ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA ĐỊA LÍ
TIỂU LUẬN
TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
NGHIÊN CỨU KHU CÔNG NGHIỆP SINH
THÁI ỨNG DỤNG VÀO XÂY DỰNG KHU
CÔNG NGHIỆP HÒA LẠC
Huế, 12/2011
-1-
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo giảng viên
khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Huế đã tận tình giảng dạy trong suốt thời
gian học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn đến thầy Nguyễn Tưởng đã truyền đạt cho em
những kiến thức chuyên ngành, cũng như phương pháp giảng dạy, giúp em tiếp
cận được nhiều kiến thức mới. Đặc biệt cùng với thời gian học tập thầy đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tiểu luận.
Xin chân thành cảm ơn đến các anh/chị, bạn bè đã góp ý, xung cấp những
thông tin xung quan vấn đề tiểu luận để em được hoàn thành tốt bài làm.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
-2-
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KCN : Khu công nghiệp
KCNST : Khu công nghiệp sinh thái
STCN : Sinh thái công nghiệp
DN : Doanh nghiệp
STHCN : Sinh thái học công nghiệp
-3-
nghiệp không phải là các thực thể riêng rẽ mà là một tổng thể các hệ thống liên
quan giống như hệ sinh thái; STHCN tìm cách loại trừ khái niệm “chất thải” trong
sản xuất công nghiệp. Mục tiêu cơ bản của nó là tăng cường hiệu quả của hoạt
động công nghiệp và cải thiện môi trường: giảm thiểu sử dụng tài nguyên thiên
nhiên không thể tái tạo, giảm thiểu các tác động xấu môi trường, duy trì hệ sinh
thái tự nhiên của khu vực,
KCN Kalundborg, Đan Mạch được coi là KCN điển hình đầu tiên trên thế giới
ứng dụng Cộng sinh công nghiệp, một trong những nghiên cứu của STHCN, vào
việc phát triển một hệ thống trao đổi năng lượng và nguyên vật liệu giữa các công
ty từ năm 1972. Trong vòng 15 năm (từ 1982-1997), lượng tiêu thụ tài nguyên của
KCN này giảm được 19.000 tấn dầu, 30.000 tấn than, 600.000 m3 nước, và giảm
130.000 tấn cácbon dioxide thải ra. Theo thống kê năm 2001, các công ty trong
KCN này thu được 160 triệu USD lợi nhuận trên tổng đầu tư 75 triệu USD. Mô
hình hoạt động KCN này là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống lý luận
STHCN và các KCNST trên thế giới.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 30 KCNST, phần lớn nằm ở nước Mỹ và châu
Âu. Tại châu Á, mạng lưới công nghiệp sinh thái với một số các KCNST đã được
thành lập và phát triển ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước khác.
Với sự nghiên cứu ngày càng sâu về STHCN và các lĩnh vực liên quan khác,
với các tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ, KCNST đã trở thành
một mô hình mới cho phát triển công nghiệp, kinh tế và xã hội phù hợp với tiến
trình phát triển bền vững toàn cầu.
-5-
KCNST là một “cộng đồng” các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ có mối liên
hệ mật thiết trên cùng một lợi ích: hướng tới một hoạt động mang tính xã hội, kinh
tế và môi trường chất lượng cao, thông qua sự hợp tác trong việc quản lý các vấn
đề về môi trường và nguồn tài nguyên. Bằng các hoạt động hợp tác chặt chẽ với
nhau, “cộng đồng” KCNST sẽ đạt được một hiệu quả tổng thể lớn hơn nhiều so với
tổng các hiệu quả mà từng doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ gộp lại.
KCNST được hình thành dựa trên các nghiên cứu và thử nghiệm trong các lĩnh
KHU VỰC
TIÊU THỤ
Sơ đồ chức năng hệ sinh thái công nghiệp
Các nhà khoa học cho rằng: Hệ thống CN không phải là các thực thể đơn lẻ mà
là tổng thể các hệ thống giống như hệ sinh thái tự nhiên (STTN). STHCN tìm cách
loại trừ khái niệm "chất thải" trong SXCN.
Mục tiêu của STHCN là bảo vệ sự tồn tại sinh thái của hệ thống tự nhiên, đảm
bảo chất lượng sống của con người và duy trì sự tồn tại mang tính kinh tế của hệ
thống CN, kinh doanh, thương mại, với các nguyên tắc cơ bản:
- Tập hợp các doanh nghiệp độc lập vào Hệ Sinh thái công nghiệp (STCN).
- Thiết lập chu trình khép kín tái sử dụng và tái chế, cân bằng đầu ra và đầu vào
với khả năng cung cấp và tiếp nhận của Hệ STTN.
-7-
- Tìm ra các giải pháp mới cho việc sử dụng năng lượng và nguyên - vật liệu
trong CN. Thiết kế hệ thống CN hoà nhập với sự phát triển kinh tế và xã hội quanh
vùng.
Sơ đồ trên hình 1 phản ánh mô hình hoạt động SXCN theo hệ thống, các dòng
năng lượng và vật chất luân chuyển tuần hoàn. Những bán thành phẩm, chất thải
hoặc năng lượng thừa có cơ hội quay vòng tối đa ngay bên trong hệ thống, giảm
đến mức thấp nhất các chất thải phát tán vào môi trường tự nhiên. Do vậy mô hình
này đáp ứng hai mục tiêu:
- Các cơ sở sản xuất thu được nguồn lợi về kinh tế do trao đổi, chuyển nhượng
hoặc bán các sản phẩm phụ của mình cho các XN khác trong cùng hệ thống trong
mối quan hệ Cung - Cầu, đôi bên cùng có lợi.
- Giảm đáng kể những chi phí xử lý, khắc phục sự cố môi trường đối với chất
thải.
Từ đó có thể hiểu một cách đầy đủ KCNST là tập hợp các CSSX và dịch vụ tìm
kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng môi trường sống và hiệu quả kinh tế bằng
cách phối hợp quản lý môi trường và tài nguyên. Bằng cách này, các CSSX trong
cùng KCNST sẽ thu được lợi ích chung lớn hơn nhiều so với tổng lợi ích mà từng
dụng tại nguồn, sẽ được tái sinh tái sử dụng ở những nhà máy khác trong KCN
hoặc bên ngoài KCN. Bước cuối cùng đòi hỏi xác định phần chất thải còn lại cần
xử lý hợp lý trước khi thải vào môi trường xung quanh. Công nghệ xử lý cuối
đường ống rất hữu dụng trong việc xử lý hoàn toàn các chất ô nhiễm còn lại này.
Sự tổ hợp của 4 bước nói trên hình thành một phương pháp có tính hệ thống cho
phép chúng ta phân tích và xây dựng mô hình kỹ thuật của hệ sinh thái công
nghiệp không chất thải hay KCNST.
Trong điều kiện kinh tế-xã hội và công nghệ hiện có của nước ta, với nhận thức
-9-
về vấn đề bảo vệ môi trường hiện tại của các nhà sản xuất cũng như thực tế khó
khăn và hạn chế về tài chánh, việc áp dụng các giải pháp ngăn ngừa và xử lý chất
thải theo thứ tự ưu tiên nói trên sẽ ít khả thi. Hiển nhiên để đạt được mục tiêu phát
triển bền vững, chiến lược quản lý chất thải và bảo vệ môi trường của nước ta cuối
cùng sẽ phải tiến tới mô hình nói trên. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện tại, để khắc
phục và hạn chế quá trình hủy hoại môi trường đang diễn ra hàng ngày hàng giờ do
chất thải công nghiệp đã và đang phát sinh, giải pháp tình thế có tính khả thi nhất,
dễ áp dụng nhất sẽ phải theo thứ tự ưu tiên khác với mô hình đã trình bày trong
Hình 6: (1) tái sinh và tái sử dụng chất thải, (2) xử lý cuối đường ống, và (3) dần
dần tiến tới thực hiện ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải tại nguồn khi nhận thức về
vấn đề bảo vệ môi trường của các nhà sản xuất được nâng cao cũng như công nghệ
sản xuất được cải tiến.
Phương pháp luận xây dựng mô hình khu công nghiệp không chất thải phù hợp
với điều kiện kinh tế xã hội và công nghệ hiện tại của Việt Nam được đề xuất xây
dựng theo bốn bước cơ bản như sau:
Bước 1: Xác định thành phần và khối lượng chất thải
Trong bước này, thành phần và khối lượng chất thải của tất cả các nhà máy
thuộc khu công nghiệp nghiên cứu, các phương pháp xử lý và quản lý hiện tại cũng
như các tác động của chúng đến môi trường phải được xác định. Bên cạnh đó,
nguyên liệu và năng lượng cần thiết cho dây chuyền sản xuất của các nhà máy
cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng tái sử dụng chất thải từ
Bước 3: Đánh giá và lựa chọn giải pháp xử lý cuối đường ống và thải bỏ hợp vệ
sinh Đối với các chất thải còn lại (không có khả năng tái sinh, tái sử dụng), công
nghệ xử lý cuối đường ống sẽ là giải pháp chính để bảo đảm loại trừ hoàn toàn tác
động của chất thải phát sinh đến môi trường và tiến tới mô hình khu công nghiệp
-11-
không chất thải. Để lựa chọn công nghệ xử lý hợp lý, những nội dung sau cần được
xem xét, đánh giá
- Đặc tính và khối lượng chất thải;
- Tiêu chuẩn môi trường và yêu cầu giảm thiểu ô nhiễm
- Công nghệ xử lý sẵn có: Yếu tố môi trường đối với công nghệ xử lý, ví dụ ưu
tiên phương án ít sử dụng thêm hóa chất
- Hiệu quả kinh tế.
Sự thành công và thất bại của các hệ thống (công nghệ) xử lý chất thải hiện có
là bằng chứng thực tế và kinh nghiệm hữu ích nên xem xét khi đề xuất giải pháp
công nghệ mới.
Bước 4 - Tổ hợp các giải pháp lựa chọn
-12-
Mô hình các bước cơ bản trong phương pháp luận xây dụng mô hình kỹ thuật
KCNST tại Việt Nam.
Vai trò của các cơ quan chức năng và thể chế chính sách. Để đưa mô hình kỹ
thuật đã thiết kế vào thực tế áp dụng, điều quan trọng là cần xem xét và hiểu rõ mối
quan hệ giữa các thành phần trong mô hình với các yếu tố kinh tế, xã hội và thể
chế chính sách hiện tại ở nước ta. Chỉ có hiểu rõ mối quan hệ giữa KCNST xây
dựng với các cơ quan quản lý nhà nước về công nghiệp và môi trường, về kinh tế
tài chính, về chính sách luật lệ và các tổ chức xã hội khác, chúng ta mới có thể (i)
xác định những yếu tố cản trở việc áp dụng mô hình đã xây dựng vào thực tế .Mô
hình triad-network do Mol (1995) phát triển được áp dụng để phân tích mối liên hệ
giữa các cơ quan chức năng này và các thành phần của KCNST xây dựng theo ba
lĩnh vực chính: (1) kinh tế (economic network), (2) chính sách (policy network), và
(3) xã hội (social network). Economic network phân tích mối quan hệ giữa hệ công
c. Lợi ích cho xã hội
- KCNST là một động lực phát triển kinh tế - xã hội mạnh của khu vực lân cận,
thu hút các tập đoàn lớn trong nước và nước ngoài. Tạo việc làm mới trong các
lĩnh vực CN và dịch vụ.
- Tạo động lực hỗ trợ các dự án phát triển mở rộng của địa phương về: đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực, phát triển nhà ở, cải tạo và nâng cấp hệ thống
HTKT,
-14-
- Tạo một bọ mặt mới, một môi trường trong sạch và hấp dẫn cho toàn khu vực,
làm thay đổi cách nhìn thiếu thiện cảm cố hữu của cộng đồng đối với SXCN lâu
nay.
- KCNST tạo điều kiện hợp tác với các cơ quan nhà nước trong việc thiết lập
các chính sách, luật lệ về môi trường và kinh doanh ngày càng thích ứng với xu thế
hội nhập và phát triển bền vững.
d. Lợi ích cho môi trường
- Giảm các nguồn gây ô nhiễm cho môi trường, giảm lượng chất thải cũng như
giảm nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các nghiên cứu mới nhất
về SXS, bao gồm: hạn chế ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng, quản lý chất thải, tái tạo
tài nguyên và các phương pháp quản lý môi trường và công nghệ mới khác.
- Đảm bảo cân bằng sinh thái. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển
KCNST: từ việc chọn địa điểm, quy hoạch, XD, tổ chức hệ thống HTKH, lựa chọn
doanh nghiệp, quá trình hoạt động, quản lý, đều phù hợp với các điều kiện thực
tế và đặc điểm sinh thái của khu đất XD và khu vực xung quanh.
- Tất cả vì mục tiêu môi trường, mỗi KCNST có một mô hình phát triển và quản
lý riêng để không ngừng nâng cao đặc trưng cơ bản của nó về BVMT.
5. Cơ hội và thách thức khi áp dụng mô hình KCNST
* Cơ hội
- Chuyển đổi từ mô hình KCN truyền thống thuộc VKTTĐPN sang mô hình
KCNST trên nền tảng của vị trí khu đất hiện có, không cần hình thành trên một địa
điểm mới, do vậy không ảnh hưởng tới quỹ đất đô thị và không bị chi phối bởi sự
- Khuyến khích các DN tham gia KCNST.
- Các tiêu chí định hướng phát triển bền vững CN của Bộ Công Nghiệp.
-16-
Chương 2
ỨNG DỤNG LÍ LUẬN KCNST TRONG XÂY DỰNG KHU CÔNG
NGHIỆP HÒA LẠC
1. Khái quát khu công nghệ cao Hòa Lạc
Theo bản quy hoạch tổng thể mới được Chính phủ phê duyệt cuối tháng 5 vừa
qua, Khu công nghệ cao Hòa Lạc có tổng diện tích 1.586 ha, với 4 khu chức năng
chính là Nghiên cứu triển khai (sẽ là "trái tim" của cả khu), Khu công nghiệp công
nghệ cao, Công viên phần mềm và khu Giáo dục đào tạo.
So với quy hoạch cũ, Hòa Lạc mới đặt nhiệm vụ quan trọng nhất là nghiên cứu
triển khai, là nơi tập trung các viện nghiên cứu ứng dụng và đào tạo, trong khi yếu
tố này trước đây rất mờ nhạt và không cụ thể.
Một điều chỉnh nữa so với quy hoạch cũ là Hòa Lạc sẽ có riêng một khu đào tạo
nhân lực, điều trước kia chưa được đề cập tới hoặc không rõ ràng. Tới nay đã có
hai trường đại học đặt trụ sở, gồm Đại học FPT và Đại học khoa học công nghệ Hà
Nội (do Viện Khoa học Việt Nam là chủ đầu tư), với mục tiêu trở thành một trường
đại học đẳng cấp quốc tế.
Hòa Lạc mới cũng sẽ có công viên phần mềm - là nơi nghiên cứu, sản xuất và
gia công phần mềm - cũng như có các chung cư và biệt thự cho những người sống
và làm việc ở đây, điều chưa từng có trong các khu công nghiệp khác. Ngoài hạ
tầng cơ sở đồng bộ và hiện đại, chính sách một cửa một dấu, các nhà đầu tư vào
khu công nghệ này còn được ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật hiện nay,
như miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo, chỉ phải nộp 10%
trong 15 năm đầu tiên chịu thuế Điều duy nhất khiến các nhà đầu tư còn e dè là
hạ tầng nối từ Hà Nội lên chưa hoàn chỉnh. Dự kiến sau 2010, đường cao tốc Láng
- Hòa Lạc sẽ hoàn thành mở rộng, đồng bộ với hệ thống điện, nước, cáp
-17-
Đến nay, tại đây đã có 28 dự án đầu tư, với tổng vốn đăng ký 587 triệu USD,
Khu Công nghệ cao Hoà Lạc chú trọng phát triển các lĩnh vực công nghệ cao
ưu tiên như Công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ phần mềm; Công
nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thuỷ sản và y tế; Công nghệ vi điện tử, cơ khí
chính xác, cơ - điện tử, quang điện tử và tự động hoá; Công nghệ vật liệu mới,
công nghệ nano; Công nghệ thân môi trường, công nghệ năng lượng mới và một
số công nghệ đặc biệt khác.Với tổng diện tích 1600 ha, Khu Công nghệ cao Hoà
Lạc sẽ được xây dựng theo mô hình thành phố khoa học với đầy đủ các dịch vụ
tiện ích.
3. Mô hình tổng thể khu công nghệ cao Hào Lạc
Khu công nghiệp công nghệ cao nơi bố trí các nhà máy là trung tâm sản xuất
sản phẩm công nghệ cao và đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế của Việt
Nam.Theo quy hoạch Khu công nghiệp công nghệ cao sẽ được bố trí tại khu đất
phía Đông Nam của Khu CNC Hòa Lạc cách xa hồ Tân Xã gần với đường cao tốc
Làng- Hoà Lạc và đường vành đai Hoà Lạc.
Tổng diện tích đã phân bổ cho Khu công nghiệp công nghệ cao là 550 ha và
140 ha sẽ được Phát triển trong giai đoạn 1. Tổng diện tích 550 ha chiếm khoảng
gần 34,7 % tổng diện tích phát triển của Khu CNC Hòa Lạc.
Khu công nghiệp công nghệ cao nơi bố trí các nhà máy là trung tâm sản xuất
sản phẩm công nghệ cao và đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế của Việt Nam.
Theo quy hoạch Khu công nghiệp công nghệ cao sẽ được bố trí tại khu đất phía
Đông Nam của Khu CNC Hòa Lạc cách xa hồ Tân Xã gần với đường cao tốc
Làng- Hoà Lạc và đường vành đai Hoà Lạc.
-19-
Tổng diện tích đã phân bổ cho Khu công nghiệp công nghệ cao là 550 ha và
140 ha sẽ được Phát triển trong giai đoạn 1. Tổng diện tích 550 ha chiếm khoảng
gần 34,7 % tổng diện tích phát triển của Khu CNC Hòa Lạc.
Các không gian chức năng của khu công nghiệp công nghệ cao gồm các khu
vực sau:
Nhà máy sản xuất sản phẩm
CNC
xanh, ranh giới xác định trong bản vẽ Quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất. Các
công trình xây dựng, cây xanh, công trình hạ tầng kĩ thuật phải tuân thủ theo tổng
mặt bằng quy hoạch và theo các qui định chung.
Sử dụng đất và kích thước lô đất:
-20-
Các công trình kiến trúc
Được phép xây dựng các công trình tạo điểm nhấn nhưng không được vượt quá
chiều cao tầng tối đa của khu trung tâm phù hợp với công nghiệp công nghệ cao
chức năng chính theo lô đất quy hoạch xác định.
Không được phép có các hoạt động sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm không
khí, nước và rác thải, xây dựng các công trình lưu trú, nhà ở, dịch vụ thương mại,
ăn uống.
Khuyến khích trồng cây xanh, thảm cỏ và các tiện ích đô thị tạo cảnh quan góp
phần làm tăng hiệu quả khu CNC.
Dải cây xanh là phần hai bên đường D, chiều rộng 10m- 20m, song song với
đường D và hai bên đường Láng Hoà Lạc xác định trong tổng mặt bằng quy hoạch
khu CNC. Được phép xây dựng các không gian xanh theo chức năng lô đất quy
hoạch đã được xác định. Không được phép có các hoạt động sản xuất công nghiệp-
thủ công nghiệp và các hoạt động gây ô nhiễm không khí, nước và rác thải, xây
dựng cơ sở lưu trú, nhà ở, dịch vụ thương mại, ăn uống. Khuyến khích trồng cây
xanh, thảm cỏ và các tiện ích phục vụ cộng đồng có đóng góp tốt vào hiệu quả
cảnh quan khu CNC.
Chỉ giới xây dựng, khoảng lùi, chiều cao công trình:
Các công trình trong khu công nghiệp công nghệ cao đều phải tuân thủ các chỉ
giới xây dựng và khoảng lùi theo từng cấp loại đường giao thông, theo chiều cao
công trình xây dựng (khối kiến trúc chính) và phù hợp với tổ chức không gian quy
hoạch khu trung tâm.
Khoảng lùi của các công trình so với lộ giới đường quy hoạch được quy định
tùy thuộc vào tổ chức quy hoạch không gian kiến trúc, chiều cao công trình và
chiều rộng của lộ giới, nhưng khoảng lùi tối thiểu phải thỏa mãn“Quy chuẩn xây
che tầm nhìn giữa công trình và đường phố. Cổng và sảnh đón có thể tiếp giáp với
chỉ giới đường đỏ song phải đảm bảo không ảnh hưởng đến luồng giao thông trên
đường phố bên ngoài công trình.
Khuyến khích sử dụng màu sáng cho công trình, hạn chế các mảng màu tối,
màu gây chói. Có thể sử dụng các gam màu mạnh đối với các tiện ích của công
trình như biển hiệu, mái che.
Các yêu cầu khác:
-23-
Các lối đi bộ và khoảng mở trong Khu Công nghiệp Công nghệ cao được xác
định độ rộng và chỉ giới đường đỏ trong các dự án quy hoạch chi tiết. Trong khu
vực trên không được phép hoạt động của ô tô và xe máy (trừ xe chuyên dụng). Các
lối đi và khoảng mở sử dụng các mặt lát có yêu cầu trang trí cao, được phép bố trí
các ghế nghỉ chân, bể cảnh, bồn cây di động, mái che nắng. Sử dụng cây chủng
loại phù hợp tại các vị trí không ảnh hưởng đến luồng đi bộ.
Theo quy hoạch tổng thể, Khu công nghệ cao Hoà Lạc được xây dựng thành
một đô thị công nghệ cao tầm cỡ quốc gia, với 10 khu chức năng gồm: các khu liên
quan đến phần mềm, nghiên cứu triển khai, công nghiệp và công nghệ cao, giáo
dục và đào tạo, trung tâm, dịch vụ tổng hợp, khu nhà ở kết hợp văn phòng,
chungcưDiện tích đất còn lại được quy hoạch phát triển không gian, đất hồ và vùng
đệm, đất cây xanh để bố trí và bảo tồn cảnh quan tự nhiên, giữ gìn không khí trong
lành cho toàn khu. Đồng thời, cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng được xây dựng với hệ
thống giao thông, liên lạc đường bộ, đường sắt và đường thủy. Chủ trương của
Chính phủ hình thành khu CNC Hoà Lạc đã xác định: Khu công nghệ này có vai
trò và trọng trách hết sức quan trọng trong sự phát triển quốc gia, thực hiện nhiệm
vụ nhanh chóng phát triển ngành công nghệ cao Việt Nam
Hiện tại đã có 18 viện và trung tâm nghiên cứu đăng ký xây dựng trụ sở tại đây, và
ước tính sẽ có ít nhất 30 đơn vị đăng ký. Một điều chỉnh nữa so với quy hoạch cũ
là Hòa Lạc sẽ có riêng một khu đào tạo nhân lực, điều trước kia chưa được đề cập
tới hoặc không rõ ràng. Tới nay đã có hai trường đại học đặt trụ sở, gồm Đại học
FPT và Đại học khoa học công nghệ Hà Nội (do Viện Khoa học Việt Nam là chủ
Kết nối giữa Hòa Lạc với Hà Nội vẫn rất kém. Mất gần một tiếng đồng hồ mới
vượt qua được quãng đường xóc dài 30 km. Không biết bao giờ đường cao tốc
Láng – Hòa Lạc mới hoàn thành, bởi khi Hòa Lạc trở thành nơi làm việc của hàng
-25-