1 Luận văn
BÁO CÁO TỔNG HỢP
HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG
TY XUẤT NHẬP KHẨU
TỔNG HỢP I 2
Sau đại hội lần thứ 6 của Đảng, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ
chế thị trường. Từ đó đến nay, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc
quan trọng dưới sự tác động của nhiều chủ trương, chính sách kinh tế mới.
Trong xu thế ngày càng trở thành một chỉnh thể thống nhất của nền
kinh tế thế giới, các quan hệ được mở rộng đa phương đa dạng dưới nhiều
hình thức. Bên cạnh các quan hệ ngoại giao, đầu tư quốc tế thì thương mại
quốc tế đặc biệt phát triển. Trong đó xuất khẩu lại được coi là hoạt động cơ
bản của thương mại quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu xuất hiện từ rất sớm, với những vai trò hết sức
to lớn như tạo khả năng xâm nhập thị trường quốc tế, giải quyết công ăn
việc trong nước, tạo nguồn thu ngoại tệ phục vụ hoạt động nhập khẩu, phát
triển kinh tế đất nước Do đó xuất khẩu phải được nghiên cứu cả về
phương diện lý luận và thực tiễn một cách khách quan và khoa học. Đây
cũng là vấn đề phức tạp đang đặt ra với tất cả các nhà quản lý, nhà khoa
học và kinh doanh.
Trong thời gian vừa qua em đã có những hiểu biết sơ lược về Công
ty như sau:
I - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY
XNK TỔNG HỢP I.
Quyết định số 1365/TCCB của Bộ Ngoại Thương, nhưng phải đến tháng
08/1982 mới thực tế đi vào hoạt động, với trụ sở chính đặt tại 46 Ngô
Quyền - Hà Nội và lấy tên giao dịch là: GENERALEXIM - Hà Nội.
Công ty trực thuộc Bộ Thương Mại, hoạt động theo chế độ hạch
toán, có tư cách pháp nhân, vốn và tài sản riêng tại Ngân hàng. Một điểm
cũng cần nói tới là trong năm 1993 theo quyết định số 858/TCCN của Bộ
Thương Mại đã quyết định hợp nhất Công ty phát triển sản xuất và xuất
nhập khẩu vào Công ty XNK tổng hợp I, giúp tạo thêm cho Công ty những
thế và lực mới hết sức to lớn.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy cán bộ của Công ty.
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyển
chức năng, mô hình tổ chức bộ máy của Công ty được thể hiện trong sơ đồ
dưới đây.
SƠ ĐỒ SỐ I:
4
Sơ đồ và kết cấu bộ máy tổ chức của Công ty XNK Tổng hợp I
KINH DOANH
P. GIÁM
Đ
Ố
C
TÀI CHÍNH
KH
Ố
I
PHỤC VỤ
KH
Ố
I
KINH DOANH
KH
Ố
I
QUẢN LÝ
Phòng
hành
chínhPhòng
kho
vận
Các
phòng
nghiệ
Phòng
tổng
hợp
Phòng
kế
toán
tài vụ5
- Phòng tổng hợp:
+ Xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm và chiến lược kinh
doanh
dài hạn.
+ Lập báo cáo hoạt động kinh doanh từng tháng, quý, năm trình
Giám đốc
+ Tổ chức công tác nghiên cứu thị trường, giao dịch đàm phán lựa
chọn khách hàng.
+ Kế hoạch chiến lược truyền thông, khuyến mại về Công ty.
- Phòng hành chính:
+ Phục vụ nhu cầu văn phòng phẩm của Công ty, tiếp khách và quản
lý toàn bộ tài sản của Công ty.
+ Kế hoạch sửa chữa lớn và sửa chữa thường xuyên.
- Phòng kế toán:
+ Giao kế hoạch tài chính cho các phòng ban.
+ Hạch toán đánh giá toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty theo
kế hoạch (tháng, quý, năm)
+ Lo toàn bộ vốn phục vụ cho hoạt động của các phòng ban trong
Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I là một Công ty lớn, với nghiệp vụ
chủ yếu là xuất nhập khẩu mang tính chất tổng hợp nên việc tổ chức cơ cấu
bộ máy một cách hiệu quả tránh cồng kềnh là hết sức quan trọng. Tuy
nhiên, nhìn vào cơ cấu tổ chức của Công ty như hiện nay ta thấy tương đối
phù hợp với điều kiện của Công ty: Các phòng phân định một cách rạch ròi
với những chức năng, nghiệp vụ cụ thể của mình tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động kinh doanh của họ. Song còn một điều không mấy thuận lợi
đó là phòng tổng hợp với nhiệm vụ làm công tác thị trường lại thuộc khối
quản lý chứ không thuộc khối kinh doanh gây sự vòng vèo trong truyền đạt
thông tin thị trường đến các phòng ban thuộc khối kinh doanh.
3. Tình hình cán bộ công nhân viên của Công ty.
Ở Công ty, các nhân viên thuộc các phòng ban chủ yếu đều là lực lượng
trẻ, năng động và có trình độ, đây là một trong số những điểm mạnh của công
ty. Trong tổng số cán bộ thì khoảng 80% ở trình độ đại học. Số cán bộ công
nhân viên của Công ty trong những năm gần đây có tăng nhưng với mức độ
thấp, đó là sự quán triệt tinh thần gọn nhẹ và hiệu quả trong cơ cấu quản lý, tiết
kiệm chi phí, lấy hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu số một.
7
BIỂU SỐ 1: Số lượng cán bộ công nhân viên toàn Công ty xuất nhập
khẩu Tổng hợp I những năm 1990 - 1999.
Năm 1990
1991
1992
1993
1994
4.Tình hình tài chính của Công ty.
Từ khi mới thành lập (1981) chỉ có số vốn là 139 nghìn đồng đến
nay Công ty đã có một số vốn rất lớn duy trì và phát huy tốt khả năng sản
xuất kinh doanh, hoàn thành các chỉ tiêu được giao. Đồng thời thực hiện tốt
nghĩa vụ với Nhà nước, góp phần nâng cao đời sống công nhân viên trong
toàn Công ty.
8
Biểu số 2: Một số chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của Công ty XNK
Tổng hợp I.
Đơn vị: Triệu đồng
Năm Vốn cố định Vốn lưu động Vốn đầu
tư
XDCB
Nộp
ngân
sách
Lợi
nhuận
để lại
Thu nhập
bq/người/năm
(1000 đ)
Giá trị Mức
tăng
Giá trị Mức
tăng
1990 5.437
1.636 23.588
3.600 613,7
1994 13.12922.8662.109 36.765
2.882 763,5
1995 14.21024.1251.542 40.000
3.000 880,6
1996 14.30025.837
52.913
II - CÁC GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG
TY:
Nhìn lại 18 năm hoạt động của Công ty có thể tạm chia thành 2 giai
đoạn lớn. Trong mối giai đoạn, Công ty đều phải giải quyết 3 vấn đề lớn.
9
Đó là tổ chức và cán bộ, định hướng phát triển Công ty và tạo vốn và phát
triển vốn.
1. Sự vận hành và phát triển của Công ty
GIAI ĐOẠN I: TỪ NGÀY THÀNH LẬP CÔNG TY ĐẾN ĐẦU NĂM 1993 (11 NĂM)
Thời kỳ cuối 1981 đến 1993, đất nước ta đã trải qua những biến đổi
sâu sắc về kinh tế - xã hội. Do chính sách đổi mới của Đảng, kinh tế thị
trường với cách quản lý theo cơ chế kế hoạch tập trung và bị suy kiệt do
khủng hoảng kéo dài hàng chục năm. Chính sách quản lý XNK, lúc “thắt”
lúc “mở “, không đồng bộ, khi thì chồng chéo không phù hợp với diễn biến
phức tạp của thị trường hàng hoá .
Thị trường trong nước thiếu vốn, thiếu hàng trầm trọng, thời gian sau
tình hình được cải thiện hơn.
Hoạt động tài chính, ngân hàng phát triển chậm hơn kinh doanh
mang nặng tính quản lý bao cấp hơn phục vụ. Tiền tệ biến động phức tạp
(đổi tiền VN năm 1985 ), lạm phát liên tục tăng cao. Tỷ giá giữa đồng Việt
Nam và đô la Mỹ /Rúp CN thời gian kéo dài do Nhà nước ấn định không
phù hợp với tương quan sức mua thực tế, sau Nhà nước lại đột ngột ddieef
chỉnh nâng cao tới 2,6 lần (1988). Chính sách thuế cùng đầy biến động,
phát sinh nhiều sắc thuế mới như thuế XNK, thuế vốn, thuế lợi tức, thuế
doanh thu, tỷ suất thuế đã cao lại hay điều chỉnh không phù hợp với chu
kỳ hàng hoá .
Về tổ chức kinh doanh ngoại thương, trước đây (1981) chỉ có 12
đơn vị thuộc bộ Ngoại thương được kinh doanh XNK trực tiếp, quan hệ
kinh doanh với địa phương đều tập trung qua 1 đầu mối thống nhất là
trong và ngoài nước hoặc mời các chuyên gia về phổ biến các chuyên đề có
liên quan đến nghiệp vụ XNK, hạch toán kế toán, thanh toán quốc tế, lập
hợp đồng, chứng từ thanh toán Bên cạnh việc đào tạo bồi dưỡng chuyên
môn cho cán bộ, Công ty còn chủ trương đề bạt cán bộ tại chỗ để bổ xung
cho các vị trí lãnh đạo trong bộ máy của Công ty. Trong thời gian từ 1982 -
1993, Công ty đã đề bạt tại chỗ tổng số 25 người trong đó có 3 Phó giám
đốc, 6 trưởng phòng, 1 Giám đốc, 2 phó giám đốc chi nhánh, 13 phó
phòng Đến năm 1993, Công ty đã có bộ máy hoạt động đầy đủ, gọn nhẹ
với đội ngũ cán bộ nòng cốt tương đối mạnh đảm bảo yêu cầu chuyên môn
vào thời điểm đó, với tổng biên chế 146 người.
Một mặt quan trọng khác trong công tác cán bộ là chăm lo đời sống
mọi mặt cho CBCNV: Công ty đặt ra mục tiêu đảm bảo cho anh chị em
CBCNV một đời sống kinh tế tạm đủ, không phải lo nghĩ nhiều để anh chị
em yên tâm công tác, đây là một việc làm thiết thực và là động cơ thúc đẩy
11
hoạt động kinh doanh của Công ty. Hàng năm có tổ chức dù là nghỉ mát
cho toàn thể CBCNV. Đặc biệt, Công ty còn vận dụng chính sách “Nhà
nước và nhân dân cùng làm” xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng để làm nhà
cho hầu hết CBCNV trong Công ty.
Công ty hết sức coi trọng việc xây dựng đoàn kết nội bộ, phát huy được
vai trò lãnh đạo của Đảng tạo điều kiện mọi mặt cho công tác đoàn thể.
2. Vấn đề xác định định hướng phát triển đúng
Thời gian đầu thành lập Công ty phải tập trung giải quyết một số vấn
đề mang tính nguyên tắc như: Nguyên tắc hạch toán mới “lấy thu bù chi”
phạm vi kinh doanh, ngành hàng, những nguyên tắc riêng về hoạt động cho
Công ty trong việc lựa chọn phương thức kinh doanh, sử dụng vốn ngoại tệ,
thu hoa hồng uỷ thác bằng ngoại tệ, lập quỹ hàng hoá
Do yêu cầu phát triển của thị trường, trong từng giai đoạn Công ty
còn đề nghị được nhận thêm cách nhiệm vụ khác như:
Việc định hướng đúng còn thể hiện trên lĩnh vực thị trường và
thương nhân (bạn hàng): Trong từng thời kỳ, Công ty đã chú ý xây dựng
cho mình một đội ngũ bạn hàng và thị trường phù hợp với phạm vi và quy
mô kinh doanh trong đó lấy thị trường nội là gốc là môi trường sống. Công
ty luôn coi bạn hàng là đối tượng phục vụ để thu hút khách hàng đi với
mình, và khi đã hợp tác với nhau Công ty hết sức hợp tác, tạo điều kiện để
hai bên cùng phát triển. Nhờ vậy, uy tín của Công ty ngày càng được nâng
cao. Tại các hội nghị khách hàng các năm 1985, 1987 nhiều đại biểu
khách hàng (Vĩnh Phú, Bắc Thái, Thanh Hoá ) đã bày tỏ sự biết ơn với
Công ty do sự hợp tác xây dựng trong quan hệ kinh doanh. Về thị trường
ngoại, Công ty cũng xây dựng được một số thương nhân chính góp phần ổn
định kế hoạch kinh doanh của Công ty, kế hoạch sản xuất của nhiều địa
phương cơ sở trong nước hoặc góp phần đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong
nước. Những thành công đáng kể trên lĩnh vực này là các việc:
+ Nhập bao đay phục vụ đóng lạc giao theo NĐ thư với Liên Xô năm
1987, nhập đường phục vụ nhu cầu trong nước năm 1989 với thời gian giao
dịch và điều hàng về trong vòng một tuần.
+ Xây dựng quan hệ làm ăn dài hạn về gia công may mặc với POSCELIN,
PETER từ đầu 1991 đến nay.
3. Vấn đề tạo vốn và bảo toàn phát triển vốn:
Khi thành lập, hầu như không được giao vốn, nhiệm vụ XNK uỷ thác
là chính. Được Nhà nước cho cơ chế tạo vốn bằng cách thu 1% hoa hồng
ngoại tệ qua XNK uỷ thác, Công ty không chỉ dừng lại ở đây mà chủ động
tự doanh hàng nhập thông qua việc lập quỹ hàng hoá.
13
Khi việc kinh doanh quỹ hàng hoá không còn phù hợp với thị trường
nữa, Công ty đã chủ động tìm các việc làm khác có hiệu quả hơn để thay
thế như việc tự doanh hàng điện tử, làm hàng phi mậu dịch, lắp ráp điện tử,
xe máy, đầu tư tài chính
14
1992 - 31,900 - 106,34% - 15
b - Đóng góp ngân sách:
1982 Tổng cộng các khoản 6.174.204
đồng
1983 - 71.889.790
đồng
1984 - 93.940.138
đồng
1985 - 2.624.995
đồng
1986 - 81.109.952
đồng
1987 - 852.835.115
đồng
1988 - 2.294.617.070
đồng
1989 - 2.084.271.142
đồng
cà phê, tân dược, hải sản, than
16
- Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh, với chính sách ủng
hộ tư nhân, trả lương cao đã thu hút nhiều cán bộ giỏi vào các Công ty
nước ngoài.
- Chính sách đổi mới kinh tế làm cho ngày càng nhiều các Công ty,
cơ sở thuộc tất cả các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh XNK trực
tiếp trong khi sản xuất chưa phát triển kịp làm cho cạnh tranh ngày càng
gay gắt, nhiều khi cạnh tranh không lành mạnh, bất trắc nếu không thận
trọng rất dễ mất hàng mất vốn. Số doanh nghiệp trực tiếp XNK từ 12 doanh
nghiệp năm 1981 tăng lên 1.400 doanh nghiệp 1998.
- Các chính sách của Nhà nước về việc hình thành các Công ty lớn
có sự trợ giúp của Nhà nước về mọi mặt từ khâu sản xuất đến lưu thông
làm Công ty mất thị trường và nhiều mặt hàng lớn. Lãi suất Ngân hàng
trong nước quá chênh lệch so với lãi suất quốc tế hạn chế đầu tư cho kinh
doanh sản xuất, thuế các loại quá cao, hay điều chỉnh đột ngột không phù
hợp với chu kỳ vận động hàng hoá làm cho việc tính toán phương án kinh
doanh rất khó khăn.
- Những ưu đãi về cơ chế trước đây mà Công ty là một trong những
đơn vị được hưởng ngày càng mất dần. Những dịch vụ lớn có lãi suất 5% -
10% hầu như không có, lãi gộp chỉ còn bình quân 2,7 - 3%.
Tháng 7/1993 là bước ngoặt của Công ty về tổ chức và cán bộ lãnh
đạo: Theo quyết định của Nhà nước đồng chí Mai Văn Dâu giám đốc Công
ty được đề bạt lên làm Thứ trưởng Bộ Thương Mại, đồng thời Bộ quyết
định sáp nhập Công ty Promexim cũ vào Tổng hợp với số nợ khó đòi 2,1 tỷ
đồng, lỗ 900 triệu đồng, hàng tồn kho ô tô lỗ hơn 2 tỷ, hàng tranh chấp
khiếu nại 3 tỷ. Hàng tồn kho và nợ khó đòi của cả 2 Công ty trị giá là 37 tỷ.
Nợ quá hạn của Promexim cũ 15 tỷ đồng. Số CBCNV của Công ty từ 146
người kể cả hợp đồng tăng lên 389 người, sau tăng tới 450 người do tuyển
việc làm cho hàng vạn người lao động. Năm 1993 Công ty có quan hệ với
15 xí nghiệp, đến năm 1996 Công ty có quan hệ với 28 xí nghiệp. Năm
1995 Công ty được xếp thứ 11 trong số trên 300 xí nghiệp và Công ty xuất
khẩu may mặc cả nước. Ngoài mặt hàng GCMM Công ty chủ trương làm
mọi mặt hàng, lô hàng không kể lớn bé miễn là có hiệu quả. Trong kinh
doanh áp dụng linh hoạt các hình thức uỷ thác, tự doanh. Các mặt hàng lớn
như lạc, thiếc Công ty chú trọng đầu tư “chất xám” theo sát thị trường,
quyết định thời điểm mua và bán, kinh doanh có hiệu quả cao.
Về nhập khẩu mở rộng đối tượng phục vụ cả 5 thành phần kinh tế
theo nguyên tắc nắm hàng, có tiền thì mới giao hàng. Nên trong 4 năm vừa
qua Công ty không bị lừa đảo và mất vốn. Trong khi nhiều doanh nghiệp
18
khác rơi vào tình trạng này. Trong cơ chế thị trường Công ty đặc biệt chú ý
tới công tác pháp lý trong kinh doanh như xây dựng hợp đồng mẫu, điều tra
thương nhân về uy tín, khả năng tài chính và kịp thời có những biện pháp
để sử lý khi thấy đối tác của mình có biểu hiện mất khả năng tài chính và
lừa đảo. Trong thời gian qua Công ty đã giải quyết thành công 23 vụ tranh
chấp với các Công ty nước ngoài thu về cho Công ty trên 10 tỷ đồng, hạn
chế tổn thất và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Bên cạnh kinh doanh XNK, Công ty đã mở rộng sang khâu bán lẻ
bằng cách tổ chức 3 cửa hàng của Công ty và xây dựng các điểm bán đại lý
với một số mặt hàng. Đây không chỉ là biện pháp tạo thêm công ăn việc
làm cho CBCNV trong Công ty mà còn nhằm mục đích tạo chỗ đứng cho
Công ty trên thị trường nội địa.
Trên lĩnh vực sản xuất. Năm 1994 Công ty đã xây dựng và đưa vào
sản xuất 1 xí nghiệp may mặc XK tại Đoạn xá Hải Phòng ở quy mô vừa
150 máy và khoảng 200 công nhân. Đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới. Xí
nghiệp đã được thai nghén từ giai đoạn trước (1953) nhưng khi triển khai
có rất nhiều khó khăn mà chủ yếu là năng lực quản lý của Công ty còn yếu.
Các chỉ tiêu tài chính đều thực hiện vượt kế hoạch được giao được
coi là một trong các đơn vị dẫn đầu trong ngành thương mại về các hoạt
động kinh doanh sản xuất. Bốn năm liên tục Công ty được nhận cờ thi đua
luân lưu của Chính phủ (1992 - 1993 - 1994 - 1995). Năm 1996 được
thưởng Huân chương lao động hạng nhất. Hoạt động đoàn thể năm 1994,
1995 được tặng cờ và bằng khen của Tổng liên đoàn lao động.
2. Kết quả thu được của Công ty trong các giai đoạn.
Căn cứ vào kết quả thu được và tình hình phát triển của Công ty, có
thể chia chặng đường đi của Công ty thành các giai đoạn như sau:
GIAI ĐOẠN 1: (TỪ KHI THÀNH LẬP 12/1981 ĐẾN CUỐI NĂM 1984)
Đây là giai đoạn đầu, công ty đang chập chững và tìm bước đi sao
cho đúng hướng, cũng do mới thành lập nên quan hệ giữa Công ty với các
cơ sở trong nước chưa được xác lập, chưa mấy địa phương biết đến hoặc
còn chưa đủ tin vào uy tín của Công ty, còn đối với nước ngoài tên tuổi của
Công ty thì cũng là rất mới.
Tuy nhiên, trong điều kiện đó Công ty đã tìm ra hướng đi cho mình,
ngoài việc ổn định lại bộ máy tổ chức, nâng cao một bước trình độ nghiệp
vụ kinh doanh cho cán bộ công nhân viên, sơ bộ rút ra được một số kinh
20
nghiệm để giai đoạn sau của Công ty đi vào đúng quỹ đạo hoạt động. Kết
quả giai đoạn này tuy chưa cao song cũng đã làm dấy lên được tinh thần tự
khẳng định mình. Điều này được thể hiện qua các chỉ tiêu nêu trong bảng
dưới đây.
Biểu số 3: Kim ngạch XNK của Công ty XNK Tổng hợp 1 những năm
1982 - 1984.
Năm Thực hiện (USD) Hoàn thành KH (%)
1982 11.800.000 100
1983 12.647.000 103
1984 19.463.000 108
của Nhà nước như: Số lượng Công ty xuất nhập khẩu tăng lên nhiều, nhiều
đơn vị chuyên doanh đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp. Bên cạnh đó là
việc thu hẹp thị trường do khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa, tính
cạnh tranh càng trở nên gay gắt. Nhưng Công ty đã xác định được đúng
hướng trong sản xuất và kinh doanh, biết vận dụng linh hoạt phương thức
kinh doanh, nhậy bén tìm hiểu thị trường trong và ngoài nước, tìm ra những
sản phẩm mà thị trường đang có nhu cầu và phù hợp với khả năng kinh
doanh của Công ty. Kết quả là năm 1990 Công ty bắt đầu triển khai công
tác sản xuất - xuất khẩu hàng may mặc.
Ngành may mặc đối với Công ty thực sự là mới mẻ song qua thời
gian đầu chập chững với những chuyến hàng xuất đi ít ỏi, Công ty đã dần
mở rộng được thị trường và đưa kim ngạch xuất khẩu mặt hàng may mặc nói
riêng và các mặt hàng khác nói chung lên đến những con số đáng khích lệ.
Biểu số 5: Kim ngạch xuất nhập khẩu và kim ngạch xuất nhập khẩu
hàng may mặc của Công ty 1990 - 1997.
Năm Tổng kim ngạch XNK Kim ngạch XNK hàng
may mặc (1000 USD)
Thực hiện (1000 USD) So với kế hoạch (%)
1990
40.655 102 300
1991
27.000 100 8600
1992
31.900 106 13600
1993
46.000 102 18044
luôn quan tâm đến công tác tổ chức cán bộ với ý thức con người là nhân tố
quyết định tất cả.
Hiện nay tình hình nhân sự ở Tổng Công ty XNK Tổng hợp I tương
đối ổn định. Đó trước hết là nhờ ban lãnh đạo Công ty đã đề ra và thực hiện
một số giải pháp bước đầu. Do đó có thể nói việc thuyên chuyển nhân viên
và điều chỉnh giữa các bộ phận là bước đi đúng đắn của lãnh đạo Công ty.
Ngoài ra Công ty còn đào tạo và đào tạo lại cán bộ công nhân viên nhằm
đáp ứng yêu cầu kỹ thuật vào sản xuất và giải quyết số lao động dôi dư do
chuyển đổi dây chuyền công nghệ tiên tiến.
Trong 3 năm (1995 - 1996 - 1997) Công ty đã đào tạo 118 lượt người
về nghiệp vụ, vi tính và ngoại ngữ. Tăng cường đào tạo cán bộ theo chương
trình đào tạo hợp lý, kết hợp đào tạo chính quy trong nước và nước ngoài
hoặc mời các chuyên gia về phổ biến các chuyên đề có liên quan đến
nghiệp vụ XNK, hạch toán kế toán, thanh toán quốc tế, lập hợp đồng,
23
chứng từ thanh toán Bên cạnh việc đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cho
cán bộ, Công ty còn chủ trương đề bạt cán bộ tại chỗ để bổ xung cho các vị
trí lãnh đạo trong bộ máy của Công ty. Trong thời gian từ 1982 - 1993,
Công ty đã đề bạt tại chỗ tổng số 25 người trong đó có 3 Phó Giám đốc, 6
Trưởng phòng, 1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc chi nhánh, 13 Phó phòng
Đến năm 1993, Công ty đã có bộ máy hoạt động đầy đủ gọn nhẹ với đội
ngũ cán bộ nòng cốt tương đối mạnh đảm bảo yêu cầu chuyên môn vào
thời điểm đó, với tổng biên chế 146 người.
Đồng thời, để nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, ban lãnh đạo đã
phát động phong trào tự học hỏi lẫn nhau, tăng cường công tác giáo dục tư
tưởng, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, tinh thần làm chủ của công đoàn
trên mọi hoạt động của Công ty.
Mặt quan trọng khác trong công tác cán bộ là chăm lo đời sống mọi
mặt cho cán bộ công nhân viên: Công ty đặt ra mục tiêu đảm bảo cho anh
vốn, chủ động chọn những lĩnh vực đầu tư có hiệu quả.
Công ty luôn có biện pháp bảo toàn vốn có hiệu quả, nên trong bối
cảnh đồng tiền trượt giá hàng chục %/tháng cuối những năm 1980 đầu
1990, diễn biến thị trường, cạnh tranh phức tạp bị mất vốn, bị chiếm dụng
vốn Công ty vẫn vững mạnh.
Bài học thứ tư: Đa dạng hoá hoạt động kinh doanh sản xuất và làm
dịch vụ trên cơ sở tính toán năng lực quản lý, trình độ cán bộ và hiệu quả
công việc.
Từ hoạt động thực tiễn ngoài lĩnh vực chính là XNK Công ty đã đầu
tư vào ngân hàng XNK 1989, đầu tư sản xuất may mặc năm 1993, đầu tư
xây dựng khách sạn và văn phòng cho thuê 1994. Thực tế đã chứng minh
chủ trương trên là đúng. Trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh
quyết liệt nhiều xí nghiệp phá sản, hoặc giảm sút, nhưng Công ty Tổng hợp
I mặc dù sát nhập hai Công ty vẫn ổn định và phát triển.
Bài học thứ 5: Giữ chữ tín trong kinh doanh.
Giữ gìn chữ “tín” trong kinh doanh, sòng phẳng và có chiếu cố lẫn
nhau trong quan hệ buôn bán là phương châm hoạt động trên thị trường
nội và ngoại của Công ty. Nhờ vậy, trong từng giai đoạn phát triển Công ty
đã xây dựng được một mạng lưới bạn hàng rộng khắp. Có những thương
nhân chỉ muốn ký hợp đồng với Tổng hợp I, có những mặt hàng nhờ Tổng
hợp I kinh doanh doanh mà giá xuất khẩu có thể nâng lên 5 - 10 USD/ so
với giá thị trường Tôn trọng và chấp hành pháp luật giúp Công ty tồn tại
và phát triển vững vàng, qua nhiều lần, nhiều đợt thanh tra kiểm tra đặc biệt
25
là đợt tổng kiểm tra của thanh tra Nhà nước năm 1995 Công ty đều được
đánh giá là đơn vị làm ăn nghiêm túc, có hiệu quả.
Bài học thứ sáu: Vận dụng chính sách Nhà nước, có cơ chế kết hợp
giữa công việc và lợi ích vật chất để CBCNV gắn bó với Công ty. Ngoài
việc làm và thu nhập hàng tháng, Công ty đã chăm lo xây dựng nhà ở cho