Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Chăn nuôi là một ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, cung cấp cho
con nguời và xã hội về thực phẩm và mục đích khác. Là một ngành luôn
chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.
Cùng với sự phát triển của nó, chăn nuôi sẽ ngày phải phát triển cho đến
nay vẫn cha có ngành nào thay thế đù¬c nó trong việc sản xuất và cung cấp
thực phẩm.
Trong xu hướng phát triển của nền nông nghiệp, ngành trồng trót sẽ
giảm dần và ngành chăn nuôi sẽ tăng lên cả về quy mô lẫn tỷ trọng bởi vì:
- Xu hướng phát triển của xã hội loài nguời so với sản phẩm của ngành
trồng trọt, các sản phẩm của ngành chăn nuôi sẽ đuợc tiêu thụ nhiều hơn.
- Là ngành có giá trị kinh tế cao hơn ngành trồng trọt, nó sẽ có khả năng
tích luỹ vốn cho phát triển kinh tế xã hội nông thôn.
Trên tinh thần đó, việc xem xét và tim ra những uu điểm và hạn chế để
phát triển ngành chăn nuôi ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là cần thiết. Vì
lẽ đó đề tài “Một số giải pháp &phát triển trang trại chăn nuôi bò thịt ở
nước ta giai đoạn 2007-2015’’được xác lập.
Mục đích nghiên cứu đề tài là: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ
bản phát triển kinh tế trang traị chăn nuôi . Phân tích thực trạng phát triển
chăn nuôi bò ở nước ta,chỉ ra những phương hướng và giải pháp để phát triển
chăn nuôi bò ở nước ta phát triển lên.
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương chính.
Phần 1: Cơ sở lý luận chung về kinh tế trang trại và kinh tế trang trại
chăn nuôi .
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Phần 2: Thực trạng và cơ hội phát triển chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam
200-2007
Phần 3: Mục tiêu và giải pháp thực hiện phát triển chăn nuôi bò thịt.
- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút
các hoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất t liệu sản xuất, các hoạt động
dịch vụ và các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản.
+ Trang trại là loại hình sán xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp.
- Trang trại có các hình thức sở hữu t liệu sản xuất và phơng thức quản lý
khác nhau.
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
3
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông
nghiệp ở tất cả các nớc, thờng do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản
xuất kinh doanh của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể
sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ t liệu sản xuất
(ruộng đất, công cụ sản xuất, vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần
hoặc toàn bộ t liệu sản xuất trên.
+ Trang trại t bản t nhân là loại hình trang tr¹i nông nghiệp ít phổ biến ở
các nớc, đến nay số lợng không nhiều thờng là các trang trại t bản t nhân,
công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động làm thuê kể
cả lao động sản xuất và lao động quản lý.
- Trang trại thờng có các qui mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn ) song song
tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình…Trang trại
thờng có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong
và ngoài nông nghiệp, với phơng thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên
môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau.
Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm,
ng nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, t liệu sản xuất thuộc
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập. Sản xuất đợc tiến hành
trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đợc tập trung tơng đối lớn, với
cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao: hoạt động tự chủ
hàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các nghành sản xuất nông- lâm– ng
nghiệp ở các vùng kinh tế ở nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới. Đã thích
ứng với các trình độ công nghiệp hoá khác nhau.
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Thời gian tới bớc vào thế kỷ 21 theo dự báo của nhiều nhà kinh tế trên
thế giới, kinh tế trang trại có bớc phát triển mạnh mẽ, với số lợng ngày càng
nhiều ở các nớc đang phát triển, trên con đờng công nghiệp hoá và vấn đề còn
tồn tại ở các nớc công nghiệp hoá cao, trên cơ sở điều chỉnh số lợng và cơ cấu
trang trại cho phù hợp .
c- Khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi:
- Cũng nh khái niệm về kinh tế trang trại nói chung, ta đi vào xem xét
khái niệm cụ thể về kinh tế trang trại chăn nuôi.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền sản xuất kinh tế trong nông
nghiệp với nông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia
cầm…Đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt
động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi. Bao gồm các hoạt
động trớc và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là
hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp
hoá, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình
công nghiệp hoá từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng nh
trình độ sản xuất, qui mô và năng lực sản xuất đáp ứng đợc nhu cầu sản phẩm
hàng hoá nh thịt, trứng, sữa… trên thị trờng, phù hợp với sự phát triển kinh tế
thị trờng hiện nay.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh
tế trang trại nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp,
khác với các nghành sản xuất khác: Lâm nghiệp hay Thuỷ sản phụ thuộc
nhiều vào điều kiện đất đai, khí tợng và thời tiết nh đối với chăn nuôi đó chỉ là
7
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Ở Việt Nam kinh tế trang trại đã có từ thời Lý, Trần với các hình thức
nh thái ấp, các điền trang trong nông nghiệp. Thời nhà Lê_Nguyễn, kinh tế
trang trại tồn tại dới các hình thức nh: đồn điền, điền trang...
- Đến thời kỳ chủ nghĩa t bản : Lực lợng sản xuất phát triển thì hình thức
sản xuất tập chung qui mô lớn trong nông nghiệp theo kiểu trang trại.
- Đến Nghị quyết 10 của Bộ chính trị khoá VI (4/1988) về phát huy
quyền làm chủ kinh tế hộ, đã đặt nền móng cho sự phát triển một cách nhanh
chóng. Vì vậy kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp
theo nghĩa rộng bao gồm : Nông -Lâm; Thuỷ sản có mục đích chính là sản
xuất hàng hoá, t liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của một chủ
trang trại, sản xuất đợc tiến hành trên qui mô ruộng đất với các yếu tố sản
xuất tập chung đủ lớn, trình độ kỹ thuật cao hơn phơng thức tổ chức sản xuất
tiến bộ gắn với thị trờng có hạch toán kinh tế theo kiểu doang nghiệp .
b. Bản chất của kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp
sản xuất về chăn nuôi trong chuồng trại với qui mô lớn, trình độ sản xuất và
quản lý tiến bộ, là hình thức sản xuất với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng
hoá là các sản phẩm chăn nuôi để cung ứng ra thị trờng, tỷ trọng hàng hoá
chiếm từ 70 đến 80% trở lên, đáp ứng đợc sản phẩm hàng hoá ra thị trờng
trong và ngoài nớc.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng đợc phát triển rất sớm, nhng với qui
mô nhỏ, tỷ trọng hàng hoá cha cao cho nên hàng hoá cung ứng ra thị trờng
còn ít.
- Cho đến hiện nay thì kinh tế trang trại chăn nuôi đã phát triển cả về qui
mô số lợng, tỷ trọng hàng hoá cao, nhưng tập chung chủ yếu ở các vùng đồng
bằng; đối với các khu vực trung du niềm núi phía bắc thì còn cha phát triển
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
8
góp phần thúc đẩy công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến và dÞch vụ sản
xuất ở nông thôn phát triển.
+ Kinh tế trang trại là đơn vị sản xuất có qui mô lớn hơn kinh tế hộ, vì
vây có khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào
sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
+ Với cách thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh tiên tiến, trang
trại là nơi tiếp nhận và chuyền tải các tiến bộ khoa học công nghệ đến hộ
nông dân thông qua chính hoạt động sản xuất của mình.
+ Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu ở nông
thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho ngời lao động và dân c ở nông
thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn là tấm gơng cho
các hộ nông dân về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến và có hiệu
quả. Tất cả những vấn đề đó góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề kinh
tế – xã hội ở nông thôn.
+ Về mặt môi trờng: Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo và bảo
vệ môi trờng sinh thái. Thực hiện phát triển kinh tế trang trại nớc ta đã đem
lại nhiều kết quả về kinh tế xã hội và môi trờng. Nhng phát triển kinh tế trang
trại ở nớc ta phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế từng vùng và từng
địa phơng. nhất là những vùng địa phơng có điều kiện đất đai và điều kiện sản
xuất hàng hoá .
2. Đặc trng của kinh tế trang tr¹i nói chung và kinh tế trang trại công
nghiệp nói riêng :
a. Đặc trng của kinh tế trang trại nói chung:
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ những khái niệm về kinh tế trang trại đã nêu ở trên ta đi vào tìm hiểu
đặc trng của kinh tế trang trại có những điểm gì khác so với các loại hình tổ
chức sản xuất nông nghiệp khác:
- Ngay khi kinh tế trang trại mới hình thành ở một số nớc công nghiệp
trứng, sữa …Với khối lợng hàng hoá lớn .
- Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau trong đó trang trại gia
đình là phổ biến, có những đặc trưng là rất linh hoạt trong tổ chức hoạt động
vì có thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn
hoá sản xuất nông nghiệp.
+ Dung nạp các qui mô sản xuất khác nhau: Trang trại nhỏ, vừa, thậm
chí đến cực lớn.
+ Dung nạp các cấp trình độ công nghệ sản xuất khác nhau từ thô sơ đến
hiện đại, riêng biệt hoặc đan xen.
+ Liên kết các loại hình kinh tế khác nhau (cá thể, t nhân, hợp tác, quốc
doanh với các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh đa dạng).
+ Chính vì vậy mà kinh tế trang trại có khả năng thích ứng với các trình
độ, với các thời kỳ công nghiệp hoá từ thấp đến cao, ở các nước đang phát
triển cũng như các nước công nghiệp phát triển.
- Kinh tế trang trại có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao về nông
sản hàng hoá do các đặc điểm về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các
trang trại quyết định. Chủ trang trại, chủ doanh nghiệp là người có ý chí, năng
lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm nhất định về sản xuất kinh
doanh nông nghiệp và thường là người trực tiếp quản lý trang trại. Trang trại
gia đình có tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh thích hợp, tiến bộ và sử dụng
có hiệu quả hơn các tư liệu sản xuất (đất đai, vốn ,công nghệ …) Chọn và ứng
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
12
Chuyên đề tốt nghiệp
dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, tạo ra năng lực
sản xuất và hiệu quả kinh tế cao của các trang tr¹i, thể hiện qua các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật chủ yếu về sản lượng, năng xuất và giá thành sản phẩm.
- Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn, trang trai có nhu
cầu cao hơn nông hộ về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thường xuyên tiếp cận
với thị trường biểu hiện.
cầu tái sản xuất mở rộng, hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi theo xu thế
tích tụ, tập trung sản xuất kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ xuất hàng hoá cao,
khối lượng hàng hoá ngày càng nhiều, chất lượng tốt. Đi đôi với việc tập
trung, nâng cao năng lực sản xuất của từng trang trại còn diễn ra xu thế tập
trung các trang trại thành các vùng chuyên môn hoá về từng loại như vùng
chuyên canh nuôi đại gia súc như: trâu, bò …vùng thì chuyên môn hoá nuôi
lợn nái sinh sản, lợn thịt, sữa với mục đích tạo ra khối lượng hàng hoá lớn .
- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng có nhiều loại hình khác nhau trong đó
trang trại gia đình vẫn là phổ biến, có đặc trng rất linh hoạt trong từng hoạt
động, vì có thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá,
chuyên môn hoá..Dung nạp các quy mô sản xuất trang trại chăn nuôi khác
nhau như các trang trại chăn nuôi nhỏ, vừa và lớn và thậm chí đến cực lớn.
Dung nạp các cấp độ công nghệ sản xuất khác nhau từ thô sơ đến hiện đại,
riêng biệt hoặc đan xen. Liên kết các loại hình kinh tế khác nhau cá thể,tư
nhân, hợp tác quốc doanh…Với các hình thức hợp tác sản xuất kinh doanh đa
dạng. Chính vì vậy mà kinh tế trang trại chăn nuôi có khả năng thích ứng với
các nước đang phát triển và ở các nước công nghiệp phát triển .
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
14
Chuyên đề tốt nghiệp
- Kinh tế trang tr¹i chăn nuôi có đặc trưng là tạo ra năng lực sản xuất cao
về nông sản hàng hoá mà chủ yếu là sản phẩm thịt, trứng, sữa …do đặc điểm
về tính chất quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại quyết định. Chủ trang
trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và có kinh
nghiệm trong sản xuất chăn nuôi, cũng như kinh doanh trong cơ chế thị
trường.
III-Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung và trang
trại chăn nuôi nói riêng:
1-Điều kiện ra đời và phát triển kinh tế trang trại nói chung :
a-Điều kiện về môi trường pháp lí.
nhuận theo yêu cầu để đáp ứng đợc nhu cầu tái sản xuất mở rộng.
- Có sự hỗ trợ của công nghệ chế biến. Đây là một điều kiện mà đối với
các trang trại hiện nay phát triển với quy mô lớn. Cần phải có sự hỗ trợ của
công nghiệp chế biến để có thể đáp ứng đợc các loại sản phẩm về chủng loại
và về chất lợng.
- Có sự hình thành vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá như
chuyên môn hoá về nuôi trâu, bò, ngựa …và chuyên môn hoá về nuôi lợn nái
sinh sản, lợn thịt, lợn thịt xuất khẩu, lợn sữa, gia cầm như gà, vịt.
- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng mà trước hết là giao
thông, thuỷ lợi…Đặc biệt là hệ thống giao thông là điều kiện quan trọng phát
triển cho ngành chăn nuôi nói riêng và nông nghiệp và các ngành khác nói
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
16
Chuyên đề tốt nghiệp
chung, muốn có sự phát triển thì hệ thống giao thông phải phát triển, hàng hoá
tiêu thụ dễ dàng với chi phí thấp, giá thành hạ, lợi nhuận cao.
- Có môi trường pháp lý thuận lợi khuyến khích, thúc đẩy kinh tế trang
trại chăn nuôi ra đời và phát triển .
- Có sự tác động tích cực và phù hợp của nhà nước thông qua các chính
sách tác động, khuyến khích, hỗ trợ giúp các trang trại chăn nuôi ra đời hình
thành và phát triển.
b-Điều kiện vói trang trại và chủ trang trại chăn nuôi:
- Chủ trang trại phải là người có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông,
cụ thể là từ chăn nuôi phát triển tới một trình độ quy mô một trang trại chăn
nuôi.
- Chủ các trang trại chăn nuôi phải có sự tích luỹ nhất định về kinh
nghiệm sản xuất và kinh doanh về tri thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh
doanh.
- Có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là
tiền vốn và đất đai.
trang trại, lao động thuê mướn chủ yếu là lao động thời vụ, lao động thuê
thường xuyên chỉ ở trang trại gia đình có quy mô lớn, kinh doanh sản phẩm
mang tính liên tục (trồng hoa, chăn nuôi bò sữa … )
+ Quản lý trang trại tuỳ theo quy mô khác nhau, có các hình thức quản lý
khác nhau, những trang trại gia đình do chủ thể gia đình trực tiếp quản lý, nếu
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
18
Chuyên đề tốt nghiệp
chủ thể gia đình không có điều kiện trực tiếp quản lý thì giao cho một thành
viên trong gia đình có năng lực và uy tín quản lý .
b. Trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất kinh
doanh từng việc theo từng vụ liên tục hay nhiều vụ.
- Loại trang trại này thường có quy mô nhỏ, đất ít nên chuyển sang làm
nghề khác, nhưng không muốn bỏ ruộng đất, vì sợ sau này muốn trở về khó
đòi, hay chuộc lại ruộng đất. Ở nhiều nước hình thức này trở nên phổ biến,
đặc biệt là các nước châu á như ở Đài Loan 75% chủ trang trại gia đình áp
dụng hình thức này.
2- Xét về loại hình sản xuất :
+ Trang trại sản xuất cây thực phẩm , các trang trại loại này thường ở
vùng sản xuất thực phẩm trọng yếu , xung quanh các khu đô thị, khu công
nghiệp và gần thị trường tiêu thụ .
+ Trang trại sản xuất cây công nghiệp (chè, cà phê, cao su, mía …)
thường phát triển ở vùng cây công nghiệp gắn với hệ thống chế biến.
+ Trang trại sản xuất cây ăn quả nằm ở vùng cây ăn quả tập trung, có cơ
sở chế biến và thị trường tiêu thụ thuận lợi.
+ Trang trại nuôi trồng sinh vật cảnh thờng phát triển ở gần các khu đô
thị, các khu di tích, thuận lợi cho việc tiêu thụ.
+ Trang trại nuôi trồng đặc sản (hươu, trăn, rắn, ba ba, dê, cây dợc
liệu…) nằm ở những nơi thuận lợi cho nuôi trồng và tiêu thụ.
+ Trang tr¹i nuôi trồng thuỷ sản: Tôm,cá…Loại này thì phất triển khá
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
20
Chuyên đề tốt nghiệp
hoá theo kiểu trang trại. Các trang trại xuát hiện không những ở những vùng
sản xuất hàng hoá, mà cả ở những vùng sản xuất hàng hoá cha phát triển,
không những ở vùng có diện tích đất bình quân đầu người cao mà còn ở
những có diện tích bình quân đầu người thấp do hiện nay luật đất đai đã phát
triển và ưu đãi cho các hộ có nhu cầu thuê mớn đất đai để phát triển sản xuất.
- Vùng trung du và miền núi: Về thực chất đã xuất hiện các trang traị từ
trước những năm đổi mới kinh tế nhưng quy mô còn nhỏ bé dới hình thức các
mô hình kinh tế gia đình kiểu vườn rừng, vườn đồi …Trong những năm đổi
mới kinh tế trang trại trong vùng phát triển mạnh hơn các vùng khác và hình
thành ba dạng chủ yếu. Từ các hộ vùng đồng bằng lên xây dựng vùng kinh tế
mới, các hộ vốn là thành viên của các lâm trường, nông trường, một số tư
nhân đến xin nhận hoặc thuê đất lập trại để tiến hành sản xuất kinh doanh.
Phương hướng kinh doanh chủ yếu dới dạng : kinh doanh tổng hợp theo
phơng thức nông –lâm kết hợp; chuyên trồng cây ăn quả; chuyên trồng cây
công nghiệp; chuyên chăn nuôi đại gia súc…và trồng cây lâm nghiệp
- Vùng ven biển: Tuỳ theo điều kiện của từng vùng các nông, ngư trại…
Phát triển theo quy mô và đặc điểm khác nhau. Trong đó vùng ven biển miền
Bắc vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long đã tương đối
phát triển và phân thành hai loại: Hội kinh doanh lớn chuyên về nuôi trồng
thuỷ sản và hải sản, hộ ít vốn có sự kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với sản xuất
nông nghiệp. Quy mô ở ven biển Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửi Long
gấp 2-3 lần vùng ven biển Bắc Bộ. Vùng ven biển Miền Trung sự phát triển
các ngư trại còn hạn chế .
- Vùng đồng bằng : Đã xuất hiện các trang trại trồng trộ và chăn nuôi
nhưng quy mô nhỏ hơn trong đó có sự kết hợp với nghành nghề phi nông
nghiệp.
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
Chuyên đề tốt nghiệp
cả nước có 97.167 trang trại tăng gấp 6,8 lần so với năm 1996. Đến năm 2004
có Nghị Quyết 03/2004/NQ-CP. Về kinh tế trang trại và thông tư liên tịch số
69/2004/TTLT-TCTK của Bộ NN&PTNT và Tổng Cục thống kê ra để hướng
dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại thì cả nước tính đến thời điểm
01/10/2006. Cả nước có 70.762 trang trại đạt tiêu chí trong đó.
+ 21.798 trang trại trồng cây hàng năm.
+ 16.614 trang trại trồng cây lâu năm.
+ 16.951 trang trại nuôi trồng thuỷ sản.
+ 2006 trang trại trồng cây lâm nghiệp.
+ 2762 trang trại chăn nuôi.
+ 1630 trang trại lâm nghiệp.
Trong đó quy mô bình quân một trang trại 6,2 lao động; lao động thuê
ngoài bình quân 3,4 lao động; Quy mô về vốn bình quân một trang trại đầu
tư sản xuất là 136,5 triệu đồng; Quy mô đất đai bình quân một trang trại
6,08ha (trong đó bao gồm đất đai và diện tích mặt nước ) các trang trại sử
dụng 369,6 nghìn ha đất tạo ra 4965,9 tỷ đồng. Giá trị hàng hoá : Bình quân
một trang trại 81,7triệu đồng giá trị hàng hoá. Tổng số các trang trại sử dụng
374.701 lao động trong đó 168.634 lao động là của hộ gia đình ;Còn 206.067
lao động thuê ngoài.
Tính đến năm 2002 cả nước có khoảng 113.000 trang trại trông đó các
tỉnh phía Bắc từ Thừa Thiên Huế trở ra có 67.000 trang trại với mức vốn đầu
tư bình quân 116,22 triệu đồng. Điều đó phản ánh trình độ đầu tư thâm canh,
áp dụng tiến bộ kỹ thuật theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các
trang trại trong hơn 10 năm qua đã dần dần tăng lên.
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Quá trình chuyển kinh tế hộ sang kinh tế trang trại đã trở thành xu hướng
nhưng còn có những mặt hạn chế sau:
Kinh tế trang trại như đã nói thì tính ưu việt “vợt trội”so với kinh tế cá
thể hoặc hộ nông dân ở chỗ mở rộng được quy mô sản xuất, gắn được sản
xuất với ché biến và tiêu thụ, sử dụng hiệu quả đất trống hoang hoá, sức lao
động dư thừa , tiền vốn đầu tư từ nông dân. Mặt khác chính ở đây cũng phát
huy được động lực kinh tế để phân phối lại lao động, giảm nhẹ thất nghiệp và
đặc biệt là nơi áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nâng cao chất lượng hàng hoá và
năng xuất lao động. Đó chính là phương thức sản xuất tiến bộ sẽ phát triển tốt
nếu nhà nước đảm bảo việc tổ chức và có chính sách khuyến khích thích đáng
đi vào cuộc sống.
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ song nền
kinh tế thị trường đã kích thích sản xuất và đạt được sự tăng trưởng đáng kể,
các chủ trương chính sách hiện tại chưa đầy đủ, nhưng đảm bảo cho sự phát
triển đúng hướng, trước mắt là kinh tế hộ đồng loạt phát triển trên cơ sở một
điều kiện công bằng chung về thị trường về đầu tư tín dụng. Xong xã hội sẽ
phân hoá và các hộ có năng lực đầu tư, có năng lực tổ chức quản lý sẽ có lãi,
tích luỹ tái sản xuất tốt hơn do đó có tiềm năng phát triển trang trại chăn nuôi
tốt hơn. Sử dụng khoa học công nghệ cao hơn sẽ kích thích kinh tế phát triển
mạnh hơn so với giai đoạn hiện nay. Tổng thu nhập trên đơn vị diện tích sẽ
ngày càng tăng cao hơn và môi trờng sinh thái tốt hơn, bền vững đó chính là
tiềm năng phát triển theo quy luật chuyển từ sản xuất nhỏ cá thể sang sản xuất
trang trại, hợp tác xã hoặc hình thức cao hơn
Nguyễn Văn Chung Kế hoạch 45A
25