Nguyễn Phước Cẩm Chi Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Phát triển và hội nhập là một trong những xu thế lớn của thời đại. Ngày
nay, khu vực hoá, quốc tế hoá, tham gia vào các liên minh kinh tế Quốc tế là xu
thế phát triển kinh tế khách quan của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Không
một quốc gia nào có thể tồn tại độc lập trong khuôn khổ một nền kinh tế khép
kín, tự cung, tự cấp như trước đây. Sự luân chuyển của các nguồn lực kinh tế bị
bó hẹp, hạn chế trong biên giới quốc gia và sự kiểm soát của các chính sách
điều chỉnh kinh tế theo ý chí của Nhà nước làm cho sự phân bố hiệu quả của
các nguồn lực kinh tế thế giới bị giảm sút đồng thời tạo nên sự chênh lệch
tương đối giữa các quốc gia.
Xuất phát từ quan điểm đó tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng và
Nhà nước ta đã thực hiện chính sách kinh tế “mở cửa”, phát triển nền kinh tế
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, thực hiện phương châm “Việt Nam sẵn sàng
làm bạn với tất cả các nước”.
Sau hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới, hoạt động kinh tế, đặc biệt
là hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch phát triển mạnh mẽ. Để đạt được
kết quả đó các cấp, các ngành đã phải hết sức nỗ lực phấn đấu, trong đó phải kể
tới đóng góp không nhỏ của ngành Hải quan.
Hoàn thiện quy trình thu thuế xuất nhập khẩu nhằm tạo môi trường thuận
lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đảm bảo quản lý thu thuế xuất nhập khẩu,
phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng, ổn định và bền vững trong thời kỳ phát triển
mới của đất nước.
Luật Hải quan ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cải cách thủ
tục Hải quan. Vì vậy việc thực hiện tốt Luật Hải quan và cải cách quy trình thu
thuế xuất nhập khẩu sẽ góp phần đưa hoạt động xuất nhập khẩu theo định
hướng của Nhà nước.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, tầm quan trọng của công tác thu thuế xuất
nhập khẩu và sự cần thiết phải cải cách thủ tục Hải quan, kết hợp với những
kiến thức lĩnh hội được trong thời gian thực tập tại Cục Kiểm tra thu thuế xuất
nhập khẩu Tổng cục Hải quan em đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp góp
được hình thành từ thời chiếm hữu nô lệ đến thời kỳ phong kiến, đặc biệt nó
phát triển ở Anh và ở Pháp vào thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Tuy nhiên, ở mỗi
nước và mỗi thời kỳ khác nhau sẽ có cách nhìn nhận khác nhau về vị trí và vai
trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có đặc điểm:
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu nhằm động viên
một phần giá trị mới nằm trong giá cả hàng hoá trao đổi qua biên giới một
nước. Người tiêu dùng là người chịu thuế. Người nộp thuế là các tổ chức, cá
nhân có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thu vào các nhóm hàng, mặt hàng xuất
khẩu hoặc nhập khẩu.
Trên thế giới, bất kỳ quốc gia nào cũng phải xây dựng hệ thống thuế đồng
thời thiết lập các cơ quan chức năng quản lý thu thuế. Ở Việt Nam, công tác tổ
chức quản lý thu thuế xuất nhập khẩu được giao cho Tổng cục Hải quan.
1.1.2 Mục đích của việc đánh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Xu hướng chung của toàn cầu là chuyển từ đối đầu sang đối thoại, chuyển
từ chiến tranh sang hợp tác kinh tế, do vậy việc hội nhập kinh tế của mỗi quốc
gia vào khu vực cũng như thế giới là cần thiết. Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có
hoàn cảnh lịch sử kinh tế cụ thể nên khi hội nhập cần có một hệ thống chính
sách kinh tế phù hợp với những cam kết của tổ chức mà họ tham gia đồng thời
hệ thống chính sách này phải mang lại lợi ích cho quốc gia đó.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một bộ phận quan trọng của hệ thống
các chính sách thuế. Sử dụng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để bảo vệ nền sản
xuất trong nước tuỳ theo đặc điểm kinh tế của mỗi nước và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế theo những mục tiêu khác nhau. Tuy nhiên hầu hết các nước đều coi
thuế quan là công cụ đóng vai trò che chắn cho nền sản xuất trong nước trước
sự cạnh tranh kinh tế trong hoạt động ngoại thương. Vì thế thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu được sử dụng với mục đích kiểm soát ngoại thương bằng cách tất cả
3
LỚP D36- 02
và chất lượng. Số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày một tăng với kim
ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên. Hiện nay, số thu về thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu chiếm khoảng 20%-25% tổng số thu NSNN từ thuế. (Biểu1)
Biểu 1: Tình hình thu nộp thuế XNK trong tổng thu NSNN
Đơn vị: tỉ USD
Năm Thuế xuất nhập khẩu Tỉ lệ so với tổng số
thuế
4
LỚP D36- 02
HỌC VIỆN TÀI
Nguyễn Phước Cẩm Chi Chuyên đề tốt nghiệp
1997 1.180 21,8%
1998 1.235 22,0%
1999 1.438 23,1%
2000 1.456 23,7%
2001 1.680 27,4%
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ góp phần thực hiện nhiệm
vụ quản lý Nhà nước về Hải quan, kiểm tra các hoạt động xuất nhập khẩu,
vừa điều tiết vĩ mô hoạt động xuất nhập khẩu, vừa kích thích định hướng hoạt
động xuất nhập khẩu, vừa hướng dẫn người tiêu dùng.
Hiện nay hoạt động hợp tác giao lưu kinh tế với các nước diễn ra mạnh
mẽ. Nhà nước không thể lấy kế hoạch để định hướng, mà hoạt động xuất nhập
khẩu phải tuân theo quy luật thị trường. Vì vậy Nhà nước muốn điều tiết được
hoạt động xuất nhập khẩu thì phải sử dụng công cụ pháp luật, công cụ tài chính
để điều tiết hoạt động này. Việc điều tiết được thông qua hệ thống các chính
sách trong đó chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một công cụ linh
hoạt và hiệu quả để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng khuyến khích hoặc hạn chế
tiêu dùng thông qua việc điều chỉnh thuế suất. Xây dựng biểu thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu, chính sách miễn giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Nhà
thuế suất ưu đãi nhằm tăng khả năng cạnh tranh của những mặt hàng đó, còn
nếu muốn hạn chế nhập thì điều chỉnh thuế suất cao.
Như vậy vai trò bảo hộ nền sản xuất trong nước của thuế quan sẽ còn được
Nhà nước sử dụng để thúc đẩy hơn nữa nền kinh tế của mỗi quốc gia.
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu góp phần thực hiện chính sách đối ngoại
của Đảng và Nhà nước trong quan hệ quốc tế, góp phần đảm bảo bình đẳng và
công bằng xã hội.
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta giai đoạn 2001-2010 đặt ra là:
“Chính sách tài khoá giai đoạn 2001-2010 phải đảm bảo cho nền kinh tế tài
chính chủ động hội nhập quốc tế một cách hiệu quả theo tốc độ và mức độ
hợp lý ”.
Khi tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế, Việt Nam cũng phải
tuân thủ đúng các quy định mà các tổ chức đó đề ra. Cùng với các sắc thuế
khác, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng góp phần thục hiện những yêu cầu
đó đồng thời thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đề ra
khi hội nhập với khu vực và thế giới là “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
nước”.
1.2. Nội dung của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quy trình thu thuế
XNK ở nước ta hiện nay.
1.2.1. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam.
Trước đây, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta còn rất giản đơn, hoạt
động ngoại thương buôn bán trao đổi chưa phát triển. Những mặt hàng chủ yếu
là nông sản, lâm sản được xuất sang các nước XHCN thường là để trả nợ cho
Chính phủ, hoặc xuất khẩu sang các nước XHCN đã có Hiệp ước ưu đãi về thuế
quan, giá xuất khẩu thường không đủ bù đắp chi phí thu mua sản xuất. Còn
hàng hoá nhập khẩu chủ yếu là hàng viện trợ hoặc hàng mua của các nước có
thuế suất rất thấp. Trong giai đoạn này, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá
không mang tính chất ngoại thương. Nó không theo quy luật cạnh tranh, quy
luật giá trị của nền kinh tế thị trường. Hàng hoá xuất nhập khẩu đều do Nhà
nước ấn định và thông thường Nhà nước phải lấy từ ngân sách để bù lỗ cho các
khẩu theo thể chế khu vực thương mại tự do hoặc thương mại biên giới.
- Ngoài thuế suất phổ thông, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc
biệt, hàng hóa nhập khẩu trong một số trường hợp còn bị đánh thuế suất bổ
sung.
Tuy vậy, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan vẫn bộc lộ những hạn chế như về biểu thuế, về thuế quan
trừng phạt đối với hàng nhập khẩu, về xử lý vi phạm và kiểm tra thu thuế...
khiến các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi bổ sung năm 1999 là một
bước cải cách quan trọng đảm bảo chính sách thuế của Việt Nam phù hợp với
thông lệ quốc tế và tạo cơ sở thực hiện đúng nguyên tắc chỉ thực hiện bảo hộ
thông qua thuế quan, đồng thời tạo thuận lợi để Việt Nam từng bước cắt giảm
hàng rào thuế quan của mình theo xu hướng tự do hoá thương mại và quan
trọng hơn cả là khắc phục được những hạn chế còn tồn tại nêu trên.
7
LỚP D36- 02
HỌC VIỆN TÀI
Nguyễn Phước Cẩm Chi Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2. Nội dung của quy trình thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở
nước ta.
1.2.2.1 Nội dung của quy trình thu thuế XNK trước đây.
Quy trình thu thuế XNK là trình tự các bước tiến hành thu thuế XNK vào
NSNN được quy định thành luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật buộc các
cơ quan Hải quan và cán bộ thu thuế khi thực hiện nhiệm vụ phải chấp hành.
Mỗi bộ phận trong quy trình đều có chức năng và nhiệm vụ nhất định do đó
phải bố trí cán bộ cho phù hợp với từng bộ phận của quy trình thu thuế nhằm
đảm bảo cho các bộ phận trong quy trình hoạt động có hiệu quả, góp phần hoàn
thành nhiệm vụ chung cho toàn ngành Hải quan.
Theo Quyết định số 383/1998/QĐ-TCQH quy trình thu thuế XNK gồm 4
bước, theo trình tự sau:
lý;
- Giải phóng hàng sau khi đã:
+ Nộp thuế hoặc bảo lãnh được chấp nhận đối với hàng phải nộp thuế
ngay;
+ Có thông báo thuế đối với hàng được gia hạn về thời gian nộp thuế;
- Giám sát việc giải phóng hàng;
- Chuyển hồ sơ tới bộ phận thuế.
Bước 4: Kiểm tra- Xử lý vi phạm.
- Kiểm tra kết quả tự kê khai, tự tính thuế của người khai báo hải quan;
- Căn cứ kết quả kiểm hoá, nguyên tắc xác định mã số thuế, thuế suất,
giá tính thuế và khai báo của người khai báo hải quan xác định đúng số thuế
phải nộp;
- Xử lý các vi phạm về thuế;
- Ra Quyết định điều chỉnh số thuế phải nộp;
- Kế toán thu nộp thuế;
- Phúc tập, xác định hồ sơ phải kiểm tra tiếp các khâu liên quan sau khi
thông quan;
- Sắp xếp lưu trữ hồ sơ.
Đường lối đổi mới, chính sách “mở cửa”, xây dựng nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ hội cho kinh tế đối ngoại, hoạt động
xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch... phát triển mạnh mẽ với nhiều loại hình đa
dạng như: Kho ngoại quan, khu chế xuất, khu công nghiệp, tạm nhập, tái xuất,
chuyển khẩu...
Các hoạt động trên đòi hỏi phải nhanh chóng tháo gỡ những ách tắc, phải
thông thoáng; vừa phải nhanh chóng giải phóng được hàng hoá, vừa phải quản
lý chặt chẽ, đúng chính sách, pháp luật. Vì vậy, quy trình thu thuế XNK ra đời.
Áp dụng quy trình thu thuế nhằm thực hiện đúng, chính xác các luật thuế:
Xuất nhập khẩu, Giá trị gia tăng, Tiêu thụ đặc biệt... đối với hàng hoá xuất nhập
khẩu, đảm bảo mục tiêu “thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời tiền thuế vào NSNN”,
theo những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của ngành Hải quan: “Tạo thông thoáng
ở cửa khẩu, giảm bớt sự chờ đợi, ùn tắc của khách xuất nhập cảnh, giải phóng
nhanh hàng hoá, nhanh chóng phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi
phạm luật lệ Hải quan, tăng thu cho NSNN”. Tuy vậy, quy trình thu thuế XNK
vẫn còn những tồn tại cần tháo gỡ.
* Quy trình thu thuế cần cải tiến chủ yếu xuất phát từ sự thay đổi thường
xuyên về các chế độ chính sách thuế liên quan đến công tác hải quan, những
điểm bất hợp lý của quy trình cũ dẫn đến một số hồ sơ phải cần nhiều bút toán
để điều chỉnh thuế. Hơn nữa trong những năm gần đây, lượng hàng hoá xuất
nhập khẩu rất đa dạng, phức tạp với trên 5.000 nhóm mặt hàng được phân loại
mã số gồm 8 chữ số nên trong qúa trình thực hiện gặp không ít khó khăn. Việc
phân chia mã hàng hoá không theo tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định. Đôi khi trong
thực tế có những hàng hoá vừa xếp mã theo tính chất mặt hàng, vừa xếp theo
công dụng của hàng hoá; phần lớn các mặt hàng trong biểu thuế XNK được
đánh theo mục đích sử dụng, số ít được đánh theo tính chất mặt hàng, những
điều đó tạo không ít sơ hở cho các đơn vị kinh doanh XNK tận dụng gây thất
thu cho NSNN nên cần thiết phải đổi mới quy trình thu thuế.
10
LỚP D36- 02
HỌC VIỆN TÀI
Nguyễn Phước Cẩm Chi Chuyên đề tốt nghiệp
* Luật Hải quan ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt đáng kể trong ngành
Hải quan. Những cơ hội và thách thức mới đòi hỏi phải có những phương thức
áp dụng hợp lý hơn. Nhưng trong quá trình đổi mới vẫn còn một số thủ tục
chưa được cải tiến kịp thời, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
* Quy trình thu thuế theo Quyết định số 383/1998/QĐ-TCHQ vẫn còn tồn
tại những vướng mắc như:
Theo quy trình này, dựa trên tờ khai hải quan, căn cứ vào số thuế do người
khai hải quan tự tính, cơ quan Hải quan ra thông báo thuế và đối tượng nộp
thuế sẽ nộp tiền theo số tiền ghi trên thông báo (đối với trường hợp phải nộp
11
LỚP D36- 02
HỌC VIỆN TÀI
Nguyễn Phước Cẩm Chi Chuyên đề tốt nghiệp
- Về giá trính thuế VAT và đối tượng chịu thuế VAT của hàng XNK cũng
có những bất cập. Ví dụ đối với các tài liệu, ấn phẩm chuyển phát nhanh theo
đường DHL, TNT với số lượng lớn là loại ấn phẩm có thuế suất 0%. Nhưng
đây lại là đối tượng chịu thuế VAT. Khi làm thủ tục hải quan thì các tài liệu này
được gửi cho nhiều hãng, nhiều tổ chức, cá nhân có cùng chung một vận đơn
hàng không. Loại ấn phẩm, tài liệu này không có giá tính thuế. Như vậy, người
làm thủ tục nhận hàng là các tổ chức chuyển phát nhanh không biết giá kê khai,
người nhận hàng cũng không xác định được giá và không có cơ sở tính thuế
VAT với hàng nhập khẩu có thuế suất khác 0%;
- Về chứng nhận xuất xứ: Theo quy định của Tổng cục Hải quan cho phép
áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng tiểu ngạch mà không cần C/O nếu Hải
quan có thể xác định xuất xứ, nhưng trên thực tế, có nhiều lô hàng giá trị lớn
vẫn nhập khẩu theo đường tiểu ngạch để được hưởng sự ưu đãi này. Như vậy,
có thể dẫn đến thất thu thuế;
- Về phương pháp tính giá hải quan: Theo quy định đối với những mặt
hàng Nhà nước không quản lý giá thì chỉ áp giá theo bảng giá tối thiểu khi hợp
đồng không có đủ các điều kiện quy định. Trên thực tế, có một số mặt hàng
nhập khẩu thuộc danh mục Nhà nước quản lý giá và hợp đồng nhập khẩu có đủ
các điều kiện để tính giá theo hợp đồng, song khi đăng ký tờ khai, không ít
doanh nghiệp phải áp giá tối thiểu hoặc áp giá hợp đồng nếu giá hợp đồng cao
hơn giá tối thiểu. Điều này không hợp lý;
- Về việc áp mã tính thuế, thoái thu thuế: Việc áp mã tính thuế nhiều khi
chưa được chính xác bởi có những văn bản quy định không rõ ràng đối với từng
mặt hàng. Sau khi tính thuế, hàng hoá được giải phóng nhưng để tính thuế một
cách chính xác lại phải mất nhiều công văn giữa các Bộ, ngành và Tổng cục
Hải quan đến Hải quan địa phương. Nếu tính thuế sai thì việc thoái thu thuế rất
9. Văn phòng.
b) Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc:
1. Trung tâm Tin học và thống kê hải quan;
2. Viện Nghiên cứu khoa học hải quan.
Trong đó Cục Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu có nhiệm vụ quản lý thu
thuế xuất nhập khẩu, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho NSNN. Thực
hiện các biện pháp chống gian lận thương mại gây thất thu thuế. Hơn nữa, Cục
Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu còn là một trong những cánh tay đắc lực của
bộ máy giúp Tổng cục Hải quan trong việc tham vấn cho Nhà nước về đường
lối, chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu và giúp Tổng cục thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước của mình.
Cục Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu được chia thành 6 phòng, ban, đảm
nhận những công việc và chức năng khác nhau:
Phòng Kế hoạch: có chức năng xây dựng kế hoạch thu thuế và các khoản
thu khác ngoài thuế, phân bổ chỉ tiêu kế hoạch cho Hải quan các địa phương,
đồng thời thực hiện theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch thu thông qua số liệu
tổng hợp, thống kê kế toán thuế; theo dõi tình hình nợ thuế, phân tích số nợ
13
LỚP D36- 02
HỌC VIỆN TÀI
Nguyễn Phước Cẩm Chi Chuyên đề tốt nghiệp
thuế trong hạn, quá hạn từ đó sẽ có những biện pháp đôn đốc thu thuế, cưỡng
chế Hải quan.
Phòng Chế độ chính sách: tham gia cùng với Bộ Tài chính trong việc
hoạch định các chế độ chính sách về thuế, lệ phí, xây dựng các văn bản hướng
dẫn Luật thuế, phí, lệ phí có liên quan tới hàng hoá xuất nhập khẩu, tham gia
kiểm tra, xử lý các vi phạm về chính sách thuế, phí, lệ phí.
Phòng Ấn chỉ: thực hiện công tác quản lý đối với toàn ngành Hải quan
trong việc cấp phát, sử dụng và quyết toán ấn chỉ thuế, đảm bảo cung cấp kịp
thời, đúng, đủ các loại ấn chỉ phục vụ công tác thu thuế, phí, lệ phí.
LỚP D36- 02
HỌC VIỆN TÀI
Nguyễn Phước Cẩm Chi Chuyên đề tốt nghiệp
Châu lục
Xuất khẩu Nhập khẩu
Trị giá
(triệu USD)
Tỷ
trọng
(%)
So với
năm 2000
(%)
Trị giá
(triệu USD)
Tỷ
trọng
(%)
So với
năm 2000
(%)
Châu Á 8.776,16 58,40 1,79 12.880,12 79,69 0,26
Châu Âu 3.537,16 23,54 6,10 2.183,44 13,51 18,82
Châu Mỹ 1.461,05 9,72 38,09 651,37 4,03 18,67
Châu Đại Dương 1.078,30 7,18 -16,70 409,77 2,54 15,23
Châu Phi 174,57 1,16 23,99 37,63 0,23 -19,79
Tổng cộng 15.027,26 100,00 4,00 16.162,34 100,00 3,37
Trong đó
ASEAN 2.510,72 16,71 -3,51 4.237,49 26,22 -4,81
EU 2.998,59 19,95 5,47 1526,38 9,44 15,78
triệu USD.(Phụ lục số 1)
* Về công tác kiểm tra, giám sát quản lý hải quan:
Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại trong những năm vừa qua vẫn
tiếp tục diễn biến phức tạp, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, đáng chú ý là gian
lận qua giá tính thuế, mẫu mã hàng hoá, xuất xứ hàng hoá, lợi dụng sơ hở trong
chính sách để trốn thuế... vì thế công tác kiểm tra hàng hoá, chống gian lận
thương mại, chống hàng lậu càng trở nên quan trọng hơn.
Năm 97-98, trên địa bàn nhiều tỉnh, thành đã tiến hành 229 cuộc thanh tra,
kiểm tra, kiến nghị truy thu 13 tỉ đồng; 38.629 USD, phát hiện kiến nghị xử lý
kỷ kuật nhiều cá nhân có sai phạm.
Năm 1999, đã phát hiện lập biên bản 257 vụ vi phạm, trị giá tang vật ước
tính khoảng 61,1 tỉ đồng, đã ra quyết định xử lý 248 vụ, trong đó phạt tiền 131
vụ, tịch thu 102 vụ, phạt theo luật thuế 4 vụ.
Trong năm 2001, Cục KTTT XNK kết hợp với hải quan cửa khẩu sân bay
Tân Sơn Nhất đã bắt được 4 vụ vận chuyển trái phép ma tuý xuất cảnh, nhập
cảnh cùng hàng hoá theo đường hàng không.
Cũng trong năm 2001 toàn ngành đã thu ngân sách vượt mức kế hoạch
hơn 16,6% do chống gian lận thương mại có hiệu quả.
Những kết quả trên đã khẳng định Cục KTTT XNK là cánh tay đắc lực
trong bộ máy của Tổng cục Hải quan, đóng vai trò chủ yếu trong việc thực hiện
chính sách xuất nhập khẩu, kiểm soát nhập khẩu trong cả nước.
Trọng tâm năm 2002 chỉ tiêu giao thu ngân sách là 33.300 tỉ đồng, chiếm
1/3 tổng số thu cho NSNN vì thế toàn ngành Hải quan nói chung và Cục Kiểm
tra thu thuế xuất nhập khẩu nói riêng phải nỗ lực phấn đấu hết sức mình.
2.2. Quy trình thu thuế XNK tại Cục Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu.
2.2.1. Nội dung của quy trình thu thuế mới theo Quyết định số
1494/2001/QĐ-TCHQ và nét đổi mới so với quy trình cũ.
2.2.1.1. Nội dung của quy trình.
Quy trình hành thu này được xây dựng theo nguyên tắc:
o Chặt chẽ, đúng chính sách;
trường hợp vượt thẩm quyền của Chi cục trưởng;
g) Ra thông báo thuế.
2. Nhiệm vụ của Lãnh đạo Chi cục phụ trách quy trình thủ tục hàng xuất
khẩu:
a) Quyết định hình thức, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá;
b) Ký xác nhận đã làm thủ tục hải quan và thông quan đối với trường
hợp quy định đối với lô hàng thuộc đối tượng miễn thuế, hàng có thuế suất
0% và được miễn kiểm tra thực tế; hoặc:
Chuyển hồ sơ cho bộ phận làm nhiệm vụ kiểm tra thực tế hàng hóa, tính
thuế (đối với trường hợp hàng xuất khẩu thuộc đối tượng chịu thuế và kiểm
tra thực tế);
c) Giải quyết các vướng mắc vượt thẩm quyền của công chức hải quan cấp
dưới.
17
LỚP D36- 02
HỌC VIỆN TÀI
Nguyễn Phước Cẩm Chi Chuyên đề tốt nghiệp
Bước 2: Kiểm tra thực tế hàng hoá, kiểm tra tính thuế.
Bước này do một lãnh đạo Đội phụ trách. Việc kiểm tra thực tế hàng hoá
và kiểm tra tính thuế do 02 công chức hải quan cùng thực hiện (không phân biệt
mỗi người một việc). Các công chức thực hiện nhiệm vụ bước 2 này phải làm
đầy đủ và chịu trách nhiệm về các công việc sau đây:
a) Đối với lô hàng phải kiểm tra: Kiểm tra thực tế hàng hoá theo quy định
hiện hành và quyết định của Lãnh đạo Chi cục; xác nhận kết quả kiểm tra thực
tế hàng hoá vào tờ khai hải quan;
b) Đối với hàng thuộc đối tượng chịu thuế: Kiểm tra việc tự tính thuế của
người khai hải quan, đối chiếu nội dung tự kê khai, tự tính thuế của người khai
hải quan với kết quả kiểm tra thực tế hàng (nếu có) và chính sách về thuế, giá,
quyết định số thuế phải nộp (nếu có);
c) Chuyển hồ sơ hải quan cho Lãnh đạo Đội trực tiếp điều hành khâu kiểm
d) Đối chiếu với chính sách quản lý xuất khẩu, chính sách về thuế, giá đối
với lô hàng xuất khẩu;
e) Nhập dữ liệu của tờ khai hải quan vào máy tính và đăng ký tờ khai hải
quan;
f) Chuyển hồ sơ hải quan cho lãnh đạo Chi cục;
g) Lập biên bản vi phạm (nếu có) và:
- Đề xuất xử lý đối với hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử lý của Chi
cục trưởng; hoặc:
- Hoàn chỉnh hồ sơ để Lãnh đạo Chi cục báo cáo cấp trên xử lý đối với
trường hợp vượt thẩm quyền của Chi cục trưởng.
2. Nhiệm vụ của Lãnh đạo Chi cục phụ trách quy trình thủ tục nhập khẩu:
a) Quyết định hình thức, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá;
b) Giải quyết các vướng mắc vượt thẩm quyền của công chức hải quan cấp
dưới;
c) Ký xác nhận đã làm thủ tục hải quan và thông quan đối với lô hàng
thuộc đối tượng miễn thuế, hàng có thuế suất bằng 0%; hoặc chuyển hồ sơ hải
quan cho bước 2 đối với lô hàng phải kiểm tra thực tế; hoặc chuyển hồ sơ hải
quan cho bước 3 đối với lô hàng miễn kiểm tra thực tế.
Bước 2: Kiểm tra thực tế hàng hoá.
Bước này do một Lãnh đạo Đội phụ trách. Việc kiểm tra hàng hoá phải do
ít nhất 02 công chức hải quan thực hiện và chịu trách nhiệm về các công việc
sau đây:
a) Kiểm tra thực tế hàng hoá theo quy định và quyết định của Lãnh đạo
Chi cục;
b) Xác nhận kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá vào tờ khai hải quan;
c) Đối với lô hàng phải lập biên bản vi phạm thì:
- Đề xuất xử lý đối với hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử lý của Chi
cục trưởng; hoặc:
- Hoàn chỉnh hồ sơ để lãnh đạo Chi cục báo cáo cấp trên xử lý đối với
trường hợp vượt thẩm quyền của Chi cục trưởng;