Giáo trình cơ sở địa lý tự nhiên - Pdf 12

Giáo trình
Cơ sở địa lý tự nhiên
1
ChươngI: ĐỊA LÝ HỌC LÀ HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC.
I -ĐỊA LÝ HỌC HIỆN ĐẠI.
Địa lí học hiện đại – mặc dù là một từ về số ít-trong thực tế là một số nhiều chỉ
một hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Thế nào là một hệ thống khoa học? Đấy là sự kết hợp của nhiều bộ môn khác
nhau với các chức năng riêng biệt của chúng nhưng đồng thời được thống nhất
bởi một chức năng chung.
Nói một cách khác, tất cả các khoa học cùng nằm trong một hệ thống đều một
đối tượng nghiên cứu chung, mặc dù mỗi khoa học này lại có đối tượng nghiên
cứu riêng. Hơn thế nữa, các khoa học bộ phận trong cùng một hệ thống khoa học
sử dụng một phương pháp luận chung, một ngôn ngữ (hệ thống khái niệm-thuật
ngữ) chung, không kể rằng chúng có thể cùng sử dụng một số phương pháp
chung được lựa chọn.
Hệ thống các khoa học địa lí được hình thành phát triển từ địa lí học thống nhất
cổ đại, nguyên chỉ được quan niệm như một kiểu từ điển bách khoa tự nhiên,
dân cư và tài nghiên của một khu vực hay của một đất nước. Nhưng người ta có
thể thấy rõ quan niệm về khuynh hướng đó khi đọc các tác phẩm địa lí của các
nhà địa lí từ thế kỉ XVIII trở về trước. Sự phân dị của địa lí học rõ rệt nhất là từ
thế kỉ XVIII trỏ đi, theo hai hướng: Hướng phân tích, nghiên cứu từng thành
phần riêng biệt của tự nhiên hay từng ngành kinh tế(như nghiên cứu địa hình khí
hậu, thuỷ văn, sinh vật, dân cư, nông nghiệp, công nghiệp…). Hướng tổng hợp
nghiên cứu các thể tổng hợp tự nhiên hay kinh tế.
Dù cho có sự phân dị đó (điều mà hiện nay vẫn còn xảy ra), hệ thống khoa học
địa lí vẫn thống nhất từ trong bản chất của nó. Đấy là vì giữa khoa học bộ phận
cấu tạo nên các khoa học địa lí, tồn tại những quan hệ rất chặt chẽ kết hợp chúng
lại với nhau do chúng có cùng một nhiệm vụ chung phải giải quyết là: Trên cơ
sở nhận thức các quy luật phát triển của môi truờng địa lí( hiểu theo nghĩa rộng
nghĩa là bao quát các quyển vô cơ như thạch quyển và thuỷ quyển, các quyển

chỉnh thì một khoa học bộ phận nghiên cứu một thành phần riêng biệt trong lớp
vỏ.
Địa mạo học là khoa học nghiên cứu địa hình bề mặt đất nói chung, các dạng địa
hình nói riêng và nguồn phát sinh, quá trình phát triển của chúng. Khí hậu học là
khoa học nghiên cứu khí hậu của Trái Đất, sự phân bố của chúng và những sự
biến đổi trong lịch sử. Địa lí thuỷ văn là khoa học về thuỷ quyển, kể cả đại
dương và băng hà. Hiểu theo nghĩa hẹp đấy là khoa học về cân bằng nước, biển,
lục địa, về dòng chảy trên mặt ( học thuyết về sông ngòi) và về đầm hồ ( hồ đầm
học). Thổ nhưỡng học là khoa học về cấu trúc, thành phần và sự phát sinh và
phát triển cũng như sự thay đổi trong không gian của đất, kể cả các biện pháp sử
dụng hợp lí tài nguyên tự nhiên đó. Địa lí sinh vật có thể được nghiên cứu như
tập hợp của địa lí thực vật và địa lí động vật hoặc như là học thuyết về các quy
3
luật phân bố sinh vật, về các sinh vật quần. Cổ địa lí học nghiên cứu lịch sử của
lớp vỏ địa lí(cổ địa lí đại cương) hoặc lịch sử phát triển của từng khu vực( cổ địa
lí khu vực) trong toàn bộ thời gian trước thời kì hiện đại. Cơ sở địa lí tự nhiên và
Cảnh quan học đều là các khoa học nghiên cứu các địa tổng thể, tuy có khác
nhau về cấp của đối tượng. Acmăng L.D(1968) từ lâu đã có ý kiến rằng khó lòng
có thể vạch một ranh giới rõ rệt giữa hai khoa học này vì có những lãnh vực
trung gian mà cả hai cùng có thể nghiên cứu. Thí dụ cả Cơ sở địa lí tự nhiên
( hay Địa lí tự nhiên đại cương) lẫn cảnh quan học đều nghiên cứu sự phân dị
của lớp vỏ địa lí. Vì vậy Prêobrajenxki V.S (1972) cho rằng chỉ có truyền thống
hơn thế nữa yêu cầu của thực tiễn mới để tồn tại song song hai học thuyết đó, do
lớp vỏ địa lí là một thành tạo quá lớn và quá phức tạp làm cho sự nghiên cứu
khó mà được giới hạn. Cũng có thể trong tương lai hai khoa học này nhập làm
một chăng nhưng hiện nay vẫn phải tính chúng như hai á hệ thống độc lập.
Nhóm các nhà khoa học địa lí kinh tế là nhóm khoa học nghiên cứu sự phân bố
sản xuất. Bản thân địa lí kinh tế là “ khoa học xã hội thuộc hệ thống các khoa
học địa lí và nghiên cứu sự phân bố địa lí sản xuất, hiểu như sự thống nhất của
sức sản xuất và các quan hệ sản xuất, các điều kiện và các đặc điểm của sự phát

thêm từ “và”, các tác giả muốn nhấn mạnh đến quyền ngang nhau được nghiên
cứu hoặc thuần tuý về mặt kinh tế hoặc là thuần tuý về mặt xã hội, nhưng không
phải là hoàn toàn tách biệt với nhau.
Các công trình nghiên cứu địa lí tự nhiên hay địa lí kinh tế của những lãnh thổ
cụ thể ( nước, vùng, địa phương) tìm cách nêu lên những đặc điểm tổng hợp, bao
gồm việc mô tả tự nhiên và có khi cả kinh tế của lãnh thổ đó. Đấy là các công
trình thuộc địa lí khu vực( hay địa lí các nước), chúng có một giá trị to lớn về
mặt thông tin.
Ngoài các khoa học nói trên, trong gia đình các khoa học địa lí còn có một số
môn mang tính chất liên ngành điển hình nhất là môn địa phương chí. Trong
thực tế, bộ môn địa phương chí không còn được coi như một khoa học riêng biệt
nữa. Trong địa phương chí, người ta không chỉ cung cấp các tư liệu về tự nhiên,
xã hội, kinh tế mà còn đè cập đến văn hoá, lịch sử và cả chính trị. Điều quan
trọng để giữ được tính chất địa lí trong địa phương chí là phải nêu cho dược các
sự kiện nhiều mặt của địa phương, chứ không phải tập hợp cơ giới các tư liệu.
Địa đồ học giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống các khoa học địa lí. Thông
thường giữa địa lí học và địa đồ học không có sự khác biệt lớn về nhiệm vụ nếu
xuất phát từ định nghĩa của địa đồ học như là khoa học nghiên cứu sự phân bố
các đối tượng tự nhiên và kinh tế và các mối quan hệ giũa chúng bằng bản đồ.
Cũng có ý kiến cho rằng địa đồ học thuộc nhóm các khoa học về các phương
tiện và hình thức phản ánh thực tại, là khoa học về một loại ngôn ngữ đặc biệt là
ngôn ngữ bản dồ để biểu diễn các đặc điểm của lớp vỏ địa lí. Trong trường hợp
này, rõ ràng có sự phân công giữa địa lí học và địa đồ học nhưng địa lí học phải
đi bước trước (bước nghiên cứu) và địa đồ học phải đi bước thứ hai (bước biểu
diễn bằng hệ thống các kí hiệu). Quan niệm sau này thu hẹp hoạt động của địa
đồ học tuy không làm giảm mối quan hệ chặt chẽ giữa địa đồ học và địa lí học,
nhưng ít được chấp nhận hơn.
Khi xét vấn đề cấu trúc của các khoa học địa lí, người ta có thể nêu câu hỏi sau
5
đây: nếu địa lí tự nhiên về mặt phân loại khoa học thuộc về hệ thống các khoa

địa lí, 4) cả hai đều nghiên cứu các quan hệ giữa con người và tự nhiên. Vì vậy
có thể xác lập các quy luật địa lí chung, kể cả các phương pháp nghiên cứu
chung. Những người ủng hộ địa lí thống nhất ở Liên Xô cũng cho rằng quan
niệm về địa lí thống nhất có thể thấy biểu hiện rõ nhất trong địa lí các nước.
Một số lớn các nhà địa lí Liên Xô- chủ yếu là các nhà địa lí tự nhiên – không tán
thành quan điểm này. Thí dụ để trả lời về đối tượng lãnh thổ được coi như là đối
6
tượng nghiên cứu chung, họ cho rằng nhà địa lí không nghiên cứu một lãnh thổ
trừu tượng mà là một lãnh thổ cụ thể, rằng lớp vỏ địa lí – kể cả môi trường địa lí
là do địa lí tự nhiên nghiên cứu và quan hệ giữa con người và tự nhiên tuy thuộc
lĩnh vực nghiên cứu của địa lí học nhưng cũng là lĩnh vực nghiên cứu của nhiều
khoa học khác, kể cả triết học.
Nói chung, vấn đề đã được giải quyết Aláep E.B. khi tổng kết vấn đề này (1983)
cho rằng đây là các cuộc thảo luận “ vô bổ” của những năm 60, mà không có kẻ
thắng cuộc. Hiện nay phần lớn các nhà địa lí Xô viết cho rằng hệ thống các khoa
học địa lí – dù là muốn xét cấu trúc theo bất kì phương án nào-cũng gồm có 2
“cánh” thể tổng hợp các khoa học tự nhiên và thể tổng hợp các khoa học kinh tề-
xã hội và sự hợp tác khoa học giữa hai “ cánh” này ngày càng trở thành rõ rệt.
Các cơ sở lí thuyết, phương pháp luận và tổ chức cho một sự hợp tác như vậy đã
được củng cố. Có thể hiểu sự tranh luận này ở Liên Xô là do trong một thời gian
dài, địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế ở đó hoạt động ngày càng riêng rẽ và tách rời
với nhau đến mức nhà địa lí lão thành N.N Baranxki phải lên tiếng báo động.
Đấy cũng có thể là kinh nghiệm lớn với địa lí học ở Việt Nam.
Cuối cùng, vị trí của môn địa lí khu vực không phải không gây tranh luận, xét về
mặt phân loại khoa học. Ở phương Tây từ lâu cũng theo tập quán người ta vẫn
chấp nhận rằng địa lí học phân ra hai phần chính: địa lí đại cương và khu vực, ở
Liên xô trường phái Anusin D.N (1954) cùng với Krube, Bocdop …chứng minh
mối quan hệ chặt chẽ giữa hai phần này và ý nghĩa của phần này với phần khác.
Mặc dù sự phân chia của Anusin D.N. ngày nay không còn thoả mãn các nhà địa
lí do sự phát triển của khoa học địa lí, nhưng về nguyên tắc, vẫn có thể chấp

sinh học. Địa lí tự nhiên không những chỉ những định luật,những kiến thức của
các khoa học chính xác này mà ngay cả một số phương pháp của chúng. Địa lí
tự nhiên kết hợp với vật lí học tạo ra môn địa vật lí, với hoá học thành địa hoá
học, với sinh học thành địa lí sinh vật các phương pháp toán học ngày càng xâm
nhập vào địa lí tự nhiên làm cho các khoa học thuộc nhóm này ngày càng trở
thành những khoa học chính xác.
Quan hệ giữa địa lí tự nhiên và địa chất học trong thế kỉ này đã thay đổi nếu có
địa chất học là khoa học về cấu tạo và sự phát triển của quả đất nói chung thì
mặc dù xưa kia địa lí tự nhiên đã sinh ra địa chất học, nay cũng chỉ với địa chất
học nằm trong hệ thống các khoa học Trái Đất. Nếu hiểu địa chất học là khoa
học về vỏ quả đất (coi như một thành phần của lớp vỏ địa lí) thì địa chất học
nằm trong đại lí học.
Như vậy, vấn đề cũng không phải đơn giản, còn trong thực tế thì vẫn có chỗ để
bàn luận. Thí dụ các nhà địa mạo được đào tạo trong các chuyên ngành địa lí và
địa chất, vậy thì địa mạo là khoa học bộ phận của địa lí học hay của địa chất
học? Cũng có ý kiến cho rằng địa mạo học trong địa lí học chú trọng nhiều hơn
đến các quá trình ngoại trong khi trong địa lí địa chất học thì nặng nhiều hơn về
phần nội lực. Có thể là như vậy trong thực tế nhưng điều đó về bản chất không
đúng, vì bản thân đối tượng nghiên cứu (tức là địa hình bề mặt đất ) là kết quả
của sự tác động thời và tương hỗ của nội lực và ngoại lực, vì vậy không thể coi
nhệ bất kì mặt nào. Do đó về khía cạnh phân loại khoa học, có thể coi như vấn
đề chưa được giải quyết.
8
Trong thời gian từ 1960 trở lại đây, người ta hay nói nhiều đến sinh thái học
trong địa học, nhiều đến mức có sự nhầm lẫn (nếu không nói là tranh chấp)giữa
hai khoa học này. Tất nhiên, trong tình hình phát triển của khoa học hiện nay,
không ai còn coi sinh thái học chỉ là một khoa học ”nghiên cức các điều kiện
sinh tồn của sinh vật và các mối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật và môi trường
trong đó chúng sinh sống” (Odum_E.và các tác giả khác ), nhưng cũng khó lòng
chấp nhận một “sinh thái học toàn cầu” (Commone_B.(1994) hay “một khoa

9
(hay địa phương khác), khác những điều kiện và tài nguyên tự nhiên nào đã
được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm nói trên (Sauxkin,1958). Những
người không nắm được sự khác biệt đó thường mắc phải sai lầm trong khi
nghiên cứu, hoặc nhảy qua một lĩnh vực khác không thuộc chuyên môn của
mình nên không sâu.
Trong thời đại ngày nay, người ta thấy có sự kết hợp nhiều mặt giữa địa lí học
(cả tự nhiên lẫn kinh tế )với hàng loạt các khoa học khác, tạo thành nhiều khoa
học trung gian mới y như địa lí, địa lí giải trí - du lịch …Số lượng các khoa học
trung gian ngày càng tăng cùng với sự phát triển của khoa học và kĩ thuật nói
chung. Vì vậy có thể dự đoán rằng trong vài chục năm tới, hệ thống các khoa
học trung gian sẽ ngay càng chiếm một vị trí quan trọng trong địa lí học. Alaep
E.B(1983) cho rằng các khoa học trung gian này là những hướng khoa học đặc
biệt của địa lí học, cùng với địa lí trong nhà trường, Địa lí ứng dụng, địa lí lí
thuyết.
IV-PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ HỆ PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐỊA LÍ HỌC.
Lí thuyết và phương phương pháp luận nhận thức là cơ sở triết học trực tiếp của
bất kì phương pháp luận nghiên cứu khoa học cụ thể nào (DzebiZ.E1986).
Khoa học địa lí có lí thuyết và phương pháp luận riêng của nó. Người ta hiểu lí
thuyết của một khoa học là một hệ thống kiến thức được kết cấu chặt chẽ, không
mâu thuẫn với nhau (ở trình độ hiện nay ) nhằm cắt nghĩa thế giới bên ngoài hay
những yếu tố riêng biệt của nó,và tất nhiên đã được kiểm nghiệm hay tính
toán(Alaep E.B.1983). Phương pháp luận điều thông thường _là học thuyết về
phương pháp khoa học của nhận thức phương pháp luận phát triển trong khoa
học những yếu tố mà không có chúng, không có sự phát triển của chính khoa
học đó.
Nói một cách hình tượng, phương pháp luận là quan niệm về lý thuyết
(Alaep,1983) của một khoa học nhất định.
Phương pháp luận có nhiều mức. Mức cao nhất và chung cho nhiều khoa học là
phương pháp luận phố biến: duy vật biện chứng của Mac-Lênin, tức là học

thức đã tiến lên đến xác lập được các thành phần của tự nhiên và xã hội, theo
quan điểm lịch sử nhưng giới hạn còn là ở chỗ quan niệm thế giới như là tổng
của các hiện tượng. Bắt đầu từ thế kỉ XIX-XX, nhận thức đã được nâng cao dến
trình độ tổng hợp-động lực còn hạn chế có lẽ là ở chỗ đến một chừng mực nào
đó vẫn có sự tách rời giữa các hiện tượng tự nhiên và xã hội,giữa thê giới vĩ mô
và vi mô. Giai đoạn nhận thức hiện nay có thể đang bước đầu phát hiện ra các
quy luật địa lí, không những của hành tinh quả đất mà cả các hành tinh khác
trong hệ Mặt Trời và một phần của vũ trụ.
Như vậy phương pháp luận hiện nay của địa lí học phản ánh trong các quan
điểm tổng hợp và động lực (bao gồm cả dự báo), còn về mặt thực tiễn được phản
ánh trong quan điểm kiến thức.
Quan điểm (quan niệm) là tổng hợp các yếu tố cơ bản nhất của lí thuyết (hay của
những học thuyết ),được phát biểu dưới dạng có thể được ứng dụng trong thực
tiễn và được chuyển hóc thành Algorit của sự giải quyết một vấn đề cụ thể
(Alaep E.B,1983).hệ phương pháp là tổng hợp những biện pháp –kĩ thuật và
hình thức tổ chức để tiến hành nghiên cứu khoa học.vấn đề hệ phương pháp rất
11
rộng đối với đại lí học nói chung(vì bao gồm cả cho địa lí tự nhiên và địa lí kinh
tế xã hội ) nên sẽ chỉ được trình bày riêng cho địa lí tự nhiên ở mục 7 của
chương này.
V-ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN.
Trong qúa trình phát triển của địa lí học, đối tượng nghiên cứu của dịa lí tự
nhiên bao giờ cũng là tự nhiện bề mặt đất.khái niệm này đã có từ cổ đại và hiện
vẫn còn thấy được dùng ở nhiều nước phương tây.Tuy nhiên cùng với sự phát
triển của bản thân khoa học địa lí đồng thời với sự phát triển của khoa học kĩ
thuật nói chung, khái niệm địa lí tự nhiên ngày càng có nội dung phong phú và
chính xác hơn.
Thể tổng hợp địa lí tự nhiên là khái niệm cơ bản thứ nhất mà khoa học địa lí tự
nhiên đã cấu tạo được (còn gọi là địa tổng thể,địa hệ thống,thể tổng hơpj lãnh
thổ tự nhiên) dù là thong qua sự nhận thức về sự phân bổ của các vật thể trong

quyển sinh vật) bởi tính phức tạp đặc biệt trong thành phần cấu tạo và cấu trúc
của nó.
Có thể định nghĩa lớp vỏ địa lí như là lớp vỏ của quả đất gồm có các lớp vỏ bộ
phận ( khí quyển, thạch quyển, thuỷ quyển, thổ quyển và sinh quyển) xâm nhập
và tác động lẫn nhau. Chú ý là nếu như toàn bộ thuỷ quyển và sinh vật quyển
tham gia một cách trọn vẹn vào lớp vỏ địa lí thì thạch quyển chỉ gồm có miền
phát sinh trên và khí quyển cũng chỉ có tầng đói lưu nhiều nhất là cho đến giới
hạn dưới của tầng ôzon, như vậy chiều dày lớn nhất của lớp vỏ địa lí ứoc chừng
60 km. Các thành phần của lớp vỏ địa lí tự nhiên được thể hiện rõ ràng nhất ở
ngay bề mặt đất, bề mặt đó đồng thời cũng là nơi sinh sống của xã hội loài
người. Cao hơn hay thấp hơn bề mặt này, cấu trúc của lớp vỏ địa lí nghèo dần
đi.
Vì vậy khoa học địa lí không nghiên cứu toàn bộ lớp vỏ rắn của lớp vỏ quả đất,
các tầng cao của khí quyển mà chỉ nghiên cứu bề mặt đất hay là lớp vỏ địa lí,
nghĩa là bộ phận phức tạp nhất của vỏ quả đất.
Nhiều tác giả đã tìm cách định nghĩa khái niệm này bằng cách khẳng định những
điều kiện cơ bản để một cảnh quan có thực có thể được biệt hoá. N.A Xontiep đã
đưa ra các điều kiện về tính đồng nhất của nền địa chất, của lịch sử phát triển và
của khí hậu để làm cơ sở cho định nghĩa của mình ( như vậy là đi từ dưới lên).
A.G Isaxenko lại xuất phát từ quan điểm cho rằng cảnh quan là một bộ phận của
lớp vỏ địa lí hiểu như là một bộ phận của những đơn vị lãnh thổ cấp cao phức
tạp hơn (như vậy là đi từ trên xuống). Trong thực tế ý kiến của hai ông không
đối lập nhau mà bổ sung cho nhau.
S.V Kaletxnic ( 1959) đã đưa ra định nghĩa sau đây: “Cảnh quan địa lí là một bộ
phận của bề mặt đất, về mặt định tính khác hẳn với các bộ phận khác được bao
bọc bởi những ranh giới tự nhiên và là một sự tập hợp các đối tượng và hiện
tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật và thống nhất trong bản thân nó,
được biểu hiện một cách điển hình trên một không gian rộng lớn và có quan hệ
không tách rời về mọi mặt với lớp vỏ địa lí”. Như vậy, theo định nghĩa này, bất
kí một cảnh quan nào cũng được coi như là kết quả của sự phát triển và phân dị

không nói là đại số chấp nhận làm đối tượng nghiên cứu của địa lí tự nhiên.Viện
Địa lí, Viện hàn lâm khoa học Liên xô. Trường Đại học Tổng hơp Maxcơva
trong đó có các nhà địa lí kinh tế và nói chung các thành viên của đại hội địa lí
toàn Liên xô lần thứ III đề xướng, hoặc là tán thành quan niệm này, đại diện là
Mackốp K.K(1951,19600), Saukin Iu.G(1948), Acmang D.L (1951,1960),
Zabelin I.M (1952), Gvodetxki N.A (1961), Zvônkôva T.V (1961). Ở phương
Tây, cũng từ những năm đó, nhiều nhà địa lí hàng đầu cũng đưa ra ý kiến tương
tự như E.Sao (1965), Stralơ A(1965) ở Hoa kì, Biarô.P(1959) ở Pháp, Smithusen
14
J.(1953) ở Cộng hoà LB Đức
Việc xác định môi trường địa lí là đối tượng nghiên cứu của địa lí tự nhiên có ưu
thế là nhìn tự nhiên bề mặt đất không phải thuần tuý là một vật thể vật lí mà là
môi trường hoạt đọng kinh tế của con người. Bằng cách đó, người ta nhấn mạnh
đến các mối quan hệ trong các cuộc khảo sát địa lítự nhiên với thực tiễn và với
hoạt động sản xuất của xã hội.
VI-SỰ PHÂN CHIA LỚP VỎ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CỦA QUẢ ĐẤT. KHÔNG
GIAN ĐỊA LÍ.
Sự phân chia lớp vỏ địa lí của quả đất không chỉ có thể quan niệm theo thành
phần cấu tạo gọi là phân chia dọc (thẳng đứng) mà còn theo khu vực (gọi là
phân chia ngang) (K.K Mackôp).
Các thành phần cấu tạo lớp vỏ điạ lí gồm có 5 quyển: khí quyển, thạch quyển,
thuỷ quyển, quyển thổ nhưỡng và quyển sinh vật, với giới hạn như đã nói ở trên.
Một số tác giả muốn đưa vào như là một thành phần của lớp vỏ địa lí quyển
nhân sinh (hay là quyển trí tuệ của Vecnatxki, quyển kỹ thuật) gồm tổng hợp
những vật thể nhân tạo do con người lấy vật chất từ môi trường bao quanh mà
cấu tạo nên.
Trong toàn bộ các thành phần cấu tạo này thì thạch quyển (và địa hình thuộc
quyển ấy ) là thành phần bảo thủ hơn cả, ảnh hưởng một cách sâu sắc và lâu dài
đến các thành phần khác. Sinh quyển là thành phần động nhất bao gồm các
thành phần có sinh vật của khí quyển, của thạch quyển và toàn bộ thuỷ quyển.

Tác dụng của không gian địa lí thể hiện ở 2 mặt: nó vừa là một màn che chắn
vừa là để xuyên qua. Không gian địa lí che chắn cho quả đất khỏi sự công phá
của gió Mặt Trời, tầng Ôzôn trong đó hấp thụ các tia cực tím (như sẽ nói ở
chương 3), còn nó để lọt qua các bức xạ sóng dài (các sóng ánh sáng) làm cho
các quá trình quang hợp có thể xảy ra và bằng cách đó, cung cấp Oxi cho khí
quyển và đại dương.
Ảnh hưởng bên trong của không gian địa lí đến lớp vỏ địa lí được biểu hiện
thông qua tác động của năng lượng bên trong qủa đất. Chính năng lượng bên
trong này (còn gọi là nội lực ) đã cấu tạo lên địa hình lồi lõm của bề mặt đất mà
những bộ phận lớn nhất là các lục địa và các bồn đại dương, không kể rằng các
lớp muối trữ trong các lớp đất đã là nguyên nhân làm thay đổi hoá học của nước
ngầm và đại dương …Khái niệm không gian địa lí xác định rõ hơn lớp vỏ địa lí
và biểu diễn mối quan hệ giữa lớp vỏ đó với các lực tác động đến nó từ vũ trụ và
từ bên trong bản thân hành tinh quả đất.
VII. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trong quá trình phát triển của địa lí học, từ thời kì cổ đại đến nay một hệ thống
các phương pháp nghiên cứu địa lí đã được xây dựng dần dần,nói chung là theo
hướng ngày càng đi dến định lượng.có thể nêu các phương pháp chủ yếu sau
đây:
16
Phương pháp mô tả so sánh thông thường được tiến hành kết hợp với phương
pháp thực địa là phương pháp cổ truyền của địa lí học. Người đi khảo cứu địa lí
phải dừng lại ở những điểm nhất định mô tả hiện tượng và so sánh với các hiện
tượng tương tự đã quan sát được trước kia, lập các lát cắt, vẽ sơ đồ … Trên cơ
sở đó người ta có thể xác lập một số quan hệ, cắt nghĩa nguồn gốc và ngay cả dự
báo các quá trình phát triển. “Đi nhìn và suy nghĩ” câu nói nổi tiếng này của
W.M Đavít có thể coi như tóm tắt những khâu chủ yếu cần tiến hành khi sử
dụng phương pháp mô tả so sánh. Cần chú ý rằng mặc dù có một số ý kiến cho
rằng phương pháp này đã lỗi thời nhưng quan sát và mô tả vẫn là bước đầu phải
làm trong nghiên cứu khoa học và không phải chỉ trong đại lí học mà thôi.

đời ngay trong thế kỉ XX nhờ có các công trình của V.I Vecnatxki,
A.E.Fecxman (Liên xô), F.Clac(Mĩ), V.M Gônxmit(Na uy) dựa trên việc xác
định một cách chính xác các nguyên tố hoá học có được trong đá mẹ, khoáng
vật, nước và sinh vật và sự di chuyển của các nguyên tố đó đến các môi trường
khác, phương pháp địa hoá cho phép định lượng các sự trao đổi vật chất giữa
các thành phần cấu tạo nên lớp vỏ địa lí. Địa hoá học cảnh quan được cấu tạo
trên cơ sở địa hoá học nhằm nghiên cứu sự di chuyển của các nghuyên tố hoá
học trong cảnh quan.
Phương pháp cổ địa lí giúp giúp cho việc xác lập lịch sử phát triển của lớp vỏ
địa lí và của từng cảnh quan địa lí trong toàn bộ thời gian trước thời kì hiện đại.
Các cứ liệu được dùng để tái lập lại quá khứ của lớp vỏ địa lí và các cảnh quan
là đá mẹ và cấu tạo nham tướng của chúng, đặc tính và sự sắp xếp của các vỉa
đá, các di tích và dấu vết của sinh vật hoá đá, các dạng địa hình tàn dư và nhiều
hiện tượng khác.cổ địa lí sử dụng rộng rãi các tài liệu khảo sát của cổ khí hậu
học, cổ địa mạo học, cổ thực vật học, cổ động vật học…
Phương pháp toán học càng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong địa lí học,
phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của khoa học đó. Cũng phải nói rằng
trước kia toán học cũng đã được sử dụng trong địa lí dưới dạng các số liệu, thí
dụ như số liệu về độ cao tương đối và độ cao tuyệt đối, độ dốc của sườn, độ mặn
của nước, các tính toán trong bản đồ…nhưng chỉ có ngày nay toán học mới
được ứng dụng rộng rãi đến mức có thể nói toán học hóa địa lí học. Toán học
hóa địa lí học, đấy là việc cấu tạo một hệ thống sử dụng các phương pháp toán
học (K.K Mackop) trong địa lí, các phương pháp này phải bao gồm tất cả các
mặt của hoạt động nghiên cứu giúp cho việc khái quát hóa và lựa chọn thông tin
địa lí, giúp cho việc tổng hợp địa lí. Theo B.Lgurơvit và IuG.xauxkin, nhiệm vụ
của việc toán học hóa địa lí là nghiên cứu bằng các phương pháp toán học các hệ
thống động lực phức tạp (tức là thay đổi trạng thái của chúng trong thời gian),
phân bố trong không gian (tức là theo lãnh thổ ) trong đó tự nhiên, sản xuất dân
cư (kể cả nhu cầu của dân cư) có quan hệ chặt chẽ với nhau bằng các quan hệ
nhân quả và quan hệ nghịch.

học được ứng dụng phổ biến các phương pháp cân bằng , người ta hiểu phương
pháp cân bằng là tổ hợp các thủ pháp toán học được xây dựng để giúp cho người
nghiên cứu khảo sát và dự báo động lực phát triển của các hệ thống phức tạp
bằng các so sánh về mặt định lượng và luồng vật chất (năng lượng và các tài
nguyên khác vào và ra khi hệ thống tác động tương hỗ với môi trường bao
quanh. Trong trường hợp có sự tương quan chặt chẽ giữa cái vào và cái ra
(input-output) thì người ta có thể nói về cân bằng tĩnh. Trong những trường hợp
khác, khi mối tương quan đó thay đổi thì các sự biến đổi đó quyết định hướng
phát triển của hệ thống: người ta gọi đấy là cân bằng động. Sự sai biệt giữa cái
vào và cái ra tuỳ trường hợp được gọi một cách khác nhau: trong địa vật lí và
an-bêđô, trong địa lí thương mại là sai ngạch, trong kinh tế là bội thu-thất thu
v.v , cũng có khi người ta gọi ngay bằng khái niệm cân bằng (cân bằng nhiệt và
cân bằng nước v.v ). Sự liệt kê các phương pháp nói trên không có nghĩa là
người nghiên cứu địa lí chỉ áp dụng một trong các phương pháp đó, trái lại
người đó thông thường sử dụng nhiều phương pháp cùng một lúc, phương pháp
này bổ sung, kiểm tra, phối hợp với phương pháp kia, làm cho kết quả nghiên
cứu được vững chắc và tin cậy.
19
VIII- ĐỊA LÍ HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG.
Địa lí học đã được giảng dạy từ lâu trong nhà trường, coi như một trong những
môn học có tác dụng giáo dục và giáo dưỡng rất lớn.
Khác với các bộ môn khác, việc giảng dạy địa lí trong nhà trường có đặc điểm là
phải đụng chạm đến rất nhiều vấn đề rộng và phức tạp cả về mặt tự nhiên lẫn
kinh tế xã hội. Các kiến thức về cấu trúc địa chất của lãnh thổ, về địa hình, nước
trên mặt và nước ngầm, khí hậu, thổ nhưỡng thực vật, về công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vận tải dân cư.v.v cũng như về các vùng tự nhiên vùng kinh
tế cung cấp cho học sinh nhiều khái niệm cần thiết trong cuộc sống.
Ngoài ra học sinh hiểu biết được đời sống của các dân tộc trên thế giới, những
quan hệ giữa người và người, giữa sức sản xuất và quan hệ sản xuất và sự tiến
bộ xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là học sinh làm quen được với các phương

Những cán bộ giảng dạy và sinh viên trường Đại học Sư phạm cần chú trọng
theo dõi và góp phần vào việc giải quuyết những vấn đề nói trên trong hoạt động
và nghiên cứu của mình. Như thế một môn địa lí mới có thể tỏ rõ được sự sống
của nó trong các khoa học.
21
ChươngII: CÁC GIAI ĐOẠN CHÍNH TRONG NHẬN
THỨC VỀ BỀ MẶT QUẢ ĐẤT VÀ CÁC GIAI ĐOẠN
PHÁT TRIỂN CHÍNH CỦA ĐỊA LÍ HỌC.
Kiến thức khoa học nào cũng cần thiết cho con người nhưng cần thiết với cuộc
sống hàng ngày ngay cả với người nguyên thuỷ là kiến thức địa lí. Trong quá
trình kiếm sống và đấu tranh để tồn tại, con người đã tích luỹ được vô số tri thức
địa lí (quan sát thiên nhiên, xác định phương hướng, tìm kiếm cây cỏ ăn được
v.v…) và đã truyền miệng cho nhau những kinh nghiệm từ đời này sang đời
khác. Nhưng chỉ từ khi có chữ viết thì các kiến thức mới được gì chép lại thành
hệ thống, tạo điều kiện cho sự ra đời rất sớm của địa lí học.
I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC Ý NIỆM ĐỊA LÍ TRONG THẾ GIỚI CỔ ĐẠI.
Các sách vở còn lưu lại được những thời kì này( từ thế kỉ thứ V trước công
nguyên đến thế kỉ thứ V sau công nguyên) hiện còn rât ít ỏi nên thông thường
người ta chỉ nêu ra những (lò văn minh) đầu tiên của các dân tộc sống quanh Địa
Trung Hải, ở cổ Trung Hoa và Ấn Độ.
Những ý niệm địa lí đầu tiên được hình thành thông qua những cuộc đi ven biển,
những hành trình dài trên đất liền, trong đó người quan sát và ghi chép, mô tả
các sự kiện. Với khả năng của thời bấy giờ, người ta chỉ có thể nhận thức từng
yếu tố tự nhiên riêng biệt hoặc liên kết một vài yếu tố lại với nhau, từ đó rút ra
kết luận về đặc tính của chúng.
Trong những ý niệm địa lí của thế giới cổ đại, đáng chú ý là những ý kiến của
các nhà bác học ở cổ Ai Cập và cổ La Mã lúc đó là những đế quốc chiếm hữu nô
lệ phát triển nhất. Những ý kiến này có thể chia làm hai hướng, hướng địa lí đại
cương và hướng địa lí khu vực.
Trong hướng địa lí đại cương, điều làm các nhà bác học cổ đại quan tâm là hình

hai sách bàn về các vấn đề địa lí đại cương, 15 sách về các đất đai thuộc các
vùng khác nhau. Những ý kiến quan trọng nhất của Strabôn là quan niệm về đối
tượng và nhiệm vụ của địa lí học, về sự thống trị của biển so với lục địa (chỉ
được coi như là một đảo lục địa) trên bề mặt địa cầu và như vậy là đụng chạm
đến những vấn đề quan trọng nhất của địa lí học.
Vào thế kỉ thứ V sau công nguyên các nhà địa lí học cổ đại đã tích luỹ được rất
nhiều tài liệu về quả đất và về một số vùng (nhất là các vùng quanh Địa Trung
Hải, Tây Á, cổ Trung Hoa và Ấn Độ). Họ đã hệ thống hoá các tư liệu đó và làm
cho khoa học địa lí phong phú hơn. Mặc dù một số nhà bác học chuyên về địa lí
đại cương và một số khác về địa lí khu vực nhưng ngay từ thời đó, họ cũng đã
tìm thấy sự liên kết chặt chẽ giữa hai hướng nói trên.
II. SỰ SUY ĐỒI CỦA ĐỊA LÍ HỌC TRONG THỜI KÌ TRUNG CỔ.
(thế kỉ thứ V sau công nguyên-thế kỉ thứ XV)
Sau một thời kì phát triển rực rỡ, từ thế kỉ thứ V trở đi địa lí học (và không chỉ
địa lí học mà cả một số môn khoa học khác) trở nên suy đồi. Nhiều thành tựu
23
khoa học địa lí đã đạt được trong các thế kỉ trước bị phủ định do người ta bắt
buộc phải chấp nhận những lời phán có sẵn của nhà thờ. Toà án giáo hội được
thiết lập để xử những nhà khoa học dám nói những điều không phù hợp với kinh
thánh.
Chẳng hạn, quả đất không được coi như có dạng hình cầu nữa mà là một mặt
phẳng hay có dạng đĩa (như ý kiến của nhà địa lí Ai Cập Indicốplov-thế kỉ thứ
VI). Bản đồ không còn được định hướng theo phương Bắc mà là phương Đông
vì phương Đông là nơi có Thánh đường của Chúa. Thiên đường và đất lìên có
tường bao bọc rồi mới tiếp đến hai bầu trời thuỷ tinh nơi có những lỗ đặc biệt để
mưa rơi xuống, còn mưa gió và mây đều là do các thiên thần điều khiển
Nhưng các thế kỉ này – mà Ăngghen gọi là “đêm dài trung cổ” cũng không phải
hoàn toàn không mang lại gì cho khoa học địa lí. Người ta nhận thấy ở những
nơi nào chưa chịu ảnh hưởng của nhà thờ với các sự rõ ràng buộc khắc nghiệt
của nó thì khoa học địa lí vẫn tiếp tục phát triển.

cách cắt đứt con đường thuỷ bộ sang phương đông.
Các nước châu Âu buộc phải tìm kiếm những con đường mới sang phương
Đông bằng cách đi về phía tây. Địa lí có những điều kiện mới để phát triển: nhờ
thu thập được nhiều tư liệu về các đất đai mới, các nhà địa lí có thể so sánh và
rút ra những kết luận, những tổng kết khái quát, mở đầu cho việc cấu tạo các
quy luật địa lí.
Thời kì phát triển địa lí vĩ đại bắt đầu bằng hành trình táo bạo của Cơrixtôp
Côlômbô vào năm 1942. Nhà hàng hải người Italia này phục vụ cho quyền lợi
của vua Tây Ban Nha đã tiến hành 4 hành trình từ châu Âu sang châu Mĩ (1492-
1502) đến quần đảo Bahama, Cu ba, Haiti, quần đảo Ăngti bằng con đường phía
Tây do đó mà đặt tên cho quần đảo Bahama là Tây Ấn Độ này vẫn còn được sử
dụng như là một địa danh), sau đó mới biết là châu Mĩ. Cùng với vàng bạc, dược
liệu…những cuộc thám hiểm này thu được như mẫu vật về cây cối và chim chưa
từng thấy ở châu Âu cũng như các tài liệu về tự nhiên, dân cư của (thế giới mới)
các dòng biển và tín phong, các sự nhiễu động của địa từ thông qua sự chỉ lệch
hướng của kim điạ bàn.
Người Bồ Đào Nha cũng không chịu ngồi yên. Họ hi vọng tìm được con đường
sang Ấn Độ bằng cách vòng qua châu Phi. Năm 1947 Vaxcô Đờ Gama đã thực
hiện được điều này. Người Bồ Đào Nha vì vậy chiếm độc quyền trong thời kì đó
về buôn bán với các nước thuộc nam Á và đông nam Á. Năm 1500 một số tàu
thuyền thuộc đoàn thám hiểm Cácbala bị dòng biển nam Đại Tây Dương kéo
sang tận Braxin ở Nam Mĩ, mở đầu cho giai đoạn xâm nhập của người Bồ Đào
Nha vào lục địa này. Thế kỉ thứ XVI, người Bồ Đào Nha đã từ Ấn Độ đến một
số đảo thuộc Indonêxia ngày nay, vòng lên phía Trung Hoa và Nhật Bản.
Đầu thế kỉ thứ XVI, người Tây Ban Nha tiếp tục những cuộc thám hiểm mới ở
lục địa Mĩ. Họ đã vượt qua eo đất Panama đến bờ biển Thái Bình Dương, vòng
lên tận Florida ở phía bắc và xuống biển Pêru, Chilê ở phía nam.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status