1 1. Lý do chọn đề tài
Tình hình kinh tế khó khăn trong 6 tháng đầu năm 2008 cùng với xu hướng hội
nhập kinh tế quốc tế đang tiến gần đã gây áp lực lớn đối với các ngân hàng trong nước
về khả năng tồn tại và cạnh tranh để vững bước.
Để tạo dựng cho mình một “sức khỏe” đủ mạnh, thời gian qua các NHTM trong
nước không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng quản trò họat động ngân hàng. Huy
động vốn - một trong những họat động giữ vai trò trọng tâm của ngân hàng - đang trở
thành họat động nóng, được các ngân hàng quan tâm nhiều nhất trong tình trạng khan
hiếm vốn hiện nay. Thông qua việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, từng
bước hiện đại hóa ngân hàng, các sản phẩm huy động ngày càng phong phú, đa dạng,
mang tính chất “đột phá- chiến lược’, thõa mãn nhu cầu ngày càng cao và tinh tế của
khách hàng.
Techcombank- một trong những ngân hàng cổ phần hàng đầu Việt Nam- đã và
đang tự khẳng định mình, tiếp tục phát huy lợi thế của một thương hiệu mạnh bằng việc
cho ra đời những sản phẩm huy động hiện đại, mang tính cạnh tranh cao.
Xuất phát từ nhận đònh trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao
hiệu quả huy động vốn tại Techcombank”.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Từ những vấn đề nghiên cứu trong lý thuyết, phân tích thực trạng huy động vốn
tại Techcombank (trên khía cạnh tiền gưỉ của khách hàng để cho vay), qua đó đề ra
các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn hiệu quả nhất tại Techcombank.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của các NHTM.
Đánh giá thực trạng huy động vốn tại Techcombank ( trên khía cạnh tiền gửi của
khách hàng để cho vay) trong 4 năm : năm 2005-6 tháng đầu năm 2008 qua các khía
cạnh qui mô và cơ cấu huy động vốn; phân tích nguồn vốn huy động . Từ đó tìm ra
n
g
g1
1C
C
Ơ
ƠS
S
Ở
ỞL
L
Ý
ÝL
L
U
U
Y
YĐ
Đ
Ộ
Ộ
N
N
G
GV
V
Ố
Ố
N
NT
T
R
R
O
O
N
tổ chức, cá nhân (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm); phát
hành chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá; vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và
ngoài nước; vay vốn ngắn hạn của NHNN.
1.1.1.2 Ý nghĩa huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại.
Đối với NHTM, huy động vốn là cơ sở để ngân hàng thực hiện các hoạt động
kinh doanh khác. Các khoản tài trợ từ bên ngoài là nguồn vốn chủ yếu đối với hầu hết
các NHTM. Mặt khác thông qua nghiệp vụ này, các ngân hàng có thể đo lường sự tín
nhiệm, uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Có thể nói, nghiệp vụ huy động vốn
góp phần giải quyết “đầu vào” của ngân hàng.
Đối với khách hàng, nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng một
kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ được sinh lợi. Ngoài ra, nó còn
cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích luỹ vốn tạm thời nhàn rỗi,
giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng khác như dịch vụ
thanh toán, tín dụng…
4
Đối với nền kinh tế, nghiệp vụ huy động vốn giúp cho các doanh nghiệp có cơ
hội để tiếp cận nguồn vốn; từ đó thúc đẩy đầu tư sản xuất tạo điều kiện phát triển kinh
tế xã hội.
1. 2. Các loại nguồn vốn NH huy động
1.2.1 Nhóm các nguồn vốn truyền thống
1.2.1.1 Các tài khoản giao dịch
Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng
khác (còn gọi là Tài khoản tiền gửi giao dịch, thanh toán). Gồm các đặc điểm sau:
Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào. Ngân
hàng sử dụng nguồn này để kinh doanh thì rất rủi ro, do đó phải dự trữ nhiều hơn so
với các loại tiền gửi khác.
Do mục đích của khách hàng không phải để hưởng lợi tức mà để sử dụng các
dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng. Do đó, ngân hàng thường trả
mặt.
Điều mà khách hàng khi sử dụng loại hình này trước hết là lợi tức được hưởng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn khác nhau sẽ được hưởng lãi suất khác nhau theo nguyên
tắc thời gian gửi càng dài, lãi suất sẽ càng lớn. Việc đáp ứng nhu cầu rút tiền cũng
được thiết kế theo những kỹ thuật khác nhau tùy theo chiến lược kinh doanh của các
NHTM.
Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn khá ổn định, cho phép ngân hàng chủ động
trong việc đầu tư chúng vào các kế hoạch sinh lời, ít gây sức ép rút tiền đối với ngân
hàng. Nhưng tiền lãi mà NHTM phải trả tính trên tiền tiết kiệm thường cao hơn và đa
phần là những khoản nhỏ, phân tán.
1.2.2 Nhóm các nguồn vốn khác
1.2.2.1 Vay mượn từ thị trường tiền tệ
6
Các ngân hàng có th
ể
vay và cho vay lẩn nhau
thông qua thông qua thị
trường liên ngân hàng (Interbank Market): trường hợp này xảy ra khi lượng tiền gửi
của NHTM tại NHNN thấp không đủ đáp ứng cho nhu cầu chi trả. Thông qua sự tổ
chức của NHNN, ngân hàng này sẽ vay ngân hàng khác có lượng tiền gửi dư thừa tại
NHNN. Vì khoản cho vay là một bộ phận của tiền gửi thanh toán nên thời gian vay
thường chỉ là một ngày “vay qua đêm”. Ngoài ra, các ngân hàng có thể vay trực tiếp
lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng.
Vay ngân hàng Nhà Nước: NHNN sẽ cho vay các NHTM thông qua nghiệp vụ
chiết khấu (discount) và tái chiết khấu (rediscount) thương phiếu và các giấy tờ có giá
hoặc cho vay lại theo hồ sơ tín dụng mà NHTM xuất trình
Phát hành giấy tờ có giá để thu hút tiền nhàn rỗi của các chủ thể trong nền
kinh tế. Giấy tờ có giá là giấy tờ chứng nhận của ngân hàng phát hành để huy động
vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất
nhu cầu vốn của ngân hàng và khả năng vốn của chủ thể mua chứng khoán. Như vậy,
ngân hàng có thể thoã mãn nhu cầu vốn mà không phải bán vĩnh viễn các chứng khoán
chất lượng của mình.
Chi phí trả = Số tiền vay *lãi suất hiện hành của RP* Số ngày vay theo hợp đồng
lãi theo RP
Thông thường lãi suất trong hợp đồng mua lại rất thấp so với lãi suất huy động
vốn của ngân hàng.
1.2.2.4 Vốn chiếm dụng
Ngân hàng sử dụng các loại tiền gửi nghĩa vụ của khách hàng trong quá trình tổ
chức thanh toán không dùng tiền mặt (các khoản tiền khách hàng kỳ quỹ để bảo chi
séc, mở thư tín dụng, bảo lãnh ngân hàng…) để tạm thời đáp ứng nhu cầu vốn của
ngân hàng.
8
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến qui mô nguồn vốn ngân hàng
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của NHTM, mỗi loại
nguồn vốn lại chịu ảnh hưởng khác nhau bởi các nhân tố đó. Do vậy, NHTM cần phải
nghiên cứu đặc điểm của từng nguồn vốn và các nhân tố ảnh hưởng để có những biện
pháp huy động phù hợp với mục tiêu tăng trưởng tương ứng của ngân hàng.
1.3.1 Nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Lãi suất cạnh tranh
Lãi suất là một trong những biến số chủ chốt, cơ bản mà ngân hàng có thể tác
động vào thị trường vốn, tác động vào các đối tượng khách hàng gửi tiền khác nhau
đặc biệt trong cơ chế thả nổi lãi suất như hiện nay.
Định giá nguồn vốn huy động tiền gửi là một việc làm quan trọng và khá phức
tạp đối với các nhà quản trị ngân hàng. Nếu ngân hàng phải trả một mức lãi suất lớn để
thu hút và duy trì sự ổn định lượng tiền gửi của khách hàng thì phải chịu áp lực về việc
gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận. Tuy nhiên, truớc sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân
hàng, việc duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh là điều khó tránh khỏi. Các ngân hàng
cạnh tranh với nhau để thu hút nguồn vốn tiền gửi không chỉ với các ngân hàng khác
mà còn với các tổ chức tiết kiệm, với các công cụ của thị trường vốn (trái phiếu, kỳ
Chiến lược cạnh tranh khách hàng: mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính –
ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được
phép huy động vốn trên thị trường sẽ làm cho thị phần của các ngân hàng giảm đi. Do
vậy, các NHTM muốn thu hút được vốn cần phải tăng cường các giải pháp và chính
sách linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng về chất lượng, chủng loại
dịch vụ ngân hàng, kích thích nhu cầu của khách hàng để đạt mức sử dụng sản phẩm
của ngân hàng cao nhất. Cần phải xác định rằng ngay khi ngân hàng tạo ra được một
sản phẩm được xã hội ưa chuộng thì trong thời gian ngắn gần như lập tức, các ngân
hàng khác cũng có thể tạo ra sản phẩm đó để cạnh tranh.
10
1.3.2 Nhân tố khách quan
Lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền. Lạm phát tác động tiêu cực đến việc
huy động vốn của ngân hàng. Nó làm xói mòn giá trị sức mua lên mỗi đơn vị tiền tệ.
Ngân hàng chỉ có thể khắc phục tác động này bằng cách duy trì một mức lãi suất thực
dương hoặc bảo đảm bằng một giá trị hiện vật (chẳng hạn như tiền gửi tiết kiệm được
bảo đảm bằng vàng)
Sự ổn định về chính trị có tác động rất lớn vào tâm lí và niềm tin của người gửi
tiền. Nền chính trị quốc gia ổn định, người dân sẽ tin tưởng gửi tiền vào hệ thống ngân
hàng nhiều hơn, ngân hàng sẽ là cầu nối hữu hiệu giữa tiết kiệm và đầu tư.
Môi trường kinh tế được hiểu là các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu
nhập quốc dân, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát… có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn tiền gửi
tại các NHTM. Môi trường kinh tế ổn định thì nguồn tiền gửi tại các ngân hàng sẽ
được tăng cao. Ngược lại, nếu môi trường kinh tế không ổn định, nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội sẽ được chuyển thành các dạng đầu tư khác có giá trị ổn định và bền vững
hơn như: vàng, nhà đất,…
Sự thay đổi trong chính sách tài chính, tiền tệ và các quy định của Chính phủ,
của NHNN cũng gây ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn và chất lượng nguồn vốn của
các NHTM. Chính phủ Việt Nam đang được đánh giá là sử dụng các công cụ quản lý
tài chính, tiền tệ ngày càng có hiệu quả hơn, thúc đẩy quá trình tiền tệ hóa nền kinh tế
Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tiến hành phân tích cơ cấu vốn và
nguồn vốn huy động là phải sắp xếp, phân loại tài sản Nợ và tài sản Có của ngân hàng
thành các mục lớn sau:
12
BÁO CÁO CÂN ĐỐI KẾ TÓAN STT
CHỈ TIÊU
NAM
NAY
NAM
TRUOC
A TÀI SẢN CÓ
I
Tiền mặt,chứng từ có giá trị, kim loại quý, đá quý
II
Tien gui tai NHNN
III
Tiền gửi tại các TCTD khác
IV
Cho vay các TCTD khác
VI
để có những biện pháp xử lý phù hợp. Cơ cấu này còn thể hiện thế mạnh và chiến lược
vốn của ngân hàng.
Chỉ số cơ bản phục vụ cho việc nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn là:
Tỷ trọng từng loại Số dư của từng loại nguồn vốn x 100% (CT 1)
nguồn vốn Tổng nguồn vốn
Chỉ số này giúp các nhà phân tích biết được tỷ trọng của từng loại nguồn vốn
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, phân tích quy mô và tốc độ tăng trưởng của từng
loại nguồn vốn, qua đó có thể nhận xét đúng đắn về mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng
để hoạch định được các chiến lược kinh doanh phù hợp trong tương lai.
=
13
1.4.1.2
Phân tích tình hình huy động vốn của NHTM
Khác với các doanh nghiệp khác, NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn
huy động từ các thành phần kinh tế, do vậy phân tích tình hình huy động vốn của ngân
hàng là vấn đề được quan tâm hàng đầu khi quan sát tài sản Nợ của NHTM. Chỉ số có
thể sử dụng để phân tích tình hình huy động vốn của NHTM là:
Tỷ trọng từng loại Số dư của từng loại tiền gửi x 100% (CT 2)
trên tổng vốn huy động Tổng vốn huy động
Chỉ số này giúp các nhà phân tích xác định kết cấu của nguồn vốn huy động để
phát hiện điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng trong kinh doanh. Nếu ngân hàng có tỷ
trọng tiền gửi có kỳ hạn cao, ngân hàng sẽ thuận tiện trong việc tạo ra lợi nhuận. Nếu
ngân hàng có tiền gửi với lãi suất cao chiếm tỷ trọng lớn sẽ gặp nhiếu khó khăn trong
việc giải quyết đầu ra của nguồn vốn. Chỉ số này còn giúp các nhà phân tích xác định
lãi suất bình quân đầu vào của các NHTM:
Lãi suất bình quân (Số dư tiền gửi loại i x lãi suất tiền gửi loại i)
Có 3 phương pháp xác định chi phí huy động vốn thường được các ngân hàng
áp dụng phổ biến là: chi phí quá khứ bình quân; chi phí vốn biên tế (cận biên) và chi
phí huy động hỗn hợp. Mỗi phương pháp đều có một ý nghĩa nhất định tùy theo mục
đích sử dụng của số liệu về chi phí huy động vốn tính toán được.
Phương pháp chi phí vốn bình quân
Đây là phương pháp thông dụng nhất để tính chi phí huy động vốn của NHTM.
Phương pháp này chú trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn mà ngân hàng đã huy
động trong quá khứ và xem xét mức lãi suất mà thị trường đòi hỏi ngân hàng phải trả cho
mỗi nguồn vốn huy động.
Tổng chi phí trả lãi
Chi phí trả lãi bình quân =
Tổng nguồn vốn huy động
bình quân
Việc tính toán như trên là chưa hoàn chỉnh, vì nó chỉ dừng lại ở mức độ xem xét
giá vốn của nguồn vốn, nhiều chi phí khác có liên quan đến huy động vốn vẫn chưa
được đề cập như:
Chi phí phi lãi: chi phí phi lãi bao gồm tiền lương và chi phí quản lý gián tiếp,
mức dự trữ bắt buộc theo qui định, phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí dự phòng rủi ro tín
dụng. Như vậy, tỷ suất sinh lợi tối thiểu để bù đắp chi phí (tỷ suất thu nhập hoà vốn)
được tính như sau:
15
Tổng chi phí lãi + Chi phí phi lãi
Tỷ suất sinh lợi tối thiểu để
bù đắp chi phí =
Tổng tài sản Có sinh lời
Chi phí biên là chi phí bỏ ra để có thêm một đồng vốn huy động. Căn cứ vào chi
phí biên, ngân hàng xác định mức lợi nhuận tối thiểu cần đạt được từ những tài sản có
thêm từ các nguồn vốn này.
Chi phí trả lãi tăng thêm
Chi phí vốn biên tế =
Tổng số vốn huy động tăng thêm
Lợi nhuận thu được từ tài sản Có sinh lời tăng thêm nhờ sử dụng nguồn vốn huy
động thêm:
Chi phí trả lãi tăng thêm
Tỷ suất sinh lời biên tế =
Tài sản Có sinh lời tăng thêm
Công thức chi phí vốn biên tế thường được áp dụng trong trường hợp cần xác
định chi phí huy động của một loại nguồn vốn hoặc để ngân hàng đưa ra quyết định
nên huy động từ một loại nguồn vốn nào.
Tuy nhiên trong thực tế, để phân định nguồn vốn nào sử dụng cho mục đích nào
không phải là việc dễ dàng, ngân hàng thường huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau
cho các mục đích khác nhau. Mỗi tài sản đầu tư sinh lợi của NHTM thường không thay
đổi tương ứng với một nguồn vốn nhất định mà thực chất các chi phí là sự tập hợp của
nhiều nguồn vốn khác nhau. Do vậy, cần phải quan tâm xem xét chi phí huy động vốn
hỗn hợp từ một số loại nguồn vốn.
Chi phí huy động vốn tổng hợp
Thực tế cho thấy mỗi một khoản vay của ngân hàng được hình thành từ nhiều
nguồn vốn khác nhau. Do vậy, chi phí huy động vốn để đáp ứng khoản vay không thể
tính riêng biệt mà cần phải được tính trên cơ sở một hỗn hợp gồm nhiều nguồn vốn
khác nhau. Theo phương pháp này việc tính toán chi phí nguồn vốn gồm các bước như
sau:
17
- Bước 1: Xác định lượng vốn dự kiến huy động mỗi nguồn để đáp ứng nhu cầu
tài trợ.
- Bước 2: Xác định mức khả dụng mỗi nguồn.
Rủi ro xảy ra khi vốn huy động quá lớn so với vốn chủ sở hữu, các nhà đầu tư
sẽ lo lắng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng và có thể họ sẽ rút vốn khỏi ngân hàng
đó.
Mối quan hệ giữa rủi ro nguồn vốn và chi phí huy động vốn
Nhà quản trị ngân hàng phải đương đầu với những thách thức to lớn trong việc
quản trị và kiểm soát các chiều hướng rủi ro huy động vốn khác nhau trên đây.
Thực tế là luôn có một sự đánh đổi giữa rủi ro và chi phí huy động vốn - nguồn
vốn có chi phí thấp có thể phải chịu rủi ro cao về lãi suất, thanh khoản hay là vốn chủ
sỡ hữu. Những nguồn có chi phí thấp có thể tạo rủi ro cao cho ngân hàng và do vậy, sẽ
tạo khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng hơn. Vì thế, khi phải huy động vốn mới, nhà
quản trị ngân hàng phải lựa chọn một vị trí (điểm A hay B trên đồ thị), theo chỉ đạo của
các đại cổ đông của ngân hàng tương quan ưu tiên giữa rủi ro và lợi nhuận trên bảng
đối chiếu giữa rủi ro và chi phí theo từng cách phối hợp giữa các nguồn vốn.
Ngoài ra, mức độ rủi ro của các nguồn vốn khác nhau thay đổi theo những
chiều hướng rủi ro được xem xét. Ví dụ, loại sổ tiêt kiệm dành cho những hộ gia đình
thu nhập thầp và trung bình có thể tương đối ít nhạy cảm với những thay đổi lãi suất
(độ co giãn theo giá thấp), nhưng cũng chính loại tiền gửi đó lại có thể gần với cao
điểm rủi ro thanh khoản vào những thời vụ nhất định trong năm (Tết, Giáng sinh…)
hoặc những giai đoạn nào đó trong chu kì kinh doanh (như khủng hoảng kinh tế) khi
xảy ra việc rút tiền ồ ạt vì loại tiền này chịu những đột biến và thất thường. Do vậy,
thách thức cho các nhà quản trị ngân hàng trong việc lựa chọn một hỗn hợp nguồn vốn
19
bao gồm việc lựa chọn các mức độ rủi ro thích hợp ở mỗi chiều hướng rủi ro huy động
vốn và điều chỉnh theo chi phí huy dộng vốn của các mức rủi ro đó.
1.5 Phương pháp quản lý tài sản nợ
1.5.1 Thực hiện các chính sách và biện pháp đồng bộ để gia tăng nguồn vốn huy
động của ngân hàng
Biện pháp kinh tế: sử dụng các đòn bẩy kinh tế như lãi suất và công cụ khác để
có thể gia tăng nguồn vốn huy đông. Biện pháp này linh hoạt, nhạy bén có thể giúp
con người làm hạt nhân; gồm các chi nhánh, phòng giao dịch, máy ATM, thẻ thanh
toán, thẻ tín dụng…).
Biện pháp tâm lý: tác động vào tâm lý, tình cảm khách hàng nhằm tạo lập và
duy trì mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng. Biện pháp này bao
gồm:
Tuyên truyền, quảng bá về sản phẩm, hình ảnh ngân hàng. Từ đó nâng
cao uy tín, bề thế và hình ảnh ngân hàng trong mắt khách hàng. Hình ảnh và thương
hiệu mạnh mang lại niềm tin cho khách hàng khiến khách hàng không ngần ngại khi
quyết định gửi tiền.
Phát triển đội ngũ cán bộ vừa thành thạo về chuyên môn vừa nắm vững
chủ trưng chính sách và có khả năng giao tiếp, ứng xử tốt với khách hàng. Điều này
tạo nên sự thoải mái cho khách hàng; và tạo nên “điểm khác biệt” so với các ngân
hàng bạn.
1.5.2 Sử dụng các công cụ cơ bản để tìm kiếm nguồn vốn
Khi nhu cầu vốn phát sinh vượt quá khả năng thanh khoản, ngân hàng vay theo
thứ tự sau:
Vay qua đêm: thực hiện trong trường hợp qua ngày tiếp theo, ngân hàng
sẽ có nguồn thu tương ứng.
Vay tái cấp vốn của NHNN.
Sử dụng các hợp đồng mua lại, chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn, vay
Đôla châu Âu…
1.5.3 Đa dạng hoá các nguồn vốn huy động và tạo cơ cấu nguồn vốn sao cho phù
hợp với những đặc điểm hoạt động ngân hàng.
Đối với các ngân hàng bán lẻ chủ yếu là cho vay ngắn hạn để bổ sung nhu cầu
tiêu dùng, nhu cầu vốn lưu động của cá nhân, doanh nghiệp nên trong tổng nguồn vốn,
tiền gửi không kỳ hạn phải chiếm tỷ trọng cao để đảm bảo chi phí huy động vốn thấp.
21
Đối với các ngân hàng bán buôn thì chủ yếu cho vay trung và dài hạn nên đòi hỏi
nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao là các loại tiển gửi định kỳ, tiền gửi có kỳ hạn.
1.6 Kinh nghiệm huy động tiền gửi của các ngân hàng trên thế giới
thực hiện giao dịch. Bên cạnh được hưởng lãi suất cạnh tranh, khách hàng còn có thể
rút tiền dễ dàng.
Tiền trong tài khỏan khách hàng được bảo hiểm lên đến 250.000USD.
Không có phí thường niên nếu khách hàng duy trì số dư tối thiểu 100 USD trên
tài khỏan.
Health Savings account
Đây là cách thông minh để trang trải cho các khỏan chi phí chăm sóc sức khỏe.
Nếu khách hàng đuợc tham gia trong một chương trình chăm sóc sức khỏe có
chất lượng, Citibank Health Savings Account là môt giải pháp cho khách hàng. Với tài
khỏan này, khác hàng sẽ được miễn phần đóng thuế do vậy có thể sử dụng phần miễn
thuế này đề thanh tóan cho các khỏan chi tiêu về thuốc men.
Certificates of Deposit
Một vài điều trong cuộc sống rất chắc chắn. Giống như những chứng chỉ tiền
gửi của Citibank. Nó đưa ra một sự đảm bảo an tòan, một lãi suất cạnh tranh cao.
Khách hàng có thể lựa chọn rất nhiều kỳ hạn khác nhau từ 3 tháng đến 5 năm.
1.6.2 Ngân hàng Standard Chartered Bank
Standard Chartered cung cấp cho khách hàng hàng loạt sự lựa chọn về sản phẩm
tiết kiệm với lãi suất cạnh tranh.
Khách hàng sẽ nhận thêm sự thuận tiện từ hệ thống thanh tóan quốc tế của
Standard Chartered. Khách hàng dễ dàng truy cập tài khỏan tiết kiệm của mình khi
đang ở nước ngòai. Một số sản phẩm tiết kiệm của Standard Chartered:
23
My Dream Account
Đây là một tài khỏan tiết kiệm đặc biệt nhằm tiết kiệm cho tương lai của con
em khách hàng. Khách hàng có thể dễ dàng quản lý tài khỏan này.
Payroll account
Tài khỏan này giúp cho các công ty cải thiện chính sách chi lương của họ. Nó
ANZ Online Saver
Hưởng lãi suất cạnh tranh, giao dịch tiền gửi trực tuyến, lãi suất tính mỗi ngày
và trả hàng tháng cho khách hàng.
Khách hàng hưởng lãi suất cao, hiện tại là 6.5% năm, không phải nộp số dư duy
trì tài khỏan.
Có thể dễ dàng chuyển khỏan trực tuyến từ ANZ Online Saver account và các
tài khỏan khác của khách hàng tại ANZ mọi lúc thông qua ANZ Phone Banking, ANZ
Internet Banking. Tuy nhiên khách hàng sẽ không được rút tiền mặt trực tiếp.
ANZ V2 PLUS
Với tài khoản này, khách hàng vừa được hưởng lãi suất cao 5%năm (lãi được
tính hằng ngày và trả hằng quý) vừa được hưởng những dịch vụ truy cập tài khoản hiện
đại các máy ATM, Internet và phone banking. Đặc biệt sẽ có một dịch vụ tổng đài
chuyên biệt để phục vụ những yêu cầu của tài khoản này.
Số dư tối thiểu để mở tài khoản này là 5000USD. Có thể nộp, rút tiền bât cứ lúc
nào mà không mất phí.
ANZ Premium Cash Management
Khách hàng được hưởng lãi suất bậc thang, số dư tài khoản càng nhiều lãi suất
tiền gửi càng cao.
Khách hàng được quyền phát hành séc trên tài khoản này.
Số dư tối thiểu ban đều khi mở tài khoản là 10.000USD. Số dư duy trì là 1.000
USD
25
K
K
Ế
Ế
T
T
Chương một giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về nghiệp vụ huy động vốn. Cụ
thể:
Khái niệm về huy động vốn.
Các loại nguồn vốn ngân hàng huy động.
Các nhân tố ảnh hưởng đến qui mô nguồn vốn huy động.
Phương pháp phân tích, kiểm soát chi phí huy động vốn.
Phương pháp quản lý tài sản nợ.
Kinh nghiệm huy động tiền gửi của các ngân hàng thế giới.
Trên cơ sở lý luận chung về nghiệp vụ huy động vốn, nhà quản trị có thể dễ
dàng tiến hành hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc huy động các nguồn vốn
sao cho thích hợp với nhu cầu sử dụng vốn, thích hợp với điều kiện môi trường kinh
doanh để đạt được các mục tiêu giảm thiểu chi phí huy động vốn nhằm làm tăng lợi
nhuận và giảm thiểu rủi ro trong quá trình huy động vốn.