hoá
tiêu thụ dễ dàng với chi phí thấp, giá thành hạ, lợi nhuận cao.
- Có môi trường pháp lý thuận lợi khuyến khích, thúc đẩy kinh tế trang
trại chăn nuôi ra đời và phát triển .
- Có sự tác động tích cực và phù hợp của nhà nước thông qua các chính
tích luỹ theo phơng châm “Lấy ngắn nuôi dài “ Điều tra 3044 trang trại năm
2004 cho thấy vốn tự có của chủ trang trại chiếm 96,34%, có nơi như Đắk
Lắk chiếm 97,5% có nơi tỷ trọng vốn tự có nhỏ cũng chiếm 80,9% như Sơn
La. Cho đến nay thì tỷ trọng vốn tự có của chủ gia đình các trang trại nói
chung và chăn nuôi nói riêng giảm dần và tăng dần tỷ lệ vốn vay của các
trang trại để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh.
+ Sức lao động của các trang trại cùng do nhiều nguồn, của trang trại và
thuê mớn, nhưng trang trại gia đình lao động chủ yếu từ nguồn lao động của
trang trại, lao động thuê mướn chủ yếu là lao động thời vụ, lao động thuê
thường xuyên chỉ ở trang trại gia đình có quy mô lớn, kinh doanh sản phẩm
mang tính liên tục (trồng hoa, chăn nuôi bò sữa … )
+ Quản lý trang trại tuỳ theo quy mô khác nhau, có các hình thức quản lý
khác nhau, những trang trại gia đình do chủ thể gia đình trực tiếp quản lý, nếu
chủ thể gia đình không có điều kiện trực tiếp quản lý thì giao cho một thành
viên trong gia đình có năng lực và uy tín quản lý .
b. Trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất kinh
doanh từng việc theo từng vụ liên tục hay nhiều vụ.
- Loại trang trại này thường có quy mô nhỏ, đất ít nên chuyển sang làm
nghề khác, nhưng không muốn bỏ ruộng đất, vì sợ sau này muốn trở về khó
đòi, hay chuộc lại ruộng đất. Ở nhiều nước hình thức này trở nên phổ biến,
đặc biệt là các nước châu á như ở Đài Loan 75% chủ trang trại gia đình áp
dụng hình thức này.
2- Xét về loại hình sản xuất :
+ Trang trại sản xuất cây thực phẩm , các trang trại loại này thường ở
vùng sản xuất thực phẩm trọng yếu , xung quanh các khu đô thị, khu công
nghiệp và gần thị trường tiêu thụ .
+ Trang trại sản xuất cây công nghiệp (chè, cà phê, cao su, mía …)
thường phát triển ở vùng cây công nghiệp gắn với hệ thống chế biến.
+ Trang trại sản xuất cây ăn quả nằm ở vùng cây ăn quả tập trung, có cơ
sở chế biến và thị trường tiêu thụ thuận lợi.
Ở nước ta hiện nay, phần lớn các nông hộ đều là các hộ tiểu nông. Tuy
nhiên, trên thực tế đã và đang có xu hướng hình thành các hộ sản xuất hàng
hoá theo kiểu trang trại. Các trang trại xuát hiện không những ở những vùng
sản xuất hàng hoá, mà cả ở những vùng sản xuất hàng hoá cha phát triển,
không những ở vùng có diện tích đất bình quân đầu người cao mà còn ở
những có diện tích bình quân đầu người thấp do hiện nay luật đất đai đã phát
triển và ưu đãi cho các hộ có nhu cầu thuê mớn đất đai để phát triển sản xuất.
- Vùng trung du và miền núi: Về thực chất đã xuất hiện các trang traị từ
trước những năm đổi mới kinh tế nhưng quy mô còn nhỏ bé dới hình thức các
mô hình kinh tế gia đình kiểu vườn rừng, vườn đồi …Trong những năm đổi
mới kinh tế trang trại trong vùng phát triển mạnh hơn các vùng khác và hình
thành ba dạng chủ yếu. Từ các hộ vùng đồng bằng lên xây dựng vùng kinh tế
mới, các hộ vốn là thành viên của các lâm trường, nông trường, một số tư
nhân đến xin nhận hoặc thuê đất lập trại để tiến hành sản xuất kinh doanh.
Phương hướng kinh doanh chủ yếu dới dạng : kinh doanh tổng hợp theo
phơng thức nông –lâm kết hợp; chuyên trồng cây ăn quả; chuyên trồng cây
công nghiệp; chuyên chăn nuôi đại gia súc…và trồng cây lâm nghiệp
- Vùng ven biển: Tuỳ theo điều kiện của từng vùng các nông, ngư trại…
Phát triển theo quy mô và đặc điểm khác nhau. Trong đó vùng ven biển miền
Bắc vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long đã tương đối
phát triển và phân thành hai loại: Hội kinh doanh lớn chuyên về nuôi trồng
thuỷ sản và hải sản, hộ ít vốn có sự kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với sản xuất
nông nghiệp. Quy mô ở ven biển Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửi Long
gấp 2-3 lần vùng ven biển Bắc Bộ. Vùng ven biển Miền Trung sự phát triển
các ngư trại còn hạn chế .
- Vùng đồng bằng : Đã xuất hiện các trang trại trồng trộ và chăn nuôi
nhưng quy mô nhỏ hơn trong đó có sự kết hợp với nghành nghề phi nông
nghiệp.
Kinh tế trang trại đã trở thành nhân tố mới cho sự phát triển kinh tế ở
nônh thôn. Phát triển kinh tế trang trại là động lực mới nối tiếp và phát huy
+ 16.614 trang trại trồng cây lâu năm.
+ 16.951 trang trại nuôi trồng thuỷ sản.
+ 2006 trang trại trồng cây lâm nghiệp.
+ 2762 trang trại chăn nuôi.
+ 1630 trang trại lâm nghiệp.
Trong đó quy mô bình quân một trang trại 6,2 lao động; lao động thuê
ngoài bình quân 3,4 lao động; Quy mô về vốn bình quân một trang trại đầu
tư sản xuất là 136,5 triệu đồng; Quy mô đất đai bình quân một trang trại
6,08ha (trong đó bao gồm đất đai và diện tích mặt nước ) các trang trại sử
dụng 369,6 nghìn ha đất tạo ra 4965,9 tỷ đồng. Giá trị hàng hoá : Bình quân
một trang trại 81,7triệu đồng giá trị hàng hoá. Tổng số các trang trại sử dụng
374.701 lao động trong đó 168.634 lao động là của hộ gia đình ;Còn 206.067
lao động thuê ngoài.
Tính đến năm 2002 cả nước có khoảng 113.000 trang trại trông đó các
tỉnh phía Bắc từ Thừa Thiên Huế trở ra có 67.000 trang trại với mức vốn đầu
tư bình quân 116,22 triệu đồng. Điều đó phản ánh trình độ đầu tư thâm canh,
áp dụng tiến bộ kỹ thuật theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các
trang trại trong hơn 10 năm qua đã dần dần tăng lên.
Quá trình chuyển kinh tế hộ sang kinh tế trang trại đã trở thành xu hướng
nhưng còn có những mặt hạn chế sau:
- Vẫn còn có những nhận thức chưa đúng về trang trại và kinh tế trang
trại, băn khoăn về việc phát triển kinh tế trang trại ở nước ta.
- Quỹ đất đai còn hạn hẹp đang là một trong những nguyên nhân hạn chế
phát triển kinh tế theo hướng trang trại.
- Việc quy hoạch, định hướng các vùng sản xuất hàng hoá tập trung chưa
tốt
- Thị trường hàng hoá nông sản không ổn định, sản phẩm làm ra khó tiêu
thụ, quan hệ giữa nông dân với các tổ chức thương mại, các doanh nghiệp chế
biến chưa thoả đáng gây trở ngại co sản xuất và sự đầu tư theo hướng sản xuất
hàng hoá.
điều kiện công bằng chung về thị trường về đầu tư tín dụng. Xong xã hội sẽ
phân hoá và các hộ có năng lực đầu tư, có năng lực tổ chức quản lý sẽ có lãi,
tích luỹ tái sản xuất tốt hơn do đó có tiềm năng phát triển trang trại chăn nuôi
tốt hơn. Sử dụng khoa học công nghệ cao hơn sẽ kích thích kinh tế phát triển
mạnh hơn so với giai đoạn hiện nay. Tổng thu nhập trên đơn vị diện tích sẽ
ngày càng tăng cao hơn và môi trờng sinh thái tốt hơn, bền vững đó chính là
tiềm năng phát triển theo quy luật chuyển từ sản xuất nhỏ cá thể sang sản xuất
trang trại, hợp tác xã hoặc hình thức cao hơn