1. Sự cần thiết và vai trò của quản lý nhà
nước về TMĐT
Sự cần thiết: Quản lý nhà nước về tmđt là cần thiết khách quan. Do
- Tmđt xóa bỏ các rào cản về ko gian thời gian trong thương mại, tạo nên một thị trường toàn
cầu, rộng lớn. Đồng nghĩa với việc phải đối mặt với nhiều hơn nữa những tồn tại những hạn
chế trong điều tiết, cũng như khắc phục những mặt trái những khuyết tật của thị trường. thực
tế chỉ ra rằng, bản thân thị trường ko thể tự điều chỉnh trong mọi trường hợp. từ đó, không phù
hợp và cản trở việc thực hiện các mục tiêu phát triển đề ra. Và ngay bản thân doanh nghiệp
tham gia tmdt, cũng chưa thể tự giải quyết được nhiều vấn đề nảy sinh như về hợp đồng, môi
trường kinh doanh,… mặt khác tại việt nam, nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế,
trong việc định hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung, cũng như thương mại điện tử nói
riêng trong từng thời kỳ. Chính vì vậy, nhà nước cần điều tiết, can thiệp vào kinh tế và thị
trường, vào các quan hệ thương mại điện tử nhằm đảm bảo sự ổn định, phát triển của thương
mại,…
- Để giải quyết các mẫu thuận trong thương mại điện tử, duy trì sự ổn định thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển thương mại điện tử, cân thiết có vai trò quản lý của nhà nước về thương mại,
thương mại điện tử. Bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình, nhà nước giải
quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phổ biến, thường xuyên và cơ bản, những tiêu cực
trong thương mại.
- Quản lý nhà nước về tmdt tạo sự thống nhất trong tổ chức và phối hợp hoạt động của các cơ
quan, doanh nghiệp về tmdt nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra, phát triển bền vững.
Vai trò
- VT1: lập ra môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn về TM
• Môi trường thương mại và cạnh tranh về TMĐt phụ thuộc vào nhiều chính sách, luật
pháp, thủ tục hành chính.
• Các thông tin về kế hoạch TMĐT phải tuôn thủ quyết định, chính sách nhà nước. tránh
tình trạng thủ tục hành chính rườm rà, thủ tục pháp lý ko đầy đủ, đồng bộ minh bạch
tạo nên một vai trò rất lớn để cải tạo môi trường kinh doanh nhất là trong môi trường
kinh doanh biến đổi ngày nay.
• Nhà nước cần tạo lập cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp TMĐT
thông qua các quan hệ TM, sự giao lưu hành hóa trong nước và quốc tế và thiết lập
Dương Hồng Minh - chủ thể đăng ký tên miền samsungmobile.com.vn. Ngoài ra, còn
các vụ tranh chấp khác nhưTranh chấp liên quan đến tên miền ebay.com.vn,
ibm.com.vn,…
Hỗ trợ trong giải quyết các tranh chấp về tên miền .vn, ngày 24/12/2008, Bộ Thông tin và
Truyền thông đã ban hành Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT quy định về giải quyết tranh chấp
tên miền quốc gia Việt Nam ".vn". Thông tư được xây dựng trên trên tinh thần phù hợp với
thông lệ chung quốc tế đặc biệt là Chính sách giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất (UDRP)
của ICANN (Tổ chức quản lý Internet quốc tế), chính sách đã được Tổ chức Sở hữu trí tuệ
WIPO thống nhất áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp tên miền cấp cao và nhiều tên miền
mã quốc gia khác.
- VT3: điều tiết quan hệ thị trường về các hoạt động tmdt
• Theo quy luật thị trường, các chủ thể kinh doanh luôn quan tâm đến việc bố trí, di
chuyển luật đến những nơi có thể phát triển sản xuất và thương mại thuận lợi, tìm
kiếm lợi nhuận, tạo nên sự mất cân bằng cung cầu. Chính vì vậy, cần điều tiết quan hệ
về tm để hạn chế những nhược điểm, từ đó tăng trưởng kinh tế bền vững trong tm nói
chung và tmdt nói riêng.
• Nhà nước hướng dẫn, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện luật pháp, chính sách
đảm bảo việc ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng.
• Nhà nước sử dụng nhiều công cụ, chính sách, các biện pháp khác để điều tiết thị
trường để khuyến khích tmdt phát triển bằng rất nhiều biện pháp hỗ trợ tạo điều kiện
tác động thị trường.
VD:
- VT4: giám sát kiểm tra thực hiện mục tiêu phát triển tmdt
• Quản lý nhà nước về tmdt bao giờ cũng hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế. vì vậy,
thực chất quản lý nhà nước về tmdt là giám sát, kiểm tra phát hiện sai lệch, từ đó có
những điều chỉnh.
• Các mục tiêu của tm mang tính chất bền vững bao gồm về chính trị, kinh tế, tmdt…
kiểm soát và điều chỉnh thự hiện mục tiêu phát triển tmdt đòi hỏi phải có sự phối hợp
giữa các ngành từ tw đến địa phương.
• Công tác kiểm tra giám sát cần hộ máy nhân sự phù hợp, có kỹ thuật có trang thiết bị,
- Xác định các giải pháp để đạt được mục tiêu
* Công cụ thể hiện chức năng của Nhà nước về định hướng phát triển tmdt
- Chiến lược phát triển
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
- Kế hoạch phát triển (dài hạn, trung hạn, ngắn hạn)
- Các chương trình mục tiêu phát triển
* Nhiệm vụ của Nhà nước để thực hiện chức năng định hướng phát triển.
Nhà nước phải tiến hành các công việc sau:
- Phân tích đánh giá thực trạng tmdt hiên nay, những nhân tố trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến sự
phát triển hiện tại và tương lai của tmdt nước nhà.
- Đưa ra những dự báo phát triển tmdt
- Hoạch định phát triển tmdt như xây dựng đường lối, các chiến lược phát triển, các chương trình mục
tiêu và các dự án phát triển, hoạch định các chính sách
- CN tổ chức và phối hợp các hoạt động quản lý trong TMĐT: Tổ chức phối hợp các hoạt
động quản lý: nhà nước thiết lập các cơ quan quản lý và hệ thống quản lý, sử dụng bộ máy
này nhằm hoạch định các chính sách, văn bản pháp quy về TMĐT. Đồng thời, sử dụng bộ
máy này để triển khai công việc quản lý nhà nước về TMĐT nhằm đưa những chính sách, luật
pháp để phát triển TMĐT. Các hoạt động của TM nói chung, TMĐT nói riêng rất đa dạng,
diễn ra trong phạm vi cả nước, địa phương liên quan đến nhiều bộ ngành. Do vậy, nhà nước
phải có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương làm cho quản
lý nhà nước về TMĐT ngày càng phát triển, đạt được mực tiêu, đảm bảo cam kết của WTO.
- CN lãnh đạo và điều hành các hđ TMĐT
- CN kiểm soát các hđ TMĐT
Kiểm tra, giám sát tmdt là Nhà nước xem xét, đánh giá tình trạng tốt xấu của các hoạt động tmdt, và theo
dõi, xét xem sự hoạt động tmdt đươc thực thi đúng hoặc sai đối với các quy định của pháp luật.
Công tác này phải được thực thi thừơng xuyên và nghiêm túc.
* Sự cần thiết phải kiểm tra, giám sát hoạt động
Quá trình hoạt động thương mại nói chung và tmdt nói riêng không phải lúc nào cũng diễn ra một cách
bình thường và đưa lại kết quả mong muốn. Sự kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện những mặt tích
cực và tiêu cực, những thành công và thất bại, tmdt đang hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả, đúng
Đặc điểm
- Những đặc điểm chung của quản lý: mọi loại hình quản lý đều có 2 hệ thống: chủ thể (cơ quan
quản lý) và khách thể (đối tượng quản lý) do vậy con người là trung tâm của quản lý => suy
cho cùng quản lý nhà nước là quản lý con người. để quản lý tốt thì con người phải tốt, hành vi
phải tốt.
- Tính đặc thù của quản lý nhà nước về TMĐT: thể hiện ở mục tiêu, các công cụ, phương tiện
để đạt được mục tiêu
• Mục tiêu quản lý nhà nước về TMĐT gắn liền với quá trình phát triển kinh tế xã hội
như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
• Để đạt được mục tiêu trên quản lý nhà nước về TMĐT cần có quy trình, tổ chức (cần
có nguồn nhân lực), phải sử dụng các công cụ (nhấn mạnh tới luật pháp) các phương
tiện để điều tiết các hoạt động về TMĐT theo đúng mục tiêu, lợi ích và mong muốn
của mỗi thời kỳ.
• Quản lý nhà nước về TMĐT bao gồm quản lý các chủ thể: thương nhân, các nhà sản
xuất và người tiêu dùng. Ngoài ra, muốn quản lý tốt phải nâng cao cơ sở hạ tầng, cơ sở
vật chất.
Tóm lại, quản lý nhà nước về TMĐT bao gồm việc chấp hành, kiểm tra các chính
sách, luật pháp và những định chế có liên quan đến TMĐT. TMĐT liên quan đến
nhiều cấp, nhiều ngành vì vậy phải có sự liên quan, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ
ngành.
7. Các nguyên tắc QLNN về TMĐT
- Tập trung, dân chủ: tập trung và dân chủ là 2 mặt của 1 thể thống nhất được thê hiện:
• Hoạt động quản lý chủ yếu tập trung vào cơ quan cấp trên (TW) đối với những quyết
định quan trọng để tạo điều kiện giúp TMĐT phát triển.
• Tập trung sự quản lý trong tay nhà nước nhằm mở rộng quyền kinh doanh, tham gia
vào quyết định quản lý của người dân, người tiêu dùng, doanh nhân, tức là dân chủ
cho mọi chủ thể tham gia vào sản xuất, kinh doanh.
• Các hoạt động TMĐT diễn ra ở phạm vi cả nước hoặc từng địa phương. Chính vì vậy
cần có sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất thể hiện ở việc định hướng, hướng dẫn các
chính sách, luật pháp đề cho các doanh nghiệp hiểu biết về lợi ích của TMĐT. Họ hiểu
lượng tốt. phương pháp này nâng cao sự hiểu biết của đội ngũ doanh nhân. Mục tiêu của
phương pháp này tạo ra sự giác ngộ, hiểu biết, sự trách nhiệm để phát triển TM nói chung và
TMĐT nói riêng để các doanh nghiệp TMĐT thực hiện đúng chính sách, đúng pháp luật, tôn
trọng đăc điểm kinh doanh.
- Phương pháp hành chính: Đây là phương pháp bắt buộc. các đối tượng quản lý buộc phải chấp
hành nghiêm chỉnh các quyết định mang tính hành chính thể hiện ở các bộ luật, văn bản.
10. đặc điểm cơ chế, vai trò của chính phủ điện tử.
KN theo wiki
Chính phủ Điện tử (e-Government) là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được
"điện tử hóa", "mạng hóa". Tuy nhiên, chính phủ điện tử không đơn thuần là máy tính, mạng Internet; mà
là sự đổi mới toàn diện các quan hệ (đặc biệt là quan hệ giữa chính quyền và công dân), các nguồn lực,
các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung các hoạt động của chính quyền trung ương và
địa phương, và ngay cả các quan niệm về các hoạt động đó.
Chính phủ Điện tử là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) để các cơ quan của Chính
quyền từ trung ương và địa phương đổi mới, làm việc có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn; cung cấp
thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nước.
Hai nhóm công việc chính được đề cập đến khi nói đến CPĐT là:
Các dịch vụ chính phủ trực tuyến : Trước đây các cơ quan chính phủ cung cấp dịch vụ cho dân chúng tại
trụ sở của mình, thì nay, nhờ vào CNTT và viễn thông, các trung tâm dịch vụ trực tuyến được thiết lập,
hoặc là ngay trong trụ sở cơ quan chính phủ hoặc gần với dân. Qua các cổng thông tin cho công dân
(Citizen Portal) là các trung tâm này người dân nhận được thông tin, có thể hỏi đáp pháp luật, được phục
vụ ( giải quyết) các việc trong cuộc sống hàng ngày, như công chứng, đăng ký lập doanh nghiệp, đăng ký
nhân khẩu, sang tên trước bạ v.v mà không phải đến chầu chực tại trụ sở các cơ quan trên như trước
đây.
Tác nghiệp chính phủ : Là việc số hoá, hay điện tử hoá bản thân các hoạt động trong chính phủ, giữa các
cơ quan chính phủ khác cấp và cùng cấp. ở đây người ta nói đến cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý của bộ
máy cũng như nhân viên chính phủ, việc quản lý lưu trữ công văn tài liệu trên nền công nghệ Web, các
biểu báo thống kê điện tử, việc sử dụng mạng máy tính và Internet để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà
nước và các tác nghiệp của bản thân bộ máy chính phủ.
chứng chỉ, đóng và hoàn thuế thu nhập, nhận trợ cấp…Chương trình quản lý nhà đất, hộ khẩu hộ tịch của
quận Gò Vấp là một nỗ lực bước đầu của ứng dụng mô hình e-gov ở cấp độ tương tác chính phủ và dân
chúng.
Theo báo cáo của Tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG công bố tại Hội thảo Quốc gia lần thứ 10 về CPĐT diễn
ra từ 20 - 21.7 tại Hà Nội, hiện 96,6% các bộ, ngành có website riêng, 100% các tỉnh, thành phố có cổng
thông tin điện tử, 83,6% các thông tin chỉ đạo ban hành được đưa lên mạng.
Báo cáo xếp hạng mới nhất của Liên Hiệp Quốc về CPĐT cũng thể hiện sự cải thiện thứ bậc của VN khi
từ vị trí thứ 90 (2010) lên vị trí thứ 83 (2012), đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á, sau Singapore,
Malaysia và Brunei.
Phát biểu tại hội thảo, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết 3 trụ cột cho CPĐT được Chính phủ
xác định là xây dựng hạ tầng, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và phục vụ người dân.
Vai trò
Chính phủ luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công cuộc kinh tế kinh tế - xã hội của một quốc
gia.Vấn đề đau đầu nhất của hầu hết Chính phủ các nước từ bao năm nay là chi phí vận hành. Dù Chính
phủ luôn có nhiều các để tăng nguồn thu, nhưng sự gia tăng đó hầu như không theo kịp vấn đề chi phí,
trong khi có thể gây bất ổn xã hội và làm kinh tế đình trệ. Trong bối cảnh chi phí công đang ngày càng
trở thành nỗi ám ảnh thời hậu khủng khoảng, Chính phủ điện tử càng là bước đi cấp thiết của tất cả nền
kinh tế.Chính phủ điện tử là một giải pháp tối ưu, vừa giúp giảm chi phí cho nhà nước vừa tiết kiệm thời
gian tiền bạc cho các đối tượng, vừa tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho các đối tượng sử dụng dịch vụ
Chính phủ, thúc đẩy một sự toàn diện, minh bạch hơn
Công cuộc toàn cầu hoá đang kéo các quốc gia trên thế giới lại gần nhau hơn, nhưng cùng với đó tính
cạnh tranh cũng cao hơn.Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, các
Chính phủ phải tìm cách giúp đỡ công dân và DN cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá.Nếu vẫn tồn
tại dưới hình thức truyền thống, Chính phủ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện vai trò của mình.
Chính phủ điện tử ra đời có thể sẽ dễ dàng đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá bàng cách áp dụng công
nghệ hiện đại, rút ngắn không gian và tiết kiệm thời gian, tạo khả năng kiểm soát các “rủi ro toàn cầu”
một cách hiệu quả.
Việc triển khai Chính phủ điện tử được chia làm 3 cấp.
Cấp thứ nhất là Chính phủ điện tử dung để cung cấp thông tin. Đây là bước khởi đầu của Chính phủ điện
tử thông qua việc đưa các thông tin của Chính phủ lên mạng như các luật và văn bản dưới luật, các chính