Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
1
Luận văn
Vai trò của EU trên lĩnh
vực hoạt động thương mại
quốc tế
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
2
CHƯƠNG 1
GIỚITHIỆUCHUNGVỀTHỊTRƯỜNG EU
1.1. VÀINÉTVỀQUÁTRÌNHPHÁTTRIỂNCỦA LIÊNMINH CHÂUÂU
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của Liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu (European Union – EU) hiện có 15 nước thành viên, gồm:
Pháp, Đức, Italy, Bỉ, Hà Lan, Lúc Xăm Bua, Anh, Ai Len, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây
Ban Nha, BồĐào Nha, Áo, ThuỵĐiển, Phần Lan. Tổng diện tích các nước EU là 3,3
triệu km, tổng số dân khoảng 400 triệu người, tổng GDP khoảng 8.000 tỷ USD. Trụ sở
của EU được đặt tại Bruxelles (thủđô Bỉ). EU được quản lý bởi một loạt các thể chế
chung ( Nghị Viện, Hội đồng, Uỷ Ban, v.v…).
Bước khởi đầu của quá trình thành lập Liên minh Châu Âu là ngày 18/04/1951,
Bỉ, Pháp, Italy, Hà Lan, Lúc Xăm Bua và CHLB Đức (tức Tây Đức) kí Hiệp ước Paris
thành lập Cộng đồng Than Thép Châu Âu (CESC), nhằm tạo ra một thị trường chung
cho than, thép, quặng, sắt. Tiếp đó, ngày 25/07/1957, các nước CESC kí Hiệp ước
Roma thành lập Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC), nhằm thiết lập một thị trường
giá thương mại toàn cầu. Hiện nay, EU là khối thương mại mở lớn nhất thế giới và là
thành viên chủ chốt của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chiếm khoảng 40% tổng
kim ngạch thương mại toàn cầu (gồm cả kim ngạch xuất nhập khẩu)
Bảng: Tỷ lệ thị phần của EU trong mậu dịch thế giới.
(% xuất nhập khẩu)
1980 1985 1990 2000
Xuất khẩu
EU
Mỹ
Châu á - TBD
36,5
11,6
14,5
35,9
11,8
21,2
41,0
11,8
22,2
44,9
9,8
31,9
Nhập khẩu
EU
Mỹ
50%.
Kim ngạch xuất khẩu của EU năm 2000 đạt 814,658 tỷ USD gồm xuất khẩu
giữa các nước thành viên với nhau chiếm 61,8%, phần còn lại là xuất khẩu ra bên
ngoài.
Từ những số liệu phân tích trên, chúng ta nhận thấy EU chiếm một tỷ trọng lớn
trong thương mại toàn cầu và có vai trò nổi bật trong Tổ chức Thương mại thế giới,
bất kì một sự suy giảm nào của nền kinh tế EU đều ảnh hưởng xấu đến hoạt động
thương mại toàn cầu.
1.2. ĐẶCĐIỂMCỦATHỊTRƯỜNG EU
1.2.1. Tập quán, thị hiếu tiêu dùng và kênh phân phối
Tập quán và thị hiếu tiêu dùng
EU gồm 15 thị trường quốc gia, nhưng 15 nước thành viên đều là những quốc
gia nằm trong khu vực Tây và Bắc Âu nên cũng có những điểm tương đồng về kinh tế
và văn hoá. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nước thành viên kháđồng đều,
cho nên người dân thuộc khối EU có sở thích và thói quen tiêu dùng khá thống nhất
như: ưa chuộng hàng có nguồn gốc tự nhiên, lành mạnh. Mức sống của người dân EU
rất cao nên vấn đề là chất lượng, mẫu mã, chủng loại chứ không phải là giá cả. Người
dân EU chấp nhận giá cao khi hàng đạt yêu cầu thị hiếu và chất lượng theo ý của họ.
Xu hướng tiêu dùng của người dân EU ngày nay đã thay đổi từ hàng bền trước đây
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
5
nay sang hàng sử dụng ngắn ngày, không thích sử dụng đồ nhựa mà thích dùng đồ gỗ,
thích ăn thuỷ hải sản hơn ăn thịt, yêu cầu về mẫu mốt và kiểu dáng hàng hoá là những
sản phẩm có chu kì sống ngắn hơn, giá rẻ hơn và phương thức dịch vụ tốt hơn. Tuy
nhiên, người tiêu dùng EU yêu cầu rất khắt khe về chất lượng vàđộ an toàn của sản
phẩm nói chung, còn riêng đối với thực phẩm thì chất lượng và vệ sinh là hàng đầu.
Thị trường EU về cơ bản cũng giống như một thị trường quốc gia, do vậy có 3
nhóm người tiêu dùng khác nhau: (1) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức cao, chiếm
tiếp từ nhà xuất khẩu nước ngoài. Mối quan hệ bạn hàng giữa các nhà bán buôn và
bán lẻ trên thị trường EU không phải là ngẫu nhiên mà phần lớn là do có quan hệ tín
dụng và mua cổ phần của nhau. Họ liên kết với nhau chặt chẽ thành một chuỗi mắt
xích trong kinh doanh bằng các hợp đồng kinh tế. Các cam kết trong hợp đồng được
giám sát nghiêm ngặt bởi các chế tài của luật kinh tế.
Hệ thống phân phối của EU đã hình thành lên một tổ hợp rất chặt chẽ và có
nguồn gốc lâu đời. Tiếp cận được hệ thống phân phối này không phải là việc dễđối
với các nhà xuất khẩu Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, có thể tiếp cận với nhà nhập
khẩu EU bằng hai cách: thứ nhất, tìm các nhà nhập khẩu EU để xuất khẩu trực tiếp (
tìm các nhà nhập khẩu này qua các Thương vụ của Việt Nam tại EU, phái đoàn EC tại
Hà Nội, các Đại sứ quán của các nước EU tại Việt Nam ); thứ hai, những doanh
nghiệp Việt Nam có tiềm lực kinh tế nên thành lập liên doanh với các Công ty xuyên
quốc gia EU để trở thành công ty con.
1.2.2. Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng EU
Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU làquyền lợi của người tiêu dùng rất
được bảo vệ, khác hẳn với thị trường của các nước đang phát triển. Đểđảm bảo quyền
lợi cho người tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và
có hệ thống báo động giữa các nước thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản
phẩm ở biên giới. Các tổ chức chuyên nghiên cứu đại diện cho giới tiêu dùng sẽđưa ra
các quy chếđịnh chuẩn Quốc gia hoặc Châu Âu. Hiện nay ở EU có 3 tổ chức định
chuẩn: Uỷ ban Châu Âu vềĐịnh chuẩn, Uỷ ban Châu Âu vềĐịnh chuẩn điện tử, Viện
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
7
Định chuẩn Viễn thông Châu Âu. Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được ở thị
trường này với điều kiện phải bảo đảm an toàn chung của EU, các luật vàđịnh chuẩn
quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm được sản xuất ra từ các
nước có những điều kiện sản xuất chưa đạt được mức an toàn ngang với tiêu chuẩn
của EU.
trường xuất khẩu lớn nhất và thị trường nhập khẩu lớn thứ hai. Hàng năm, EU nhập
khẩu một khối lượng lớn hàng hoá từ khắp các nước trên thế giới. Kim ngạch nhập
khẩu không ngừng gia tăng, từ 622,48 tỷ USD năm 1997, lên tới 757,85 tỷ USD vào
năm 2000, tăng trung bình 6,79%/năm ( xem bảng 2).
Bảng 2: KIMNGẠCHXUẤTNHẬPKHẨUCỦA EU
Đơn vị: Tỷ USD 1997199819992000
Kim ng
ạ
ch xu
ấ
t kh
ẩ
u 680,93
ổ
ng kim ng
ạ
ch xu
ấ
t nh
ậ
p kh
ẩ
u 1.303,411.436,121.532,371.572,51
Tr
ị
gi
á
xu
ng
kim ngạch XNK (%)
52,2451,2551,8051,80
T
ỷ
tr
ọ
ng c
ủ
a nh
ậ
p kh
ẩ
u trong t
ổ
ng
kim ngạch XNK (%)
Các thị trường nhập khẩu chủ yếu của EU: Mỹ chiếm 19,65% tổng kim ngạch
nhập khẩu, Nhật Bản chiếm 9,75%, Trung Quốc chiếm 5,02%, khối NAFTA chiếm
22,15%, khối ASEAN chiếm 6,5%, khối OPEC chiếm 7,75%, v.v… Các số liệu thống
kê cho thấy nhập khẩu hàng hoá từ các nước đang phát triển vào EU đang gia tăng và
có chiều hướng nhập nhiều hàng chế tạo. EU nhập khẩu các mặt hàng nông sản,
khoáng sản, thuỷ hải sản, giày dép và hàng dệt may chủ yếu từ các nước đang phát
triển; còn nhập khẩu máy móc thiết bị từ các nước phát triển ( xem phụ lục 2).
1.3. THUẬNLỢIVÀKHÓKHĂNCỦACÁCDOANHNGHIỆP VIỆT
NAMKHIXUẤTKHẨUHÀNGHOÁSANGTHỊTRƯỜNG EU
1.3.1. Những thuận lợi
Liên minh Châu Âu là một khối liên kết kinh tế chặt chẽ và sâu sắc nhất thế giới
hiện nay. Đây cũng là một khu vực phát triển kinh tếổn định và cóđồng tiền riêng khá
vững chắc. Việt Nam thâm nhập thị trường này sẽ không gặp sự chao đảo như vào
Nhật Bản năm 1997-2000.
Khung pháp lý về thị trường đãđược mở do đã kíđược các Hiệp định, Thoả
thuận thương mại về hàng giầy dép, dệt may, thuỷ sản, v.v… là những hàng xuất khẩu
chủ yếu có kim ngạch lớn, chiếm 80% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam.
EU là một trong những thị trường tiêu thụ lớn trên thế giới, có nhu cầu rất đa
dạng và phong phú về hàng hoá, nhu cầu nhập khẩu hàng năm của EU về những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của ta là rất lớn và kháổn định như: giày dép, dệt may, thuỷ
hải sản, nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ. Do vậy, Đẩy mạnh xuất khẩu sang khu vực
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
10
này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ cóđược sự tăng trưởng ổn định về kim ngạch,
nâng cao được trình độ và tay nghề của người lao động, mặt khác còn thay đổi cơ cấu
kinh tế Việt Nam.
Chính sách thương mại của EU đối với Việt Nam đang dần hoàn thiện. Dự thảo
GSP mới được Hội đồng Châu Âu phê duyệt áp dụng từ 1/1/2002 đến 31/12/2004 quy
hoáở 5 tiêu chuẩn của sản phẩm: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm,
tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về
lao động.
Việc tự do hoá về thương mại vàđầu tư trên thế giới cũng như những cải cách
về chính sách và cơ chế quản lý xuất nhập khẩu của EU đang có xu hướng ngày càng
được lới lỏng. Do đó, cạnh tranh trên thị trường này sẽ ngày càng gay gắt nhất là khi
Trung Quốc đã gia nhập tổ chức WTO. Thị trường EU cóđặc tính cạnh tranh mạnh mẽ
như vậy đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải tạo ra lợi thế cạnh tranh hơn so với
các đối thủ khác. Có nghĩa là chất lượng sản phẩm phải liên tục được cải thiện, mẫu
mã và kiểu dáng phải được đổi mới nhanh hơn trước đây. Chu trình sống của một sản
phẩm sẽ ngắn hơn. giá sản phẩm rẻ hơn, phương thức dịch vụ tốt hơn. Các nhà xuất
khẩu Việt Nam có thể dựa vào chi phí lao động thấp để cạnh tranh.
Kênh phân phối EU rất phức tạp, muốn tiếp cận được kênh phân phối EU, các
doanh nghiệp phải nắm được đặc điểm của kênh phân phối để từđó có những biện
pháp cụ thể xâm nhập vào. Nhiều khi hàng xuất khẩu Việt Nam thâm nhập vào thị
trường EU chỉ theo một kênh phân phối, việc này đã hạn chế khả năng đẩy mạnh xuất
khẩu, đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao giá bán của các doanh nghiệp.
Việt Nam có vị trí rất quan trọng trong chính sách thương mại của EU, nhưng
chưa là thành viên của WTO nên không được đối sử như là thành viên của tổ chức
này. Việc mở cửa thị trường EU luôn gắn liền với việc mở cửa thị trường Việt Nam,
do đó thì khả năng mở thêm thị trường EU là rất khó.
Tóm lại, tự do thương mại, toàn cầu hoá là cơ hội và thách thức đối với tất cả
các nước. Với Việt Nam, vấn đề này còn rất mới cả về nhận thức và hành động.
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
12
mô lẫn hình thức như quan hệ hợp tác, đầu tư, thương mại…
Từ năm 1995, năm Việt Nam ký Hiệp định Hợp tác với EU mởđầu cho một thời
kì phát triển mới của quan hệ hợp tác song phương, hai bên dành cho nhau quy chếđãi
ngộ tối hệ quốc, mở cửa cho hàng của các bên vào thị trường, qui ước hàng xuất xứ từ
Việt Nam được hưởng qui chế thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP), Việt Nam đã có xuất
siêu và mức xuất siêu ngày càng lớn. Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều không
ngừng tăng lên hàng năm, trung bình 37,6%/năm thời kì 1990-2000. Năm 1998, tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với EU đạt trên 4 tỷ USD; năm 1999 đạt 4,5
tỷ USD; năm 2000 đạt gần 5 tỷ USD; năm 2001 đã vượt hơn 5 tỷ USD.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU là giày dép, hàng may
mặc, cà phê, hải sản, gạo, cao su, than đá, hạt điều, rau quả. Các mặt hàng này chiếm
từ 72% - 76% xuất khẩu của Việt Nam vào EU, trong đó lớm nhất là giày dép chiếm
30% tổng kim ngạch xuất khẩu, may mặc (25%), cà phê, hải sản. Ngoài ra còn có
hàng thủ công mỹ nghệ, nhất làđồ gỗ, hàng gốm sứ.
2.2. THỰCTRẠNGHOẠTĐỘNGXUẤTKHẨUHÀNGHOÁ VIỆT
NAMVÀOTHỊTRƯỜNGEU
2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu
Hiện nay, EU là một trong những đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam,
là khu vực thị trường xuất khẩu lớn thứ hai sau ASEAN. Từ năm 1995, năm Việt Nam
kí Hiệp định Hợp tác với EU mởđầu cho một kì phát triển mới của quan hệ hợp tác
song phương, Việt Nam đã có xuất siêu và mức xuất siêu ngày càng lớn. Điều này có
thể thấy rõ qua các số liệu ở bảng 3.
Bảng 3: KIMNGẠCHXUẤTNHẬPKHẨU VIỆT NAM – EU (1995 – 2001)
Đơn vị tính: triệu USD
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
14Năm
1997
1998
1999
2000
2001
T
ổ
ng kim ng
ạ
ch xu
ấ
t kh
ẩ
u
của Việt Nam (1)
9
185
9360
11541,4
14482,7
17,58
22,22
21,79
19,64
19,98
T
ổ
ng kim ng
ạ
ch nh
ậ
p kh
ẩ
u
của EU (3)
622489
713252
738505
757852
764936
t
ă
ng h
à
ng n
ă
m
của (2) (%)
79,31
28,81
20,19
23,08
19,63
Nguồn: Niên giám thống kê 2001 - NXB Thống kê
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan, kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang EU tăng với tốc độ bình quân khá cao khoảng 41,32% vào thời điểm sau
khi kí Hiệp định Khung về hợp tác (1995-2001). Kết quảđạt được đã chứng tỏ EU
làđối tác hỗ trợ rất lớn cho những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải thiện tình trạng
thâm hụt cán cân thương mại trong thời gian dài. Năm 2001, xuất khẩu của Việt Nam
sang thị trường EU chiếm tỷ trọng 19,98% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam.
Mặt khác, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - EU trong tổng kim ngạch
nhập khẩu của EU đang tăng. Cụ thể, năm 1997 là 0,26%; năm 1998 là 0,29%; năm
1999 tăng lên đến 0,34%; năm 2000 tăng lên 0,38%; năm 2001 tăng lên 0,39% .
Tên nước 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
1 Đức 218,0 228,0 411,4 552,5 654,3 730,3 721,8
2 Anh 74,6 125,1 265,2 335,8 421,2 479,4 511,6
3 Pháp 169,1 145,0 238,1 297,3 354,9 380,1 467,5
4 Hà Lan 79,7 147,4 266,8 304,1 342,9 391,0 364,5
5 Bỉ 34,6 61,3 124,9 212,3 306,7 311,9 341,2
6 Italia 57,1 49,8 118,2 144,5 159,4 218,0 237,9
7 Tây Ban Nha 46,7 62,8 70,3 85,6 108,0 137,3 158,5
8 Thụy Điển 4,7 31,8 47,1 58,5 45,2 55,1 53,2
9 Đan Mạch 12,8 23,7 33,2 43,3 43,7 58,4 49,7
10 Phần Lan 4,9 10,1 13,4 19,2 21,9 26,7 27,1
11 Áo 9,3 5,6 11,4 8,4 34,9 23,7 28,9
12 Hy Lạp 1,6 2,1 5,7 7,1 6,8 11,2 14,3
13 BồĐào Nha 3,8 4,1 4,2 4,4 5,2 9,6 11,4
14 Ai len 2,8 3,1 3,3 3,9 6,9 8,2 9,2
15 Lucxămbua 0,3 0,6 1,5 2,1 3,3 4,2 5,8
Tổng 720 900,5 1614,7
2079 2515,3
2845,1
3002,6
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001- NXB Thống kê
Qua số liệu ở bảng trên ta nhận thấy kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam
sang các nước trong khối EU đều tăng hàng năm. Thị trường xuất khẩu lớn nhất của
Việt Nam trong khối EU làĐức, chiếm 24,04% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của
Việt Nam với EU năm 2001, Anh (17,04%), Pháp (15,57%), Hà Lan (12,13%), Bỉ
thểdục thể thao, phụ tùng và các bộ phận phụ trợ chiếm 2,1%; đồ gốm sứ chiếm
2,0%; máy móc thiết bịđiện chiếm 1,1% và một số mặt hàng khác có giá trị nhỏ. Hàng
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
18
xuất khẩu của Việt Nam sang EU chủ yếu là sản phẩm của các ngành công nghiệp
nhẹ sử dụng nhiều lao động, hoặc là hàng có mức độ gia công chế biến thấp, nguyên
nhiên liệu và nông sản.
2.2.3. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu
Hàng giày dép - Mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất
Giày dép Việt Nam cũng là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn. Thị trường
chính cho xuất khẩu giày dép vẫn là EU, chiếm 74% tổng kim ngạch xuất khẩu của
mặt hàng này trong cả nước. Việt Nam hiện đang là nước đứng thứ hai trong các nước
xuất khẩu giày dép vào EU ( sau Trung Quốc ). Hàng giày dép của Việt Nam vào EU
sau khi kí Hiệp định Hợp tác ( 1995 ), được nhập khẩu tự do vào EU. Chính vì vậy,
kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh. Theo số liệu thống kê của Bộ thương mại, năm 1995
Việt Nam xuất sang EU đạt 481,3 triệu USD; năm 1996 đạt 664,6 triệu USD; năm
1997 đạt 1.032,3 triệu USD; năm 1998 đạt 1.043,1 triệu USD, năm 1999 đạt 1.135
triệu USD; năm 2000 Việt Nam đã xuất sang EU 200 triệu đôi giày dép các loại, đạt
1.207 triệu đến năm 2001 lên tới 1.360,5 triệu USD; vượt xa mặt hàng dệt may đã
từng giữ vị trí thống soái trong thời kì 1992-1995.
Các sản phẩm giày dép của Việt Nam xuất sang EU chủ yếu là giày thể thao,
chiếm trên 40% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trường này, giày
vải gần 20%, giày nữ xấp xỉ 15%, dép khoảng 17% và giày da hơn 1,5%.
Thị trường xuất khẩu giày dép lớn nhất của Việt Nam trong Liên Minh làĐức
(25,3%), tiếp đến là Anh (21,0%), Pháp (14,3%), Bỉ (12,3%), Itali (8,1%), Hà Lan
(7,9%), Tây Ban Nha (4,6%), ThuỵĐiển (2,2%), Đan Mạch (1,3%), Hy Lạp (0,8%),
Áo (0,8%), Phần Lan (0,8%), Ai Len (0,6%), BồĐào Nha (0,2%), và Lúc Xăm Bua
(0,1%).
Hàng nông sản
Hàng nông sản là nhóm hàng có nhiều lợi thế và nhu cầu về mặt hàng này trên
thị trường EU có chiều hướng mở rộng. Hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu sang EU là
cà phê, cao su, gạo, chè, gia vị và một số rau quả. Theo qui định của EU, những sản
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
20
phẩm này thuộc nhóm hàng bán nhạy cảm nên được hưởng mức thuế = 35% mức thuế
thông thường MFN. Mặt khác, các mặt hàng cao su, cà phê, chè của ta phần nào được
tập trung thành các khu sản xuất và chế biến lớn, mang tính công nghiệp. Do đó, việc
xuất khẩu hàng nông sản sang thị trường EU kháổn định và có tốc độ tăng trưởng cao,
đạt 393 triệu EURO (tương đương 400 triệu USD) vào năm 2002. Đặc biệt, cà phê là
mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam vào thị trường này, chiếm khoảng 44,9%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản vào EU. Rau quả Việt Nam mới thâm
nhập vào thị trường EU vài năm gần đây, nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng tương đối
nhanh. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường này chiếm khoảng 18%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả Việt Nam. Các thị
trường xuất khẩu nông sản chính của ta trong khối EU là Hà Lan, Thụy Điển, Pháp,
Anh và Bỉ.
Hàng thuỷ hải sản
Hàng thuỷ sản là một trong những mặt hàng đem lại nhiều hiệu quả kinh tế
trong thời gian vừa qua. EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của thuỷ sản Việt
Nam. Mỗi năm Việt Nam xuất sang thị trường này hàng ngàn tấn thuỷ sản, chủ yếu là
tôm đông lạnh, cáđông lạnh, cá hộp, mực, thịt tôm hỗn hợp và các sản phẩm thuỷ sản
khác. Nhờ sự nỗ lực của ngành trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà sức cạnh
tranh của sản phẩm được nâng lên và thâm nhập vào thị trường EU với số lượng ngày
càng tăng. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ hải sản sang EU năm 1999 đạt 89,1 triệu USD
và năm 2001 đạt 90,7 triệu USD, chiếm 5% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam. Ngày 18/11/1999, EU đã chính thức công nhận Trung tâm kiểm tra chất
khi có thay đổi về thời tiết và không chịu được khí hậu lạnh, thậm chí phát sinh mốc,
mọt ngay trên đường vận chuyển. Sản xuất phân tán cũng đã góp phần làm cho khâu
hoàn thiện sản phẩm không đồng đều, lô tốt lô xấu lẫn lộn. Nếu có những giải pháp
thích hợp để phát triển sản xuất , đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng và cải
tiến mẫu mã thì EU thực sự là thị trường tiềm năng cho loại hàng xuất khẩu này.
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
22
Hiện nay, người tiêu dùng EU rất thích sử dụng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
của Việt Nam. Thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ lớn nhất của Việt Nam
trong khối EU làĐức (26,4%), tiếp đến là Pháp (14,7%), Hà Lan (11,6%), Anh
(11,0%), Bỉ (10,7%), Itali (7,4%), Tây Ban Nha (6,3%), Thụy Điển (5,0%), Đan Mạch
(4,1%), Phần Lan (0,8%), Áo (0,8%), Hy Lạp (0,5%) và BồĐào Nha (0,4%).
2.2.4. Đánh giá tổng quát thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang EU
Nhìn vào thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường
EU những năm gần đây, ta nhận thấy có một số thành công và trở ngại sau đây:
Ưu điểm:
- Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - EU tăng với tốc độ bình quân khá cao
37,2%/năm. Việt Nam đã phát huy được lợi thế so sánh của mình trong việc tập trung
xuất khẩu một số mặt hàng có thế mạnh vào thị trường các nước EU. Việt Nam đã
vàđang đặt trọng tâm tiêu thụ hàng công nghiệp và nông sản nhiệt đới chế biến, hàng
may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ,v.v…vào thị trường rộng lớn này. Đồng thời, Việt
Nam đã từng bước đầu tư nhằm tăng nhanh chất lượng sản phẩm để tạo ra những sản
phẩm hàng hoá có khả năng cạnh tranh trên thị trường EU.
- Việc khai thông thị trường EU đãđòi hỏi chúng ta phải phát triển cơ sở vật
chất và năng lực của một số ngành trong nông nghiệp, trong các lĩnh vực như: chế
biến điều, rau quả, cao su, cà phê, thực phẩm, v.v…
- Đồng thời, sự phát triển về xuất khẩu đối với một số mặt hàng nông nghiệp
như cà phê, điều, chè; hàng công nghệ phẩm như may mặc, giày dép đã tạo cho sự
- Luật pháp, chính sách quản lý kinh tế - thương mại của Việt Nam chưa hoàn
chỉnh, không đồng đều, gây nhiều khó khăn cho chúng ta khi thực hiện các cam kết
với các tổ chức kinh tế quốc tế. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
còn yếu cả về sản xuất và quản lý. Các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm
thương trường, thậm chí còn bỡ ngỡ với thị trường Châu Âu, không biết nắm bắt
cơhội, chưa hiểu hết luật lệ của thị trường EU, chưa nhanh nhẹn trong tiếp cận
thịtrường để hiểu biết truyền thống và tập quán kinh doanh ở thị trường Châu Âu. Do
Luận văn tốt nghiệp
Đặng Bích Diệp
24
đó chúng ta chưa có khả năng cung ứng những lô hàng lớn, những đơn đạt hàng đáng
kể.
- Khả năng tiếp thị và trình độ marketing của các doanh nghiệp Việt Nam
cũng còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn khi thực hiện dựán hợp tác với các doanh nghiệp
bạn thì phía Việt Nam không muốn tham gia tích cực vào việc bán hàng và làm nhiệm
vụ marketing. Như vậy sẽ mất dần tính chủđộng trên thị trường và không nắm được
nhu cầu thị hiếu của khách hàng, từđó sẽ giảm vị trí, vai trò của mình trong việc gia
các quyết định hợp tác phát triển sản xuất, làm giảm hiệu quả trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh quốc tế.
Đối với EU
- Bên cạnh những ưu đãi mà EU giành cho Việt Nam thì hàng hoá xuất khẩu
của Việt Nam cũng gặp phải những quy định về quản lý xuất khẩu ngặt ngèo của EU.
Chẳng hạn, EU áp dụng khá nhiều biện pháp để hạn chế nhập khẩu như thuế chống
phá giá, thuế trợ cấp, hàng rào kĩ thuật, tiêu chuẩn về sinh thực phẩm…
- Ngoài ra EU cũng áp dụng một số tiêu chuẩn không phù hợp với điều kiện,
thực lực hiện có của Việt Nam nên cũng gây ra những rào cản nhất định đối với một
số mặt hàng của Việt Nam. Ví như hàng thuỷ sản của Việt Nam cũng gặp những khó
khăn từđặc điểm của thị trường này, như lượng hàng cung cấp phải ổn định quanh
năm, trong thanh toán quốc tế phải mở LC trả chậm 6 tháng hoặc 1 năm; chi phí vận
thức là sản phẩm của các ngành sản xuất có hàm lượng tri thức và công nghệ cao. Sự
xuất hiện và phát triển của nền kinh tế tri thức sẽ làm thay đổi nhanh cơ cấu hàng xuất
khẩu của các nước.
2.3.2. Sự phát triển của Diễn đàn Hợp tác Á - Âu ( ASEM )
Diễn đàn hợp tác Á - Âu ( ASEM ) là cơ chếđối thoại và hợp tác cấp cao giữa
Châu Âu và Châu Á, với sự tham dự của những người đứng đầu các Nhà nước và
Chính phủ của 10 nước Châu Á và 15 nước Châu Âu. Diễn đàn Hợp tác Á - Âu lần