Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CKH Có kì hạn
GTCG Giấy tờ có giá
KKH Không kì hạn
NHCP Ngân hàng cổ phần
NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
TSCĐ Tài sản cố định
TCTD Tổ chức tín dụng
TGTK Tiền gửi tiết kiệm
TGTT Tiền gửi thanh toán
TGCKH Tiền gửi có kì hạn
TGKKH Tiền gửi không kì hạn
TCTC Tổ chức tài chính
TCKT, TCXH Tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
TSC, TSN Tài sản có, tài sản nợ
VHĐ Vốn huy động
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Nguồn vốn huy động có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của ngân
hàng thương mại, nó là yếu tố quyết định hàng đầu về quy mô, vị thế của ngân
hàng trên thị trường. Ngày nay mặc dù hầu hết các NHTM rất coi trọng việc
tăng lượng vốn hoạt động nhất là nguồn vốn hình thành từ huy động trong nền
kinh tế. Việc sử dụng các nguồn vốn tích lũy vào lĩnh vực đầu tư cho vay có thể
1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động huy động vốn của NHTM
1.1.1. Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm
Mặc dù trải qua lịch sử phát triển lâu dài nhưng cho đến nay, việc đưa ra
một khái niệm cụ thể về Ngân hàng thương mại thì vẫn còn là điều gây nhiều
tranh cãi của các nhà Kinh tế, bởi tại mỗi một thời điểm khác nhau thì khái niệm
lại có những thay đổi, đây lại cũng là một đặc thù của lĩnh vực ngân hàng tài
chính. Theo các nhà Kinh tế học thế giới thì “Ngân hàng Thương mại là một loại
hình doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng”.
Theo cách tiếp cận trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng
cung cấp thì “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tổ chức tài chính,
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm,
dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một
tổ chức nào trong nền kinh tế”. Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá X ( kỳ họp thứ hai, từ ngày
21 tháng 11 đến ngày 12 tháng 12 năm1997) thông qua thì “Hoạt động ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, và các dịch vụ ngân hàng với nội dung
thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này cấp tín dụng và cung ứng
các dịch vụ thanh toán”.
Qua đây chúng ta có thể thấy rằng trên mỗi phương diện khác nhau, tại
mỗi quốc gia khác nhau lại có những quan niệm, nhìn nhận khác nhau, tuy nhiên
tất cả điều đó đều cho chúng ta những cách hiểu sâu hơn về khái niệm ngân
hàng nói chung và NHTM nói riêng đồng thời qua đó giúp chúng ta có hiểu rõ
hơn về các hoạt động và những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
1.1.1.2. Các loại hình Ngân hàng thương mại
a.Ngân hàng thương mại chia theo hình thức sở hữu
Ngân hàng thương mại Quốc doanh, là loại hình ngân hàng mà sở hữu
thuộc về Nhà nước, do Nhà Nước cấp ngân sách thành lậpvà trực tiếp quản lý,
điều hành. Nhà nước sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm liên quan tới nợ và các nghĩa
vụ về tài sản khác liên quan đến hoạt động của NHTM. Thông thường nhà nước
b. Ngân hàng thương mại theo tính chất hoạt động
Ngân hàng chuyên doanh và đa năng, ngân hàng hoạt động theo hướng
chuyên doanh là ngân hàng chỉ cung cấp một số dịch vụ hạn chế tuỳ thuộc vào
thế mạnh, cũng như điều kiện mà ngân hàng có thể hoạt động.. Tính chuyên
môn hoá cao cho phép các ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm,
tinh thông nghiệp vụ. Tuy nhiên loại hình ngân hàng này thường gặp rủi ro lớn,
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khi mà ngành hoặc lĩnh vực mà mình hoạt động bị xa sút. Thứ hai, ngân hàng
hoạt động theo hướng đa năng là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng
cho mọi đối tượng. Đây là xu hướng chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương
mại, nhất là ngân hàng thương mại lớn. Các ngân hàng này thường là ngân hàng
lớn (hoặc chủ sử hữu công ty lớn). Tính đa dạng sẽ giúp ngân hàng trong việc
tăng thu nhập và hạn chế rủi ro.
Ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ, ngân hàng bán buôn là ngân
hàng cung cấp các dịch vụ cho các ngân hàng khác, các công ty tài chính, cho
nhà nước, cho các doanh nghiệp quy mô lớn. Ngân hàng bán buôn thường là
ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp các khoản
tín dụng lớn. Ngân hàng bán lẻ thường là các ngân hàng cung cấp dịch vụ trực
tiếp cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân, với các khoản tín dụng
nhỏ lẻ. Ngày nay xu hướng của các ngân hàng thương mại ít ngân hàng chỉ bán
lẻ hay chỉ bán buôn. Các ngân hàng nhỏ thường bán lẻ, còn ngân hàng lớn vừa
bán buôn, vừa bán lẻ.
Tóm lại, có thể thấy các NHTM ngoài hoạt động chính là nhận tiền gửi,
phân phối lại nguồn vốn phục vụ nhu cầu của nền kinh tế. Thì nó còn có chức
năng quan trọng là chức năng tạo tiền và cung cấp các dịch vụ nhất liên quan tới
lĩnh vực tiền tệ mà các trung gian tài chính khác không thể thực hiện được.
Đồng thời nó cũng trực tiếp thực hiện sách tiền tệ quốc gia, theo quy định của
NHNN.
dịch vụ được thực hiện là trao đổi ngoại tệ, theo đó ngân hàng sẽ đứng ra mua
một loại tiền tệ này đổi lấy một loại tiền tệ khác, để hưởng phí dịch vụ và hưởng
chênh lệch giá. Điều này rất quan trọng đối với khách du lịch quốc tế khi di du
lịch tại nước sở tại, đồng thời hiện nay các ngân hàng thương mại còn thực hiện
việc huy động vốn, cho vay bằng ngoại tệ và quan trọng hơn nữa là việc thanh
toán cho lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá cùng các hoạt động khác liên quan
đến hoạt động thương mại Quốc tế.
b. Nhận tiền gửi
Như phần trên đã trình bày, để có vốn để tiến hành hoạt động kinh doanh
thì các NHTM phải tiến hành huy động từ các thành phần trong nền kinh tế.
Ngân hàng sẽ tiếp nhận tất cả các nguồn tiền gửi của dân cư, của các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp với mức lãi
suất phù hợp được công bố. Hiện nay khi khách hàng tới gửi tiền thì Ngân hàng
sẻ mở một tài khoản giúp khách hàng thuận tiện trong giao dịch và kiểm tra.
c. Cho vay
Cho vay là hoạt động đem lại thu nhập chủ yếu đối với các nước đang
phát triển, hiện nay có một số loại hình cho vay như sau:
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Cho vay thương mại và chiết khấu thương phiếu: các ngân hàng sẽ chiết
khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nghiệp địa phương,
những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của các khách hàng cho ngân
hàng để lấy tiền mặt. Đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu sang cho vay trực
tiếp đối với khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng hoá dự trữ hoặc xây dựng
văn phòng và mua sắm trang thiết bị sản xuất.
- Cho vay tiêu dùng: Đầu thế kỷ XX, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn
vào tiền gửi khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Do sự
cạnh tranh gay gắt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân
hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành và tiềm
mình để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, một cách nhanh chóng và thuận tiện.
Sau này xuất hiện một dịch vụ mới, quan trọng nhất được phát triển đó là tài
khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit), giúp cho người gửi tiền viết Séc, uỷ
nhiệm chi (UNC) để thanh toán cho việc mua hàng hoá, dịch vụ. Việc đưa ra
loại hình dịch vụ này được xem như là một trong những bước đi quan trọng nhất
trong ngành công nghiệp ngân hàng.
- Quản lý ngân quỹ: Với chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp và
nhiều cá nhân khác trong nền kinh tế, các ngân hàng sẽ mở các tài khoản và giữ
tiền cho họ.
d. Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Đây là một trong nhiều loại hình nghiệp vụ mà ngân hàng áp dụng, bởi lẽ
hoạt động của ngành ngân hàng liên quan trực tiếp tới bức tranh toàn cảnh về
hoạt động của nền kinh tế. Do đó ngay từ khi thành lập các ngân hàng đã phải
chịu sự quản lý và điều tiết trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ. Thông
thương các ngân hàng phải cam kết mua một lượng trái phiếu Chính phủ theo
một tỷ lệ nhất định trên tổng nguồn tiền mà nó huy động được. Các ngân hàng
cam kết cho Chính phủ vay tiền, hoặc tiến hành tài trợ các dự án, chương trình
của Chính phủ trong những trường hợp cần thiết.
đ. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Nhằm để bán các thiết bị, máy móc nhất là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều
hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê (thay vì bán) các thiết bị. Khi kết thúc
hợp đồng thuê, khách hàng có thể tiến hành ra hạn hợp đồng thuê tiếp, hoặc mua
lại (nếu hợp đồng đó là hợp đồng thuê mua).
e. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn :
Do hoạt động của ngân hàng chủ yếu trên lĩnh vực tài chính tiền tệ, nên
ngân hàng thường tập trung các danh mục đầu tư cũng như đội ngũ chuyên gia.
Khi các cá nhân, các tổ chức, các doanh nghiệp có yêu cầu thì ngân hàng tiến
hành tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, chia tách doanh
nghiệp, về mua bán chứng khoán. Đồng thời ngân hàng cũng tiến hành quản lý
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
1.2.1.1. Khái niệm chính sách huy động vốn
Ngân hàng thương mại hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào
lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh quyết
liệt trong lĩnh vực tài chính tiền tệ như hiện nay, để có được nguồn vốn lớn đòi
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hỏi các ngân hàng thương mại phải có những chính sách huy động hợp lý, nhằm
từ đó thu hút được lượng vốn cần thiết trong nền kinh tế để phục vụ cho hoạt
động của ngân hàng thương mại. Chính sách huy động vốn của ngân hàng có thể
hiểu đó là những công cụ, cách thức và phương pháp, và chương trình cụ thể
nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ chức và từ đó gửi tiền vào ngân
hàng. Trên cơ sở hai bên đều có lợi. Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy chính
sách huy động vốn của ngân hàng thương mại cũng là một phần trong chính
sách Marketing mà các ngân hàng đang sử dụng, tuy nhiên thì nó luôn được
quan tâm và chịu sự giám sát chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo ngân hàng.
1.2.1.2. Các yếu tố cấu thành chính sách huy động vốn
- Tình hình thực tế của kinh tế- xã hội: Đây là một yếu tố có ảnh hưởng
mạnh mẽ tới công tác huy động vốn của ngân hàng, vì tình kinh tế xã hội có ổn
định, sự phát triển có bền vững thì các thành phần kinh tế mới thực sự yên tâm
khi đầu tư hoặc gửi tiền vào ngân hàng. Chính vì vậy để hoạt động huy động
vốn của ngân hàng thực sự có hiệu quả trong mọi trường hợp thì không thực sự
đơn giản với các ngân hàng thương mại và cũng không phải ngân hàng nào cũng
có thể đạt được.
- Chính sách và quy định của NHNN: Hệ thống ngân hàng thương mại
chịu sự quản lý điều hành trực tiếp từ NHNN (một số quốc gia có thể do Bộ tài
chính làm thay công tác của NHNN). Như vậy các ngân hàng thương mại đều
phải tuân thủ nghiên túc các quy định mà NHNN đưa ra. Trên cơ sở thực tế của
tình hình kinh tế xã hội, các chính sách vĩ mô của Chính phủ mà NHNN sẽ có
những điều tiết hoạt động, buộc các ngân hàng này phải tuân thủ. Trong các
suất loại tiền gửi tương ứng này nhằm cạnh tranh với các Tổ chức tín dụng, các
ngân hàng thương mại khác.
- Tiền gửi có kỳ hạn của các Doanh nghiệp, TCXH,TCXH nghề nghiệp:
Nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội sẽ được chi
trả trong một khoảng thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện
cho thanh toán song mức lãi suất thường rất thấp. Để đáp ứng nhu cầu và
khuyến khích người gửi tiền, tạo điều kiện khơi tăng nguồn vốn cho mình, các
ngân hàng đưa ra các hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Thông thường khoản tiền gửi
này không thuận tiện trong thanh toán như tiền gửi thanh toán như ở trên, khi
cần tiền khách hàng phải đến ngân hàng để thực hiện rút tiền ra.
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư, các tâng lớp dân cư: Các tầng lớp dân cư
đều có các khoản tiền tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm) trong
điều kiện có khả năng tiếp cận được với ngân hàng, họ sẽ có thể gửi tiền nhằm
mục tiêu an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
toàn vốn. Đưa ra hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví
dụ như mức lãi suất cạnh tranh với các khoảng tiền gửi thời hạn khác nhau, lãi
suất giữa tiết kiệm bằng đồng nội tệ và tiết kiệm bằng đồng ngoại tệ, tiết kiệm
bằng vàng,...). Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều chương mục
tiết kiệm khác nhau cho mỗi kỳ hạn và cho mỗi lần gửi khác nhau. Loại hình
tiền gửi này không nhằm mục đích thanh toán tiền hàng và dịch vụ song nó có
thể dùng làm tài sản thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép.
- Tiền gửi của các ngân hàng khác: Với mục tiêu là an toàn, thuận tiên và
nhanh chóng trong thanh toán cho khách hàng, các ngân hàng thương mại không
chỉ duy trì tiền tại ngân hàng của mình mà còn tiến hành gửi tiền tại ngân hàng
thương mại khác. Tuy nhiên thì quy mô của nó không lớn, thường chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.
b. Nguồn đi vay
- Vay trên thị trường vốn: Giống như các doanh nghiệp khác, NHTM cũng
đi vay bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiều, tín phiếu, trái phiếu) trên thị
trường vốn. Rất nhiều NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến
không có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Do vậy các khoản vay
trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay
và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường đây là khoản vay không có bảo đảm.
Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ vay mượn được nhiều hơn.
Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp. Ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị
trường để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích
hợp. Các vấn đề về chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ... cũng
được các ngân hàng quan tâm.
c. Các nguồn khác
- Nguồn uỷ thác: Đây là nghiệp vụ mà thông qua đó ngân hàng thương
mại cung cấp dịch vụ uỷ thác như cho vay, đầu tư, uỷ thác cấp phát, giải ngân,
thu ngân hộ... Các hoạt động này tạo nên nguồn vốn uỷ thác tại ngân hàng. Ngày
nay, cùng với sự phát triển của các mối quan hệ đa phương, rất nhiều các tổchức
kinh tế, xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của các ngân hàng, có nguồn tài
chính, đã sử dụng màng lưới ngân hàng như là kênh dẫn vốn tới các mục tiêu.
Và kết quả là hình thành nguồn uỷ thác, làm tăng nguồn vốn của ngân hàng.
- Nguồn trong thanh toán: Các khoản thanh toán không dùng tiền mặt có
thể hình thành nguồn thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền kí quỹ đsể mở
L/C,...). Những ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư
tiền từ của các ngân hàng thành viên để chuyển về thực hiện cho vay.
- Nguồn khác: Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả,
Tiền khấu hao tài sản nhưng chưa dùng,...
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.2.2. Nội dung chính sách huy động vốn
Chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại là một trong
dịch của ngân hàng cũng là điều kiện không thể thiếu trong chính sách huy động
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vốn mà ngân hàng áp dụng. Mở rộng mạng lưới không chỉ giúp ngân hàng nâng
cao khả năng huy động vốn, mà còn đáp ứng nhiều mục tiêu mà ngân hàng đề
ra.
- Chính sách về mở rộng quan hệ với các TCTD, các NHTM, các cá nhân,
các TCXH:: Mối quan hệ với các tổ chức này giúp cho các ngân hàng thương
mại trong việc hoạch định chiến lược hợp lý. Điều đặc biệt là với các tổ chức,
các cá nhân, các doanh nghiệp, có mối quan hệ trực tiếp sẽ giúp các ngân hàng
thương mại trong việc dự báo các luồng tiền sẽ thay đổi. Quan trọng hơn là, trên
cơ sở mối quan hệ mật thiết trên mà ngân hàng sẽ có những ưu tiên hợp lý
khuyến khích với từng thành phần khách hàng.
- Chính sách Marketing: Marketing được hiểu, đó là hệ thống các chiến
lược, biện pháp chương trình, kế hoạch hoạt động, nhằm tác động vào toàn bộ
quá trình tổ chức cung ứng dịch vụ của ngân hàng nhằm sử dụng một cách tốt
nhất trong việc làm thoả mãn khàch hàng mục tiêu. Về mặt lý thuyết, hoạt động
marketing bao hàm gần như tất cả các nội dung liên quan tới hoạt động của ngân
hàng thương mại, trong đó có hoạt động của chính sách huy động vốn. Thông
qua việc tìm hiểu, xem xét đánh giá các yếu tố của môi trường kinh tế vi mô,
cũng như yếu tố vĩ mô. Các nhà hoạch định marketing sẽ đưa ra chương trình,
nội dung hoạt động sao cho phù hợp. Chính sách marketing gồm sự tác động của
nhiều nhân tố như; Phương pháp địng giá (xác định lãi suất), chính sách sản
phẩm (cung ứng những dịch vụ mà ngân hàng có khả năng), chính sách phân
phối, chính sách khuyếch trương- giao tiếp,...
- Chính sách hỗ trợ tư vấn khách hang: Đây là hoạt động, mà thông qua đó
ngân hàng sẽ hỗ trợ và tư vấn cho khách hàng về các vấn đề liên quan đến lĩnh
vực tài chính- tiền tệ- ngân hàng và quan trọng hơn là giúp khách hàng có được
danh mục đầu tư, lựa chọn các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Thông
Nền kinh tế có ổn định, phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu
người có cao, trình độ học vấn của dân cư có cao, xã hội ổn định thì sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động và phát triển của ngân hàng thương mại. Bởi khi đó
tiết kiệm trong xã hội sẽ cao, khả năng tin tưởng vào hoạt động của ngành ngân
hàng sẽ ngày càng được nâng lên. Một hệ qủa tất yều là làm cho các thành phần
kinh tế sẽ gửi tiền vào ngân hàng theo từng mục tiêu cụ thể. Và ngược lại nếu
trong vùng kinh tế đó có tình hình xã hội bất ổn định, tốc độ phát triển của kinh
tế còn hạn chế... Điều này làm cho tiết kiệm trong xã hội đạt mức thấp, thêm vào
đó là tâm lý ưa dùng tiền mặt, chưa có thái độ quan tâm thực sự tới các loại hình
dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, và do đó việc thực hiện chính sách huy động
vốn của ngân hàng thương mại gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, chính sách huy
động vốn của ngân hàng thương mại còn chịu những tác của các nhân tố như tỷ
Cao Thu Trang Mã SV: 3LT0552C
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lệ lạm phát của đồng tiền. Sự suy thoái của nền kinh tế, thậm trí là cả sự phát
triển “bong bóng” quá nóng của nền kinh tế. Các nhân tố này ít nhiều đều có ảnh
hưởng tới hoạt động của ngân hàng thương mại, có nhân tố ảnh hưởng rất mạnh,
ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
1.3.1.2. Hành lang Pháp lý và Chính sách vĩ mô của Nhà Nước
Tại mỗi một quốc gia trên thế giới, mọi hoạt động của ngân hàng thương
mại trong đó có hoạt động huy động vốn đều phải chịu sự điều tiết của các chế
tài của luật pháp, và sự điều hành giám sát và quản lý từ phía Ngân hàng Nhà
Nước, để phục vụ những mục đích mà Chính phủ ban hành hay Ngân hàng Nhà
Nước đề ra. Các ngân hàng thương mại trong trường hợp cần thiết phải tiến
hành mua trái phiếu Chính phủ do Chính phủ (mà đại diện lad Kho Bạc Nhà
Nước) phát hành, theo những quy định cụ thể của Ngân hàng Nhà Nước. Với
mục tiêu an toàn và an ninh tiền tệ của mỗi quốc gia mà Ngân hàng Nhà Nước
có quy định mức vốn tối đa được phép huy động theo một tỷ lệ nhất định nào đó
so với vốn chủ sở hữu của ngânhàng thương mại. Ngoài ra hoạt động của hệ