MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1
RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY
VỐN ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ........................................... 3
1.1. Thẩm định dự án vay vốn tại các NHTM ......................................... 3
1.1.1. Chức năng của NHTM ...................................................................... 3
1.1.2.Vai trò của NHTM ............................................................................. 6
1.1.3. Thẩm định dự án cho vay vốn của NHTM ....................................... 8
1.2. Công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định cho vay vốn tại NHTM
..................................................................................................................... 12
1.2.1. Các loại rủi ro xảy ra trong hoạt động thẩm định dự án ................ 12
1.2.2. Công tác đánh giá rủi ro ................................................................. 14
1.2.2.1. Nội dung của công tác đánh giá rủi ro .................................. 14
1.2.2.2. Quy trình của công tác đánh giá rủi ro ................................ 15
1.2.2.3. Các phương pháp đánh giá rủi ro ......................................... 16
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG THẨM
ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN TẠI CHI NHÁNH NHCT
THANH XUÂN .............................................................................................. 24
2.1. Giới thiệu về chi nhánh NHCT Thanh Xuân ................................... 24
2.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Chi nhánh
NHCT Thanh Xuân ................................................................................... 24
2.1.2. Sơ đồ cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong Chi
nhánh .......................................................................................................... 26
2.1.2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức ............................................................. 26
2.1.2.2. Chức năng của các phòng ban .............................................. 28
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
2.1.2.3. Nhiệm vụ của các phòng ban ................................................ 30
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh ............................... 34
2.1.3.1. Tình hình huy động vốn ......................................................... 35
3.2.3. Giải pháp về phương pháp đánh giá rủi ro ..................................... 66
3.3. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đánh giá rủi ro
trong thẩm đinh dự án vay vốn tại Chi nhánh ....................................... 66
3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước và các bộ ngành liên quan ...................... 66
3.3.2. Kiến nghị với NHNN ...................................................................... 68
3.3.3. Kiến nghị với NHCT Việt Nam ...................................................... 69
3.3.4. Kiến nghị với Chi nhánh NHCT Thanh Xuân ............................... 71
3.3.5. Kiến nghị với khách hàng vay vốn ................................................. 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 75
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
Danh mục từ viết tắt
ĐTPT: Đầu tư phát triển
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
KTTT: Kinh tế thị trường
NHCT: Ngân hàng công thương
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh
tế Việt Nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh
tế thị trường theo định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước. Đây là
một bước ngoặt có tính chất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của
nước ta. Trong bối cảnh đổi mới chung của đất nước, NHTM với vai trò trung
gian tài chính quan trọng của xã hội đã từng bước cải tổ hoạt động của mình,
hoà nhập với cơ chế mới. Hiện tại, với Việt Nam, ngành Ngân hàng được coi
là ngành kinh tế huyết mạch, có tầm quan trọng đặc biệt góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế đất nước. Có thể nói NHTM là hệ thần kinh, là trái tim của
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất
lượng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn tại Chi
nhánh NHCT Thanh Xuân thời gian tới
Do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm và thời gian tìm hiểu thực tế
còn hạn chế, vì vậy bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo,
các anh chị và các cô, chú cán bộ tại Chi nhánh để bài viết của em thêm hoàn
thiện.
Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn chân thành đến TS.Trần Mai Hương,
các thầy cô trong khoa Đầu Tư trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân cùng Ban
lãnh đạo, các anh chị, cô chú phòng Khách Hàng Doanh Nghiệp và các bộ
phận phòng ban có liên quan của Chi nhánh NHCT Thanh Xuân đã tận tình
giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
CHƯƠNG 1
RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
VAY VỐN ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Thẩm định dự án vay vốn tại các NHTM
1.1.1. Chức năng của NHTM
Các luồng vốn và chứng khoán trong một thế giới không có Ngân hàng
CP & TP
Vốn
Các luồng vốn luân chuyển trong một thế giới mà hệ thống Ngân hàng
tồn tại và phát triển
Vốn CP & TP
Chứng chỉ tiền gửi Vốn
Qua 2 sơ đồ trên ta thấy được sự ra đời, tồn tại và phát triển của các
tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc…". Sở dĩ có tình
trạng này là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp
vụ Ngân hàng lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi
chung của nền kinh tế. Mặt khác, do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia,
mỗi vùng khác nhau đã dẫn đến những quan niệm về NHTM không đồng nhất
giữa các nước trên thế giới. Có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về
NHTM theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước
Việt Nam xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết
khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Như vậy, tựu chung lại ta có thể hiểu NHTM là một doanh nghiệp kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn
để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.
Và tầm quan trọng của các NHTM có thể được minh họa một cách chi
tiết thông qua các chức năng cơ bản của nó.
Nói tổng quát thì NHTM có 2 chức năng cơ bản là:
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
- Chức năng luân chuyển tài sản: bao gồm huy động vốn bằng cách
phát hành các chứng chỉ tiền gửi và đầu tư bằng cách cấp tín dụng, mua cổ
phiếu, trái phiếu
- Chức năng cung cấp các dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn
Ngày này, chức năng của NHTM được thể hiện cụ thể và cơ bản hơn.
Các chức năng đó là:
- Chức năng tạo tiền: Tạo tiền và huỷ tiền là hai chức năng cực kỳ quan
trọng của các NHTM. Xuất phát từ khả năng thay thế lượng tiền giấy bạc
trong lưu thông bằng những phương tiện thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm
chi... Chức năng này được thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng và đầu tư
tài khoản, Mở rộng tín dụng, Tạo điều kiện để tài trợ ngoại thương, Dịch vụ
ủy thác, Bảo quản an toàn vật có giá (Đây là một trong những dịch vụ lâu đời
nhất được các NHTM thực hiện. Đó là việc ngân hàng lưu giữ vàng và các vật có
giá khác cho khách hàng trong kho bao quản và khách hàng phải trả phí bảo quản).
Dịch vụ kinh kỷ (Thực chất của chức năng này là việc mua và bán các
chứng khoán cho khách hàng).
1.1.2.Vai trò của NHTM
NHTM thể hiện được vai trò của mình thông qua các hoạt động cơ bản
sau đây:
Huy động và sử dụng vốn.
Trung gian thanh toán.
Cung cấp các dịch vụ khác.
Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế phát triển, đang phát triển, thậm
chí chưa phát triển thì hoạt động Ngân hàng cũng có tác dụng vô cùng to lớn
đến sự phát triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của
NHTM được thể hiện trên một số mặt như sau:
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
- NHTM là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng tiền vốn cho quá
trình sản xuất kinh doanh: Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá
nhân, tổ chức kinh tế muốn sản xuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư
mua sắm tư liệu sản xuất, phương tiện để sản xuất kinh doanh…mà nhu cầu
về vốn của doanh nghiệp, cá nhân... luôn luôn lớn hơn vốn tự có do đó cần
phải tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài. Mặt khác lại có một lượng vốn
nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức
khác... NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
đó và sử dụng nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua
hoạt động tín dụng. NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho
nền kinh tế. Nhờ có hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng
Và để khẳng định một cách chắc chắn hơn mức độ hợp lý, hiệu quả,
tính khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện dự án, cần phải
xem xét, kiểm tra lại dự án một cách độc lập với quá trình chuẩn bị, sọan thảo
dự án. Hay nói cách khác cần thẩm định dự án. Từ đây ta có cái nhìn tổng
quát về thẩm định dự án: Đó là sự rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học,
khách quan, toàn diện mọi nội dụng của dự án và liên quan đến dự án, nhằm
khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi quyết định
đầu tư. Trong quá trình thẩm định dự án, nhiều khi phải tính toán, phân tích
lại dự án. Riêng đối với NHTM thì với tư cách là “Bà đỡ “về mặt tài chính
cho các dự án sản xuất đầu tư thường xuyên thực hiện công tác đầu tư. Việc
thẩm định này ngoài mục tiêu đánh giá hiệu quả của dự án còn nhằm xác định
rõ hành lang an toàn cho các nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng cho các dự án.
Vì vậy hiểu về sự cần thiết phải thẩm định dự án cho vay vốn là một việc
không thể thiếu được
Dưới góc độ là bên cho vay vốn, các NHTM khi nhận được bản luận
chứng kinh tế kỹ thuật sẽ tiến hành thẩm định theo các chỉ tiêu và ra quyết
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
định là có cho vay hay không cho vay. Sau đó mới đi đến “đàm phán và ký
kết hợp đồng”. Như vậy có thể hiểu thẩm định DAĐT trong NHTM là thẩm
định trước đầu tư và nó được đánh giá là công tác quan trọng nhất.
Với NHTM thì nội dung thẩm định gồm thẩm định khách hàng và thẩm
định dự án. Nội dung thẩm định dự án thì gồm 3 phần là: Thẩm định kỹ thuật;
Thẩm định kinh tế của dự án; Thẩm định tài chính của dự án. Trong đó thẩm
định tài chính của dự án là nội dung lớn nhất và quan trọng nhất.
Khi tiến hành thẩm định tài chính của dự án cần thực hiện các công
việc: Xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ cũng như phương
thức tài trợ dự án; Xác định chi phí và lợi ích của dự án và từ đó xác định
dòng tiền; Dự tính lãi suất chiết khấu của dự án; Xác định các tiêu chuẩn đánh
- Xử lý - phân tích - đánh giá thông tin
- Lập tờ trình thẩm định dự án
Nội dung thẩm định dự án vay vốn
Người ta thường vận dụng những nội dung kỹ thuật và những nội dung
kinh tế tổng quát sau để thẩm định dự án:
Nội dung kỹ thuật
- Kiểm tra về chủ đầu tư
- Xem xét về dự án
Nội dung kinh tế tổng quát
• Về mặt xuất khẩu:
- Khả năng xuất khẩu với nguyên vật liệu trong nước.
- Khả năng xuất khẩu với nguyên liệu nhập khẩu.
- Khả năng xuất khẩu tại chỗ.
- Khả năng so sánh về các tiêu chuẩn quốc tế với hàng nước ngoài.
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
• Thay thế hàng nhập khẩu:
• Các lĩnh vực khác:
- Mức độ phù hợp với đường lối chính sách phát triển kinh tế của
quốc gia.
- Mức độ phù hợp với cơ hội đầu tư.
- Khả năng thu hút nhân lực.
- Khả năng tận dụng nguyên, vật liệu trong nước.
- Khả năng đóng góp cho ngân sách.
- Khả năng phát triển dây chuyền.
- Khả năng phát triển địa phương...
Nhìn nhận dưới góc độ khác thì ta thấy được nội dung của thẩm định
dự án vay vốn gồm :
- Thẩm định điều kiện pháp lý của dự án và sự cần thiết phải đầu tư:
1.2.1. Các loại rủi ro xảy ra trong hoạt động thẩm định dự án
Các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro
nhưng đều thống nhất ở một nội dung là coi rủi ro là sự bất trắc không mong
đợi, gây ra mất mát thiệt hại và có thể đo lường được. Rủi ro gắn với khả
năng xảy ra một biến cố không lường trước, biến cố đó ta hoàn toàn không
biết chắc. Hay hiểu theo cách khác thì rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và
thực tế. Rủi ro có thể gặp bất cứ lúc nào ngoài ý thức của con người. Chúng ta
không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro ra khỏi môi trường kinh doanh mà chỉ có
thể nghiên cứu nó, nhận biết nó và hạn chế nó tới mức thấp nhất có thể.
Nghiên cứu bản chất của rủi ro trong kinh doanh cho chúng ta thấy
rằng, trong hoạt động kinh doanh luôn chứa đựng những rủi ro và những rủi
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
ro này có thể tác động trực tiếp đến kết quả doanh lợi và là nguy cơ dẫn đến
sự phá sản của các doanh nghiệp bất cứ lúc nào
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và trong hoạt
động thẩm định dự án vay vốn nói riêng có rất nhiều rủi ro. Tương ứng với nó
cũng có nhiều cách để phân loại rủi ro. Có thể kể ra đây một số cách phân loại
- Phân loại rủi ro theo các giai đoạn ra quyết định:
+ Rủi ro trước khi ra quyết định: thường gắn với rủi ro thông tin, khi
thu thập thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác
+ Rủi ro khi ra quyết định: Rủi ro này còn được gọi là rủi ro cơ hội, là
rủi ro khi lựa chọn các phương án cho vay không tối ưu
+Rủi ro sau khi ra quyết định: Là rủi ro do có sự sai lệch giữa dự kiến
và thực tế
- Phân loại rủi ro theo tính chất tác động: Gồm
+ Rủi ro theo suy tính: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp nhà đầu tư chủ
động lựa chọn phương án đầu tư cho dù biết rằng có lợi hoặc bị thiệt hại
+ Rủi ro thuần túy: Là rủi ro xảy ra không theo ý muốn chủ quan của
- Rủi ro về môi trường xã hội: Bản chất của rủi ro này là dự án có thể
gây tác động tiêu cực đối với môi trường và dân cư xung quanh. Có thể là khi
dự án được thực hiện gây ô nhiễm môi trường sống, làm ảnh hưởng tới cuộc
sống của người dân quanh nơi dự án được xây dựng
- Rủi ro kinh tế vĩ mô: Rủi ro này được phát sinh từ môi trường kinh tế
vĩ mô. Nó xuất hiện bởi sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất,
trượt giá, …
Ngoài ra còn có các rủi ro khác như rủi ro thanh khoản, rủi ro loại tiền,
…
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
Mỗi loại rủi ro trên đều có các biện pháp để giảm thiểu nhằm hạn chế
tối đa những thiệt hại do chúng gây ra.
1.2.2.2. Quy trình của công tác đánh giá rủi ro
Cũng giống như công tác thẩm định dự án, công tác đánh giá rủi ro
trong thẩm định dự án vay vốn cũng có quy trình để thực hiện. Quy trình này
được bắt đầu từ sự nhận diện rủi ro, tiếp đó là đo lường, phân tích tính chất
phức tạp của rủi ro, và sau đó là sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp để khắc
phục rủi ro. Ta có thể hình dung qua sơ đồ sau:
Nhận diện rủi ro → Phân tích rủi ro → Chọn phương pháp khắc phục
Nhận diện rủi ro
Trong bước này cần xác định những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án.
Thông thường các rủi ro này cũng tương tự như rủi ro trong hoạt động đầu tư .
Tuy nhiên thường tập trung vào những loại rủi ro:
- Rủi ro tính chất hệ thống (rủi ro theo chiều ngang) và rủi ro không có
tính hệ thống (rủi ro theo chiều dọc)
- Rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính và rủi ro có tính chất chiến lược
+ Rủi ro có tính chất chiến lược: là rủi ro gắn liền với môi trường vĩ mô
về kinh tế chính trị
mạnh hoặc tác động yếu đến kết quả, hiệu quả đầu tư và đề ra các biện pháp
quản lý rủi ro. Để thực hiện phân tích rủi ro, có thể sử dụng các phương pháp
sau:
♦ Phương pháp điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu:
Đây là phương pháp cơ bản nhất và được sử dụng rộng rãi trong thực
tiễn. Nguyên tắc của phương pháp này là điều chỉnh mức tỷ lệ chiết khấu cơ
sở được xem là không có rủi ro, hoặc có thể chấp nhận ở mức rủi ro tối thiểu.
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
Công việc này được tiến hành bằng cách cộng thêm vào lãi suất một mức bù
cần thiết cho rủi ro ( được gọi là mức bù rủi ro). Sau đó thực hiện tính toán
các chỉ tiêu tài chính bình thường nhưng theo mức lãi suất mới, lãi suất đã
được điều chỉnh. Và qua phương pháp nầy ta thấy được là nếu rủi ro càng lớn
thì mức bù rủi ro càng phải cao. Cụ thể như:
Cho tỷ lệ chiết khấu không rủi ro là r = 8%.
R là tỷ lệ chiết khấu điều chỉnh theo rủi ro; theo lý thuyết được trình
bày ở trên thì R = r + mức bù rủi ro
Mức bù rủi ro Áp dụng khi R
3% Mở rộng dự án hoạt động đang có hiệu quả 11%
6%
Thực hiện dự án mới gắn với hoạt động chính của
đơn vị
14%
9% Dự án sản xuất sản phẩm mới, tiếp cận thị trường mới 17%
- Ưu điểm: Đây là phương pháp dễ tính toán, dễ hiểu và dễ thực hiện
- Nhược điểm:
+ Sử dụng phương pháp này, chỉ cần tăng lãi suất để quy đổi mà không
xét đến các rủi ro thực tế
+ Coi rủi ro tăng theo thời gian với một tỷ lệ không đổi
* Giá cả
* Số lượng
+ Hai tham số trên thay đổi đồng thời hoặc không đồng thời; có nghĩa
là hai biến số cùng thay đổi hoặc chỉ có 1 trong 2 biến số thay đổi.
– Sự thay đổi về khả năng sinh lời
+ Được đo lường bởi sự thay đổi giá trị của các chỉ tiêu NPV, IRR hoặc
các chỉ tiêu sinh lời khác.
+ Biên độ dao động của các chỉ tiêu trên được phân tích tương ứng với
sự biến thiên giá trị đầu vào và đầu ra ở 3 trạng thái:
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
* Trạng thái bình thường: như đã dự tính ban đầu;
* Trạng thái bi quan: Tăng ở đầu vào hoặc giảm ở đầu vào;
* Trạng thái lạc quan: Giảm ở đầu vào hoặc tăng ở đầu ra;
+ Trong phân tích rủi ro, trạng thái bi quan cần được quan tâm.
– Nguyên tắc phân tích:
+ Bản chất của phân tích độ nhạy là nhằm xác định bổ sung các chỉ tiêu
đánh giá khả năng sinh lời của dự án đầu tư phụ thuộc vào sự biến đổi của
một hoặc một số các thành phần thuộc đầu vào và đầu ra trong điều kiện bất
định xảy ra ở tương lai.
+ Kỹ thuật phân tích các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời (NPV,IRR
và các chỉ tiêu khác) là tương tự như các phương pháp đã trình bày ở các nội
dung trên; nhưng với sự thay đổi về giá trị của chi phí hàng năm hoặc lợi ích
hàng năm.
Ưu điểm:
- Phân tích độ nhạy là công cụ đơn giản, thích hợp cho việc kiểm tra độ
nhạy của dự án đối với các thay đổi của biến này hay biến khác
- Phân tích độ nhạy là một quy trình rất hữu ích để nhận diện các biến
số mà những thay đổi của chúng có thể gây tác động lớn đến NPV của một dự
những yếu tố như vậy lại được cố định bởi những hợp đồng cung cấp thì dự
án vẫn có thể khá an toàn.
Tóm lại, đối với phương pháp này, các nhà nghiên cứu lý thuyết và
thực hành nhận thấy rằng nó là một công cụ hữu ích, nó đem lại cho người
phân tích ý tưởng về một số điều không chắc chắn và hiệu quả của việc phân
tích này sẽ cao khi được bổ trợ những hình thức phân tích thích hợp khác tùy
vào điều kiện thực tế của từng dự án.
♦ Phương pháp hệ số tin cậy
SV: Đoàn Thị Thanh Huyền Lớp: Đầu tư 47C
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Mai Hương
Khác với phương pháp điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu được trình bày ở
trên, trong phương pháp này, thay vì thay đổi hệ số chiết khấu thì ta sẽ thay
đổi dòng tiền các năm bằng cách căn cứ vào mức độ rủi ro của các năm, xác
định giá trị a
i
( với a
i
là hệ số tin cậy của năm i) và nhân dòng tiền bắt đầu của
dự án với hệ số a
i
.
Điều kiện là 0 < a
i
< 1. Mức độ rủi ro càng lớn thì a
i
càng nhỏ. Trên cơ
sở dòng tiền mới, ta sẽ xác định các tiêu thức hiệu quả. Nếu dự án vẫn có hiệu
quả thì nó sẽ được chấp nhận, trong trường hợp ngược lại thì phải khước từ
dự án