Báo cáo “Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán” pot - Pdf 16

Tiểu luận
Sự cần thiết và vai trò
của kiểm toán
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
Mục Lục
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
2
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
Kiểm toán là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình vận hành của nền kinh
tế thị trường nhằm nâng cao chất lượng thông tin, giúp người sử dụng ra quyết
định thích hợp. Một nền kinh tế phát triển lành mạnh với kênh cung cấp vốn từ thị
trường chứng khoán và ngân hàng đòi hỏi phải được cung cấp các dịch vụ kiểm
toán có chất lượng cao.
0Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng phức tạp, thông tin kinh tế
càng có nguy cơ chứa đựng rủi ro, sai lệch, thiếu tin cậy. Đối tượng quan tâm đến
thông tin tài chính của doanh nghiệp không phải chỉ có Nhà Nước mà còn có các
cấp quản lý, đối tác liên doanh và cả người lao động… Tuy từ nhiều gốc độ khác
nhau nhưng tất cả các đối tượng quan tâm đều có nguyện vọng chung là sử dụng
thông tin có độ tin cậy cao, độ chính xác và trung thực. Nếu tất cả những người
quan tâm đều phải tự tổ chức kiểm tra các thông tin tài chính của doanh nghiệp thì
chi phí quá lớn. Vì vậy cần thiết phải có tổ chức độc lập, khách quan tiến hành
kiểm tra các thông tin này để đáp ứng yêu cầu của nhiều đối tượng sử dụng thông
tin, đó chính là tổ chức kiểm toán.
Xuất phát từ những đặc điểm trên nên em đã chọn đề tài “Sự cần thiết và vai
trò của kiểm toán”. Đề tài của em gồm 3 phần:
Phần I: Khái quát chung về kiểm toán
Phần II: Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán tại Việt Nam
Phần III|: Những kiến nghị để nâng cao trách nhiệm của kiểm toán

4
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
ứng được yêu cầu quản lý. Vì vậy kiểm tra độc lập đã phát sinh trước hết ở La Mã,
Pháp và Anh.
Ở La Mã, vào thế kỷ thứ III TCN các nhà cầm quyền (người sở hữu tài sản) đã
tuyển dụng các quan chức có chuyên môn và độc lập để kiểm tra các báo cáo của
người quản lý về tình hình tài sản của họ và đưa ra ý kiến chấp nhận hoặc yêu cầu
sửa đổi các báo cáo này. Hình thức kiểm tra được thực hiện bằng cách người quản
lý đọc to các báo cáo cho người kiểm tra độc lập nghe rồi chấp nhận.
Ở Pháp, vua Charlemagne cũng theo tiền lệ của La Mã đã tuyển các quan chức
cao cấp phụ trách giám sát công việc quản lý, đặc biệt là các nghiệp vụ tài chính
của các quan chức địa phương và trình bày lại kết quả với Hoàng đế hoặc các vị
cận thần.
Ở Anh, theo văn kiện của Nghị viện, vua Edouard đệ nhất cho các Nam tước
quyền tuyển dụng kiểm toán viên (Auditors), bản thân vua cũng cho đối chiếu lại
các tài khoản thuộc di chúc của cố Hoàng hậu Elonor.
Từ trung đại trở đi, đã có sự hoàn thiện và phát triển dần của kế toán, chẳng hạn
với các khoản giao dịch đã buộc cả 2 bên cùng ghi sổ, do đó phát sinh quan hệ đối
chiếu như một hình thức kiểm tra kế toán.
Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi, sự xuất hiện của kế toán kép do một nhà toán học
người Ý là Luca Paciola đã khiến cho phương pháp tự kiểm tra của kế toán hoàn
thiện hơn, đã đáp ứng đủ nhu cầu quản lý và an toàn tài sản lúc bấy giờ.
Từ thế kỷ XVII – XX, các phương pháp kế toán và kỹ thuật thông tin phát triển
đến mức tinh xảo đã đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của quản lý.
Đến năm 30 của thế kỷ XX xuất hiện sự phá sản của các tổ chức tài chính và
khủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính chức năng kiểm tra kế toán mới bộc lộ
những nhược điểm, đòi hỏi phải có sự kiểm tra ngoài kế toán và kiểm toán được
phát triển trở lại.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3

Bộ tài chính đã kí hai quyết định thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên là công
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
6
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
ty kiểm toán Việt Nam được thành lập lấy tên là VACO với 13 nhân viên và công
ty dịch vụ kế toán Việt Nam với tên giao dịch ASC sau này đổi tên là công ty dịch
vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán – AASC (quyết định 639- TC/QĐ/TCCB
ngày 14/09/1993). Số lượng công ty kiểm toán đã tăng lên đáng kể và loại hình
công ty cũng đa dạng hơn, tính đến tháng 10/2006 ở Việt Nam đã có 81 công ty
kiểm toán trong đó có 75 công ty đã đăng ký hoạt động tại BTC, gồm 3 DNNN
(VACO, AASC, AISC) 4 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài (P&C, HPMG,
E&Y, Grant Thomtion), 1 công ty liên doanh, 5 công ty hợp danh, 123 công ty cổ
phần và công ty TNHH.
Cùng với sự phát triển của kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước Việt Nam được
thành lập theo NĐ số 70/CP ngày 11/07/1994 của chính phủ và đến ngày
13/08/2003 được thay bằng NĐ số 93/2003/NĐ-CP. Ngày 14/06/2005 luật kiểm
toán Nhà Nước được Quốc hội ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006.
Đến nay kiểm toán Nhà nước có 9 đơn vị kiểm toán khu vực : Khu vực I ( Hà Nội);
Khu vực II (Vinh); Khu vực III (Đà Nẵng); Khu vực IV (TP HCM); Khu vực V
(Cần Thơ); Khu vực VI (Hạ Long); Khu vực VII (Yên Bái); Khu vực VIII (Khánh
Hòa); Khu vực IX (Tiền Giang).
Đồng thời kiểm toán nội bộ cũng đã được thành lập trong các doanh nghiệp có quy
mô lớn như: Tổng công ty hàng không, bưu chính viễn thông, dầu khí, điện lực,
II. Khái niệm Kiểm toán
1.Khái niệm
Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài chính bằng hệ
thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các
kiểm toán viên có trình độ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có

của kiểm toán.
2.5. Báo cáo Kiểm toán
Đây là khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán. Tùy theo mục đích, tính chất của
cuộc kiểm toán mà báo cáo kiểm toán đi từ báo cáo đơn giản đến phức tạp. Nội
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
8
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
dung báo cáo kiểm toán phải thông tin cho người sử dụng thông tin về mức độ phù
hợp giữa thông tin số lượng và chuẩn mực đã được thiết lập.
Phần II: Sự cần thiết và vai trò của Kiểm toán tại Việt Nam
I. Sự cần thiết của Kiểm toán
Kiểm toán ra đời, phát triển do yêu cầu quản lý và phục vụ cho quản lý. Kiểm toán
là một công cụ quản lý phát triển từ thấp lên cao, gắn liền với hoạt động kinh tế
của con người. Từ khi kế toán ra đời con người biết khai thác công cụ kế toán vào
quản lý. Kế toán cung cấp thông tin phục vụ quản lý. Xã hội ngày càng phát triển
thông tin kế toán càng được mở rộng, đa dạng, phức tạp và chứa nhiều rủi ro. Đồng
thời xuất hiện nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kế toán như Nhà
nước, chủ doanh nghiệp, cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tín dụng,
người bán, người mua, người lao động,…Thực trạng này xuất phát từ những
nguyên nhân sau:
-Khoảng cách lớn giữa người sử dụng thông tin và người cung cấp thông tin và sự
điều chỉnh có lợi cho người cung cấp thông tin. Xã hội càng phát triển kéo theo
hoạt động kinh tế càng phát triển, mở rộng và đa dạng. Sự tách biệt giữa quyền sở
hữu và quyền sử dụng tài sản ngày càng tăng, các thông tin được cung cấp ngày
càng bị hợp pháp hóa và thành tích hóa có lợi cho người cung cấp thông tin.
-Khối lượng thông tin quá nhiều. Xã hội càng phát triển thông tin càng phong phú,
đa dạng và khối lượng càng nhiều khả năng chứa đựng những thông tin sai lệch
trong những thông tin đúng đắn ngày càng tăng.

công nợ, giá trị của tài sản… cần sử dụng các kỹ thuật như xác nhận, điều tra…
cũng không thực hiện được mà thường chỉ chấp nhận trên cơ sở chứng từ, tài liệu
kế toán. Do những hạn chế này, nên việc duyệt quyết toán không thể phát hiện
thực trạng tài chính yếu kém chuyên kinh doanh, mua bán lòng vòng để gian lận
trong việc vay vốn ngân hàng huy động từ các đối tượng nhằm mục đích chiếm
đoạt tài sản bất hợp pháp vì các chứng từ, tài liệu đã được hợp pháp bằng nhiều
cách. Chỉ có kiểm toán với các kỹ thuật thu thập bằng chứng phong phú thích hợp
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
10
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
mới có thể tạo niềm tin cho người sử dụng thông tin bằng những xác nhận khách
quan và độc lập về thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Các tác giả nghiên cứu đều thống nhất rằng nhu cầu kiểm toán xuất hiện từ khi
có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, khai thác kinh doanh các tài
sản, tiền vốn. Từ những hình thức đơn giản khi các thương gia giao các tài sản của
mình cho người khác quản lý và kinh doanh đến các hình thức phức tạp, hoàn thiện
hơn là hình thái các công ty cổ phần trong đó các cổ đông không trực tiếp quản lý
điều hành hoạt động công ty mà do một nhóm các nhà quản lý đại diện thực hiện
chức năng quản lý kinh doanh. Những người thực hiện chức năng quản lý kinh
doanh này được hưởng thu nhập dưới hình thức cố định (tiền lương) hoặc biến đổi
theo kết quả kinh doanh. Dù dưới hình thức nào thì có rất nhiều lý do dẫn đến khả
năng báo cáo tài chính do những người này lập nên và đệ trình lên chủ sở hữu, các
cổ đông có thể sẽ không phản ánh trung thực về tình hình tài chính và kết quả kinh
doanh hoặc ít nhất là thiếu khách quan. Điều này làm phát sinh yêu cầu phải có
giải pháp để chủ sở hữu, các cổ đông có cơ sở để tin tưởng rằng báo cáo do các nhà
quản lý lập nên là phù hợp với các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận đồng
thời bảo vệ được quyền lợi của những người quản lý. Đây chính là lý do cho sự ra
đời và phát triển của kiểm toán. Mặt khác, thực tế hầu như và không thể mọi chủ

 Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm. Trong cơ chế thị trường
có rất nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó
trong tài liệu kế toán và BCTC. Trong đó có thể kể đến:
- Các cơ quan Nhà nước: cần thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
bằng hệ thống pháp luật.
- Các đơn vị được kiểm toán: giúp đơn vị kiểm toán thấy rõ chân dung và thực
lực của mình, đánh giá chính xác thực trạng tài chính, thẩm định đúng kết quả
kinh doanh để có biện pháp quản lý, điều hành phù hợp nhằm đạt được hiệu quả
cao.
- Các nhà đầu tư: cần thông tin tin cậy để có hướng dẫn đúng, điều hành sử
dụng vốn đầu tư. Các nhà đầu tư ở đây không chỉ trong nước mà còn cả nước
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
12
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
ngoài. Họ cần sự xác nhận vô tư và trung thực của kiểm toán mới yên tam và
tin tưởng khi bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp.
- Ngân hàng và các tổ chức tín dụng: căn cứ vào kết quả kiểm toán để xem xét
tình hình cho các doanh nghiệp vay khi cần thiết và khả năng thu hồi nợ.
- Người lao động: cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, về lợi
nhuận phân phối, về thực hiện chính sách tiền lương và bảo hiểm nhu cầu đó
chỉ có thể đáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh.
- Khách hàng và nhà cung cấp: cũng cần hiểu rõ thực chất về kinh doanh, về tài
chính của các đơn vị kiểm toán về nhiều mặt: số lượng, chất lượng sản phẩm
hàng hóa, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán của đơn vị được kiểm toán.
Tất cả các những đối tượng này, họ đều có nguyện vọng chung là được sử dụng
thông tin có độ tin cậy cao, chính xác và trung thực.
 Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và ổn định cũng cố hoạt động tài
chính, kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị kiểm toán nói chung.

người sử dụng sẽ có cơ sở tin cậy cho việc đưa ra các quyết định, các đối sách
thích hợp. Nhà đầu tư quyết định duy trì, mở rộng hay thu hẹp mức độ đầu tư. Nhà
cung cấp quyết định duy trì, tăng cường hay giảm thiểu mức độ cung cấp vật tư,
hàng hóa
Mặt khác, kết quả Kiểm toán độc lập còn giúp cho đơn vị được kiểm toán hiểu
biết lại mình một cách khách quan hơn.
Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình
thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế
như vậy, thông tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ
quan quản lý nhà nước kiểm tra và xét duyệt mà nay các thông tin này cần cho
nhiều người, được nhiều đối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định
kinh tế.
Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động Kiểm toán độc
lập ra đời và trở thành bộ phận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
14
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
sống các hoạt động kinh tế. Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng
kết quả kiểm toán sự hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp có
được lập trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực theo qui định hay không và các
thông tin đó có trung thực và hợp lý hay không.
Luật pháp yêu cầu và để yên lòng cho người sử dụng thì các BCTC phải được
kiểm toán và chỉ có những thông tin kinh tế đã được kiểm toán mới là căn cứ tin
cậy cho việc đề ra các quyết định hiệu quả và hợp lý. Việc các quy định mang tính
pháp lý bắt buộc các thông tin tài chính trước khi công bố phải được kiểm toán,
điều này thể hiện rõ nét vai trò của kiểm toán trong quá trình đổi mới nền kinh tế.
Kiểm toán độc lập không thể thiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị

kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập quốc dân, nâng cao nguồn thu cho ngân sách.
Hoạt động kiểm toán còn thu hút được lực lượng lớn các lao động có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao và đặc biệt là lực lượng chuyên gia tư vấn nước ngoài
làm việc tại các công ty kiểm toán quốc tế. Lực lượng này đã truyền đạt nhiều kinh
nghiệm quản lý kinh tế cho các doanh nghiệp, tổ chức cũng như những đồng
nghiệp. Ngoài ra, các tổ chức kiểm toán độc lập còn chính là trung tâm tư vấn thuế.
Công ty kiểm toán độc lập tư vấn thuế cho các doanh nghiệp trong việc tuân thủ
pháp luật về thuế là rất cần thiết. Họ không chỉ là cung cấp cho các công ty mới
được thành lập thông qua các dịch vụ như tư vấn kê khai các loại thuế, hướng dẫn
các nội dung của các luật thuế, giải đáp thắc mắc trong lĩnh vực thuế mà còn cung
cấp dịch vụ kiểm toán, dịch vụ về thuế cho các công ty đã hoạt động tại Việt Nam
vì các doanh nghiệp này muốn có sự hiểu biết chắc chắn về pháp luật thuế, tiết
kiệm chi phí cho doanh nghiệp nếu gặp rủi ro bị phạt thuế hoặc phải trả chi phí rất
cao cho nhân viên có kinh nghiệm về thuế. Đặc biệt là đối với các công ty đa quốc
gia, dịch vụ tư vấn thuế ngoài việc giúp các công ty này chấp hành tốt pháp luật về
thuế để tăng uy tín kinh doanh trên thị trường toàn cầu còn giúp cho doanh nghiệp
chủ động được việc nộp thuế của mình tại mỗi quốc gia.
Khi mà quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, các chủ đầu
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
16
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
tư thuê quản lý kinh doanh thì họ luôn luôn yêu cầu sổ sách kế toán phải minh
bạch, các rủi ro vi phạm pháp luật phải được kiểm soát và hạn chế đến mức thấp
nhất. Đây cũng là lý do mà các công ty này đòi hỏi phải sử dụng dịch vụ Kiểm
toán độc lập và tư vấn thuế.
Ngày nay, trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều các
công ty Việt Nam (các tổng công ty lớn và các doanh nghiệp cổ phần) sử dụng
dịch vụ tư vấn thuế thay vì chỉ có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như

chính sách thuế một cách hoàn thiện hơn.
- Công ty Kiểm toán độc lập đại diện cho các doanh nghiệp đề xuất chính sách
thuế áp dụng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong từng thời
kỳ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Mặc dù cơ chế chính sách thuế của Việt Nam
trong thời gian qua đã có những đổi mới theo chiều hướng tích cực, tuy nhiên
chính sách thuế hiện nay vẫn đang nằm trong quá trình cải cách, chuyển đổi và
từng bước hoàn thiện để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam
cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, do đó không thể tránh khỏi các vướng
mắc, sự không đồng nhất trong quá trình thực hiện. Để khắc phục và giảm thiểu
vấn đề này, Bộ Tài chính và cơ quan thuế đã tiến hành các cuộc hội thảo, đối thoại
với doanh nghiệp nhằm trao đổi, tháo gỡ các vướng mắc về thuế. Tuy nhiên, với
vai trò là kiểm toán, tư vấn thuế, các công ty Kiểm toán độc lập đã đóng vai trò tư
vấn, cung cấp thông tin, thông lệ quốc tế và chia sẻ kinh nghiệm với cơ quan hoạch
định chính sách thuế khi các cơ quan này ban hành một chính sách thuế mới hoặc
sửa đổi, bổ sung chính sách thuế. Do đó, Kiểm toán độc lập cũng đóng góp một
phần không nhỏ trong việc giúp đỡ cơ quan hoạch định chính sách thuế tạo nên
một khung pháp lý về thuế ngày càng trở nên minh bạch, rõ ràng và thống nhất.
- Công ty Kiểm toán độc lập đã giúp cho đối tượng nộp thuế tăng cường sự hiểu
biết và tuân thủ pháp luật về thuế thông qua việc kiểm toán, tư vấn thuế cho các
doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
18
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
- Kiểm toán độc lập đã góp phần ngăn ngừa tình trạng gian lận, trốn thuế.
- Các công ty Kiểm toán độc lập đã gián tiếp làm giảm các vụ khiếu kiện, tranh
chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế.
Sau 19 năm hoạt động (từ năm 1991 đến nay), Kiểm toán độc lập ở Việt Nam
đã phát triển nhanh về số lượng, quy mô, các công ty kiểm toán độc lập và số

Trong khi hoạt động của Kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báo cáo tài
chính (mức độ trung thực và hợp lý), hoạt động của Kiểm toán nội bộ không bị
giới hạn ở bất kỳ phạm vi nào trong công ty, từ mua hàng, sản xuất, bán hàng đến
quản lý tài chính, nhân sự hay công nghệ thông tin. Mục đích của Kiểm toán nội bộ
là phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp, chứ không phải cho đối tác bên
ngoài. Kiểm toán nội bộ không chỉ đánh giá các yếu kém của hệ thống quản lý mà
còn đánh giá các rủi ro cả trong và ngoài công ty.
Kiểm toán nội bộ có thể đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích. Kiểm toán nội
bộ là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý
doanh nghiệp. Nhờ nó mà Ban giám đốc và Hội đồng quản trị có thể kiểm soát
hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn một khi quy mô và độ phức tạp của doanh
nghiệp vượt quá tầm kiểm soát trực tiếp của một nhóm người. Có Kiểm toán nội
bộ như thêm “tai, mắt” cho Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Điều này làm tăng
niềm tin của cổ đông vào chất lượng quản lý và kiểm soát nội bộ, tăng giá trị
doanh nghiệp. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, các công ty có kiểm toán nội bộ thì
thường khả năng gian lận thấp và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn.
Một doanh nghiệp có kiểm toán nội bộ sẽ làm gia tăng niềm tin của các cổ đông,
các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán về hệ thống quản trị ở đây. Các thống
kê trên thế giới cho thấy các công ty có phòng kiểm toán nội bộ thường có báo cáo
đúng hạn, báo cáo tài chính có mức độ minh bạch và chính xác cao, khả năng gian
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
20
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
lận thấp và cuối cùng là hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với các công ty
không có phòng kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, có một thực tế là không phải doanh
nghiệp nào cũng thấy hết các lợi ích trên và có biện pháp để hiện thực hóa các lợi
ích đó. Nhiều doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng và đã không cân
bằng được ba mục tiêu bắt buộc của phát triển bền vững. Đó là tăng trưởng, hiệu

cũng như tính phụ thuộc của kiểm toán nội bộ, doanh nghiệp cùng với các nhà đầu
tư chưa thể có được sự đảm bảo cần thiết về tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống
kiểm soát nội bộ cũng như của việc kiểm soát rủi ro và việc tuân thủ các quy định
trong và ngoài đơn vị. Nếu đơn vị có bộ phận kiểm toán nội bộ thì cũng chỉ có thể
giúp một bộ phận quản lý cụ thể nào đó có được một sự tin tưởng nhất định về việc
vận hành của một số bước kiểm soát, chủ yếu là phê duyệt và tuân thủ về tài chính
kế toán, ghi chép và hạch toán hoặc về việc sử dụng và quản lý một số tài sản nhất
định. Doanh nghiệp cần phải tiến một bước dài mới có được sự đảm bảo với quy
mô và cấp độ lớn hơn từ Kiểm toán nội bộ trong các lĩnh vực có liên quan.
Kiểm toán nội bộ với vai trò tư vấn
Vai trò của kiểm toán nội bộ trong việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ cùng
với các bước kiểm soát rủi ro, các bước tuân thủ… bao trùm một phạm vi rất rộng
vì tất cả các cấp của doanh nghiệp đều có tham gia vào các quy trình đề ra. Kiểm
toán nội bộ đánh giá phương châm cũng như văn hóa quản lý rủi ro của một doanh
nghiệp, xem xét và báo cáo tính hiệu quả của việc thực hiện các chính sách quản
lý. Dựa vào kết quả đó, kiểm toán nội bộ sẽ đưa ra các khuyến nghị để hoàn thiện
các bộ phận có cơ hội phát triển hoặc có những khiếm khuyết cần khắc phục.
Thêm vào đó, kiểm toán nội bộ có thể cung cấp các dịch vụ tư vấn trợ giúp một
cách riêng biệt cho tất cả các cấp trong một đơn vị, từ HĐQT đến các nhân viên và
các cấp quản lý trong việc thực hiện trách nhiệm của mình một cách hiệu quả. Một
số ví dụ cụ thể về vai trò tư vấn của kiểm toán nội bộ như sau:
- Chức năng tư vấn cho HĐQT và ủy ban kiểm toán cũng như tư vấn cho ban giám
đốc: kiểm toán nội bộ có thể tư vấn cho các cấp này của doanh nghiệp trong việc
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
22
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
giám sát chung về báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, đạo đức
doanh nghiệp… Ngoài ra, cũng có thể tư vấn sâu hơn về việc quản lý tài sản, các

Chính phủ. Qua nhiều năm hoạt động, Kiểm toán Nhà nước đã khẳng định được vị
trí vai trò của mình trong cơ cấu bộ máy Nhà nước, khẳng định được sự cần thiết
và tính tất yếu khách quan của công cụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh tế - tài
chính Nhà nước. Kiểm toán Nhà nước đã thực hiện hàng nghìn cuộc kiểm toán với
quy mô lớn nhỏ khác nhau tại các đơn vị có sử dụng ngân sách trên hầu khắp các
lĩnh vực. Kết quả kiểm toán đến niên độ ngân sách năm 2002 đã phát hiện nhiều vi
phạm chính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính, kiến nghị tăng thu, tiết kiệm chi
cho ngân sách Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng. Qua kiểm toán đã giúp các Bộ,
ngành, các tỉnh, thành phố và các đơn vị được kiểm toán nhìn nhận và đánh giá
đúng đắn thực trạng tình hình tài chính, khắc phục được những yếu kém sơ hở
trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh; phòng ngừa tiêu cực tham nhũng, cải
tiến và hoàn thiện hệ thống quản lý và kiểm soát nội bộ.
Chính phủ cho rằng, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trong quá trình
chuyển đổi nên rất cần cơ quan Kiểm toán Nhà nước giúp Chính phủ quản lý, điều
hành kịp thời, có hiệu quả hơn nền kinh tế từ kiểm toán việc quản lý và sử dụng
ngân sách Nhà nước đến kiểm toán các lĩnh vực khác của tài chính công và tài
chính Nhà nước như ngân hàng và tín dụng Nhà nước, các quỹ tài chính tập trung
của Nhà nước ngoài ngân sách Nhà nước như Quỹ Bảo hiểm Xã hội, Quỹ Bảo
hiểm Y tế , tài chính doanh nghiệp Nhà nước, các công trình xây dựng cơ bản của
Nhà nước. Mặt khác, dự án Luật quy định nghĩa vụ của Kiểm toán Nhà nước trong
việc thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
và Chủ tịch nước, thực hiện trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm toán và kết quả thực
hiện kiến nghị kiểm toán với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch
nước đảm bảo phục vụ Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát các hoạt
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng – Lớp K13KKT3
Trang
24
Tiểu luận cá nhân GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng
Minh
động kinh tế tài chính đất nước. Các quy định của dự thảo Luật cũng đảm bảo cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status