MỞ ĐẦU
Theo thống kê của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1997, trên thế
giới có khoảng 73 triệu trẻ em lao động làm thuê. Trong đó một nửa số lao
động này tập trung tại các nước châu Á. Tham gia hoạt động làm thuê rất dễ
dẫn đến việc sức lao động của trẻ em bị lạm dụng. Vì vậy, vấn đề lao động trẻ
em cần được quan tâm hơn nữa nhằm tránh những tổn hại đến sự phát triển
toàn diện của trẻ em. Tháng 5 - 2002, tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng
Liên hợp quốc về trẻ em đã đưa ra một cam kết: “ Xoá nghèo, đầu tư vào trẻ
em: chúng ta khẳng định quyết tâm phá vỡ vòng luẩn quẩn của nghèo đói
trong một thế hệ cùng liên kết khẳng định rằng đầu tư vào trẻ em và thực hiện
quyền trẻ em là những cách hữu hiệu nhất để xoá nghèo” (Báo cáo phát triển
Việt Nam 2004: tr.34). Từ tuyên bố này chúng ta có thể thấy vai trò quan
trọng của việc quan tâm tới sự phát triển toàn diện của trẻ em. Tương lai của
trẻ em cũng chính là tương lai của đất nước. Đó là lý do vì sao vấn đề lao
động trẻ em hiện nay đang là vấn đề được bàn luận trong nhiều diễn đàn quốc
gia, khu vực, và quốc tế.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có hai phần ba dân số sống ở nông
thôn trong điều kiện khoa học kỹ thuật kém phát triển nên mọi hoạt động
nông nghiệp thường phải sử dụng bằng sức người; luôn đòi hỏi nguồn lao
động cao. Vì vậy, trẻ em cũng là một nguồn lao động chính trong gia đình,
“80% - 90% trẻ em vị thành niên nông thôn đã từng tham gia lao động sản
xuất”
(1)
.
Với những đặc thù kinh tế - xã hội của Việt Nam, trẻ em đóng góp một
phần không nhỏ vào nguồn lao động của gia đình dưới sự giám sát của cha
mẹ. Nhưng trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, việc đấu
tranh chống lại sự khắc nghiệt của nghèo đói càng làm tăng thêm nguồn lao
1
động trẻ em. Với diện tích đất nông nghiệp có hạn trong khi dân số và mức
chi cho các nhu cầu tối thiểu của người dân ngày càng lớn khiến người nông
2003- 2005. Bên cạnh đó, người thân trong gia đình, bạn bè (bạn học ở
2
trường, bạn chơi ngoài trường), hàng xóm và cả gia đình người chủ thuê lao
động cũng là những đối tượng cung cấp thông tin chính.
Địa điểm nghiên cứu tại hai làng (làng Hạ và làng Vân)
(5)
thuộc xã
Quảng Châu, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá dựa trên hai lý do chính.
Thứ nhất là từ mối quan hệ cá nhân người nghiên cứu với một số người dân
tại đây. Thứ hai là có sự quen biết với một người đang sinh sống ở xã Quảng
Châu và hiện làm môi giới lao động cho một trung tâm giới thiệu việc làm ở
Hà Nội. Những đối tượng nghiên cứu trong khoá luận này đã tham gia lao
động giúp việc thông qua sự giới thiệu của người này.
Khoá luận được kết cấu với 04 chương chính sau:
Chương 1: “Tổng quan tình hình nghiên cứu lao động trẻ em ở Việt
Nam và thực tế lao động trẻ em tại xã Quảng Châu” đưa ra một cái nhìn tổng
quan về vấn đề lao động trẻ em ở nước ta, lao động trẻ em giúp việc gia đình
và cụ thể tình hình lao động trẻ em giúp việc của Quảng Châu.
Chương 2: “ Nghiên cứu lao động trẻ em - Từ góc độ phương pháp” tập
trung làm rõ các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khoá luận này.
Chương3: “Tác động của lao động trẻ em - Cảm nhận của TRẺ” tìm
hiểu những ảnh hưởng của việc tham gia lao động giúp việc tới những trải
nghiệm cá nhân được thể hiện qua những quan niệm về cuộc sống của trẻ.
Chương 4: “Lao động trẻ em - qua lăng kính gia đình - xã hội” cho thấy
quan niệm, thái độ của người dân địa phương về vấn đề lao động trẻ em giúp
việc gia đình.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LAO ĐỘNG TRẺ EM Ở
VIỆT NAM VÀ THỰC TẾ LAO ĐỘNG TRẺ EM TẠI QUẢNG CHÂU
Theo bộ Luật Lao động Việt Nam - 1995, lao động trẻ em là người lao
động chưa đủ 16 tuổi. Tuổi tối thiểu để trẻ em được phép học nghề là 13 tuổi.
Tuy nhiên, trẻ em dưới 13 tuổi cũng được phép học nghề trong một số trường
dạy nghề do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định.
- Công ước tuổi tối thiểu của ILO năm 1973 (số138) : hạ tuổi tối thiểu
chung là 14 và hạ tuổi vào làm công việc nhẹ là 12. Cho phép làm việc từ tuổi
16 trong công việc độc hại nếu có những bảo vệ thích hợp (Điều 7: …cho
phép sử dụng lao động của người từ 13- 15 tuổi trong những công việc nhẹ
nhàng mà không có hại cho sức khoẻ hoặc sự phát triển, học tập…)
- Lao động trẻ em giúp việc gia đình là loại lao động thuê mướn có tính
chất thoả thuận giữa người chủ nhà (người sử dụng lao động) và trẻ em
(người dưới 18 tuổi hoặc dưới 16 tuổi)
(9)
.
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm trẻ em (người lao động
chưa đủ tuổi 16) theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam (1995). Cũng
như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (trẻ em là những người dưới 16
tuổi) đã cho thấy đây là giai đoạn quan trọng đầu tiên hình thành và phát triển
nhân cách, trí tuệ của trẻ. Vì vậy, giai đoạn này trẻ em cần được chăm sóc và
bảo vệ đặc biệt. Lao động là một trong những yếu tố cơ bản để trẻ em có thể
phát triển toàn diện và lành mạnh nhưng nếu lao động không đúng cách hoặc
quá sức sẽ dẫn đến sự phát triển lệch lạc về cả thể chất lẫn tâm hồn trẻ em.
1.2 Nghiên cứu lao động trẻ em ở Việt Nam
Ăngghen trong tác phẩm “Vai trò của lao động trong lịch sử biến hoá
từ vượn thành người” đã viết “ trong một chừng mực nhất định có thể nói lao
động sáng tạo nên chính con người”. Đối với giáo dục con người thì lao động
cũng là một biện pháp giáo dục tốt. Thông qua quá trình lao động, trẻ em có
thể dần hoàn thiện bản thân, hình thành nhân cách và góp phần phát triển toàn
diện mọi mặt của trẻ em.
5
công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Trước hết, phải kể đến chương trình nghiên cứu Trẻ em làm thuê giúp
việc gia đình do Tổ chức Cứu trợ trẻ em của Thuỵ Điển (Save the Children
Sweden) cộng tác với Khoa Tâm lý học (Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội) thực hiện năm 2000. Đối tượng nghiên
cứu tập trung vào nhóm trẻ em giúp việc gia đình tại Hà Nội, nhằm tìm hiểu
nguyên nhân, đặc điểm và ảnh hưởng của lao động tới sự phát triển cá nhân
của trẻ cũng như mô tả mối quan hệ xã hội của trẻ tại nơi làm việc. Nghiên
cứu này được tiến hành bằng sự kết hợp sử dụng các phương pháp định lượng
(dùng bảng hỏi), định tính (phỏng vấn sâu 20 trường hợp trong đó có 5 trường
hợp phỏng vấn gia chủ và 15 trường hợp trẻ em) và phân tích tư liệu. Tiếp
theo là báo cáo của nhóm tác giả về vấn đề Lao động trẻ em tại thành phố Hồ
Chí Minh do Quỹ cứu trợ nhi đồng Anh tiến hành năm 1998. Áp dụng phương
pháp điều tra bảng hỏi để thu thập thông tin về nhiều loại ngành nghề khác
nhau có trẻ em tham gia. Và một số báo cáo như, Điều đầu tiên trước hết
trong lao động trẻ em: xoá bỏ những công việc độc hại với trẻ em do Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO) phối hợp với quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
điều tra năm 1999, Một thế giới phù hợp với trẻ em được thực hiện năm 2001
dưới sự tài trợ của Quỹ bảo trợ nhi đồng Anh…
Vấn đề lao động trẻ em cũng là mối quan tâm hàng đầu của các bộ
ngành liên quan. Chúng ta có thể đưa ra một số điều tra tiêu biểu như: Vấn đề
lao động trẻ em ở Việt Nam (Bộ Lao động và Thương binh xã hôị, 1997). Đây
là tài liệu tập trung những báo cáo được trình bày tại một cuộc toạ đàm về vấn
đề lao động trẻ em ở Việt Nam. Những báo cáo này chỉ rõ nguyên nhân, hậu
quả của lao động trẻ em và đưa ra một số kiến nghị.
7
Bên cạnh đó, là một số bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí chuyên
ngành các tác giả. Đáng chú ý nhất là Nguyễn Văn Chính (1999). Trong bài
viết này, tác giả đã đề cập đến thực trạng công việc và bản chất của lao động
trẻ em. Thông qua việc phân tích các khía cạnh khác nhau của hiện tượng lao
Ngoài ra, xã còn có thể chia thành 6 làng. Ngoài sản xuất nông nghiệp là nghề
chính, địa phương còn có thêm một số nghề khác như chăn nuôi, đánh bắt
cngười ngoài ra còn cos một số nghề phụ khác như thợ xây, phụ hồ, cửu
vạn…với khoảng 400 lao động tự do. Theo số liệu của chính quyền địa
phương, thu nhập bình quân đầu người ở xã là gần 4 triệu đồng/người/năm.
Quảng Châu cũng chỉ là một trong nhiều địa phương khác có nguồn lao
động dư thừa và ngồn lao động trẻ em cung cấp cho Hà Nội. Theo nguồn số
liệu của một người làm nghề môi giới cung cấp lao động cho một trung tâm
giới thiệu việc làm ở Hà Nội thì tính trong toàn bộ xã Quảng Châu và một vài
xã lân cận (nhưng chủ yếu ở địa bàn xã Quảng Châu) trong khoảng thời gian
1 năm ( 16/3/2004 – 10/4/2005 ) số người mà chị đã giới thiệu tới trung tâm
giới thiệu việc làm là 180 người. Trong số đó có 12 người là nam giới còn lại
là nữ giới. Đặc biệt, có 64 người trong số đó là trẻ em gái có độ tuổi 13 - 16
tuổi. Tất cả các em đều làm công việc giúp việc gia đình ở Hà Nội. Có 13 trẻ
trong số 64 trẻ gái đó còn đang đi học tại thời điểm diễn ra hoạt động lao
động giúp việc theo thời vụ.
Với một số người dân địa phương thì lao động theo thời vụ là việc làm
quen thuộc trong những ngày nông nhàn. Đó là thời điểm và công việc thích
hợp để kiếm thêm tiền trong khi không có việc làm. Như vậy, lao động theo
thời vụ là giải pháp hữu hiệu để giải quyết hai khía cạnh cơ bản của cuộc
sống: việc làm và kinh tế.
Lao động giúp việc gia đình là công việc của những người phụ nữ địa
phương trong khi chờ mùa vụ. Họ chỉ đi là trong dịp nông nhàn vì khi tới mùa
9
vụ thì sẽ trở về. Như vậy, trên thực tế thì phần lớn người lao động tham gia
công việc này của địa phương lao động mang tính chất thời vụ vì với họ nông
nghiệp mới là công việc chính. Đặc biệt là đối với trẻ em gái đang còn đi học.
Chỉ một số ít trong họ là coi đây là công việc thường xuyên quanh năm.
Giúp việc gia đình đòi hỏi sự khéo léo, đức tính cẩn thận, thật thà và có
thể cả một chút sự chịu đựng. Giúp việc gia đình đặc biệt phù hợp với lứa tuổi
lại bắt đầu bước vào những ngày làm việc mới. Do thời điểm làm việc khá
đặc biệt nên sau 10 ngày giúp việc gia đình ngày tết các em sẽ có một khoản
tiền lương bằng một tháng lương đi giúp việc vào dịp nghỉ hè.
Như đã nêu trên, đối với hầu hết người tham gia lao động thì công việc
này chỉ mang tính tạm thời bởi với họ khi không còn khó khăn nữa thì đó
cũng là lúc họ không làm nghề này nữa. Đặc biệt là đối với trẻ em gái. Một
mặt, nếu các em đã bỏ học thì các em cũng chỉ làm công việc này một thời
gian để kiếm ít vốn làm ăn rồi lấy chồng vì ở nông thôn họ thường lấy chồng
từ rất sớm (nếu con gái khoảng 22, 23 tuổi mà chưa lấy chồng thì đã bị coi là
ế). Mặt khác, đối với những em lao động thời vụ để kiếm tiền trang trải việc
học thì các em chắc chắn cũng không theo đuổi công việc này lâu dài.
Nhiều trẻ em gái ở nông thôn mong muốn được học tập cao hơn đang
đứng trước nguy cơ phải bỏ học vì không có tiền để chi phí cho học tập (học
càng lên cao thì chi phí cho học tập cũng ngày càng tăng). Trong khi đó, mỗi
gia đình ở nông thôn thường có 3, 4 con. Để có thể cho các con đi học quả là
một việc quá sức đối với nhiều gia đình cho dù đã có Luật phổ cập giáo dục
Việt Nam miễn học phí đối với học sinh cấp tiểu học. Do đó, những trẻ em
gái mong muốn có tiền chi trả cho học tập cần phải tự mình kiếm tiền và giúp
đỡ cho bố mẹ. Giúp việc gia đình theo thời vụ là một lựa chọn thích hợp nhất!
11
Tranh thủ những dịp nghỉ hè và nghỉ tết, trẻ em gái thông qua mạng
lưới di cư mà tới những thành phố lớn để giúp việc gia đình. “Mạng lưới xã
hội hình thành từ qúa trình di cư cũng như phục vụ cho mục đích di cư được
gọi là mạng lưới di cư” (Đặng Nguyên Anh, 1998: tr. 16). Đặc trưng cơ bản
của mạng lưới di cư là liên kết những người di chuyển thông qua các quan hệ
cùng quê, họ hàng. thông qua mạng lưới di cư, di chuyển này các em có thể
tiếp nhận được những thông tin và sự trợ giúp cần thiết tại nơi các em sẽ tới
lao động kiếm tiền. Nhưng những thông tin ấy chỉ là những thông tin cơ bản,
bước đầu về công việc mà các em sẽ làm: giúp việc gia đình là làm những
công việc vặt gia đình, chăm người ốm, người già, trẻ nhỏ…Tất cả những
đuổi việc…
Những nguyên nhân ấy thường khiến một số trẻ em khi đi giúp việc gia
đình muốn thay đổi chỗ làm. Còn đối với một số trẻ em gái đi giúp việc gia
đình thời vụ thì việc thay đổi chỗ làm thường ít hơn so với những trẻ em coi
đó là một nghề kiếm sống lâu dài.
Lý do khiến các em lao động giúp việc mang tính thời vụ ít thay đổi
chỗ làm là: đối với các em đây chỉ là công việc mang tính thời vụ vì vậy
khoẩng thời gian để làm việc không nhiều (ví dụ: 10 ngày tết) nên các em
luôn có ý nghĩ rằng dù thế nào thì mình cũng chỉ làm việc ở đây một thời gian
thôi, “không nên thay đổi nhiều làm gì cho mất thời gian” (Hồng).
Công việc này cũng là môi trường thuận lợi giúp các em điều kiện tiếp
cận với nền văn hoá, văn minh đô thị. Qua đó, trẻ em gái có thể làm tăng
thêm những kinh nghiệm sống và làm việc của bản thân. Chỉ có điều liệu các
em có biết sàng lọc, lựa chọn cho mình những nét văn hoá thích hợp với điều
kiện sống của mình không?
13
Tiểu kết chương: Từ những tìm hiểu có hệ thống về tình hình nghiên
cứu vấn đề lao động trẻ nghiên cứu ở Việt Nam và thực trạng lao động trẻ em
tại xã Quảng Châu trong thời gian qua có thể cho phép tôi có cái nhìn khái
quát và khoa học về vấn đề này trước khi tiến hành nghiên cứu.
Có thể thấy rằng, ngoài công trình nghiên cứu mang tính tiên phong về
phương pháp tiếp cận vấn đề từ góc độ Nhân học của tác giả Nnguyễn Văn
Chính, phần lớn các nghiên cứu về vấn đề này đều được tiếp cận thông qua
lăng kính của các nhà Xã hội học. Điều này cho thấy vấn đề lao động trẻ em ở
Việt Nam hiện nay chưa được tiếp cận theo nhiều phương pháp, chiều hướng
khác nhau ngoài phương pháp tiếp cận Xã hội học hiện nay.
Mặt khác, thu nhập của trẻ em giúp việc gia đình không hề quá thấp so
với mức thu nhập chung của thành phố mà còn cao hơn nhiều so với mức thu
nhập ở nông thôn. Hơn nữa, điều kiện lao động của công việc này thường
nhàn hạ hơn nhiều so với nững công việc nặng nhọc ở quê nhà. Do đó, giúp
trung phân tích những tác động của việc tham gia lao động giúp việc theo thời
16
vụ dẫn đến sự định hình quan niệm sống của các em cũng như mối quan hệ xã
hội ở cộng đồng mà các em sinh sống.
Ngoài ra, tôi lựa chọn nghiên cứu ba trường hợp cụ thể này vì hai lý do
chính sau. Thứ nhất là do tôi có thể tiếp cận thuận lợi hơn với ba trường hợp
cụ thể này thông qua một số mối quan hệ (người môi giới dịch vụ lao động,
người quen tại địa phương). Thứ hai là thông qua người môi giới lao động tôi
có thể tự lựa chọn ba trường hợp cụ thể (trẻ em gái có lứa tuổi dưới 16 tuổi,
đang còn đi học tại thời điểm diễn ra hoạt động lao động thời vụ giúp việc gia
đình) . Tuy nhiên, trong quá trình lựa chọn tôi cũng kết hợp lựa chọn những
trường hợp có đặc thù riêng về hoàn cảnh gia đình. Cụ thể ở đây là ba trường
hợp: Hoa (16 tuổi, học lớp 11) - có đầy đủ bố, mẹ; Hồng (16 tuổi, học lớp 9) -
mẹ mất sớm; Lan (15 tuổi, đã nghỉ học) - bố, mẹ không hoà hợp (bố có vợ bé)
(11)
.
Lựa chọn những trường hợp cụ thể có đặc thù riêng về hoàn cảnh gia
đình, tôi muốn có cái nhìn tổng quan và khoa học về quá trình hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ. Khi xem xét về vấn đề này, chúng ta cần xem xét
nó trên nền tảng gia đình của trẻ. Bởi như chúng ta đã biết, gia đình là nền
tảng cơ bản hình thành nên tính cách và có ảnh hưởng lớn tới tâm tư tình cảm
của trẻ em. Trong đó, vai trò của cha mẹ có thể nói là đặc biệt quan trọng.
Nhất là vai trò của người mẹ. Chăm sóc con cái là vai trò cơ bản của phụ nữ ở
nông thôn. Trong một nghiên cứu của Joyce Halliday và Jo Little- được tiến
hành ở vùng nông thôn Devon và đi đến nhận định rằng “…việc chăm sóc
con cái chủ yếu (hoặc thậm chí hoàn toàn) là công việc của phụ nữ”
( Halliday & Little, 2004: tr.113 ). Mặc dù đây chỉ là nghiên cứu ở một vùng
nông thôn của nứơc Anh nhưng khi mang nó xem xét và so sánh với nông
thôn Việt Nam thì nhận xét này phần nào phù hợp. Áp dụng vào ba trường
hợp cụ thể trong nghiên cứu của tôi cho thấy vai trò quan trọng của người mẹ.
suy nghĩ của Hồng trước khi em đưa ra quyết định đi làm. Những lý do mà
Hồng đưa ra thuyết phục bản thân và mọi người không giống với các lý do
của Lan. Sự khác biệt này được quy định bởi sự khác nhau giữa hoàn cảnh
của hai gia đình.
2.3 Tạo dựng quan hệ
Mặc dù có thuận lợi căn bản là được một nhân vật trung gian vốn là
người trong làng, nhưng tôi vẫn phải đối diện với một vài trở ngại trong quá
trình tiếp cận với người dân địa phương. Điều trở ngại lớn nhất là ngay từ
đầu, họ đã coi tôi là người lạ từ Hà Nội tới. Phần lớn trong số họ chưa hiểu rõ
về Hà Nội mà chỉ biết đến qua phim ảnh, sách báo. Vì thế, họ tỏ ra dè dặt, e
ngại khi tiếp xúc với tôi. Thêm nữa, họ cũng ít nhiều bộc lộ vẻ lo lắng, hoài
nghi trước tình hình tệ nạn xã hội ngoài thành phố như: buôn người qua biên
giới, ép buộc, lôi kéo các em gái đi vào con đường nghiện hút, mại dâm…
Sau thời gian tiến hành nghiên cứu, tôi đã thu thập được một số kinh
nghiệm mà những kinh nghiệm này chỉ có thể thu được trên thực địa trong khi
tiến hành quan sát tham gia. Những kinh nghiệm này được tích luỹ dần từng
ngày cùng với sự tiến triển của quá trình nghiên cứu trên thực địa.
Không thể không nhắc đến kinh nghiệm trong ngày đầu tiên tôi tới xã
Quảng Châu. Khi tôi đi bộ lững thững vào làng tới nhà chị Hà (nhân vật trung
gian), tôi đi ngang qua một chợ cóc ven đường. Thấy tôi một người dân nói:
“Không biết con cái nhà ai mà mồm để đâu không chào ai cả ?!”. Với sự cảm
nhận của cá nhân tôi thì đây chính là khó khăn đầu tiên tôi gặp phải trong
ngày đầu nơi thực địa. Chính bài học kinh nghiệm này đã giúp tôi rất nhiều
trong việc thiết lập mối quan hệ dân làng. Ở làng có lệ gặp người lớn tuổi hơn
phải chào hỏi lễ phép không kể có quen hay không. Đấy có lẽ là một trong số
những chuẩn mực đạo đức địa phương để xác định thế nào là một người hiểu
19
biết, có trên có dưới. Tôi nhận thấy sau khi chào hỏi thì dường như tôi có thể
phá vỡ phần nào tảng băng vô hình ngăn cách tôi và người dân nơi đây. Đó
chính là một trong những điều kiện thuận lợi giúp tôi gây dựng được quan hệ
Một điểm nữa dẫn đến sự khác biệt về khoảng thời gian cần thiết để
thiết lập mối quan hệ với đối tượng cung cấp tin là do sự khác biệt về: lứa
tuổi, nhận thức, tính cách của mỗi người nên việc làm thế nào để có thể tiếp
cận được với họ trong một khoảng thời gian nào đó là không giống nhau. Với
những đối tượng là trẻ em, tôi không gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận, cho dù
là trẻ em nam hay nữ. Nhưng với những người lớn tuổi thì khác, những người
dễ gần thì có thể nhanh chóng đặt quan hệ nhưng cũng có những người do
khó tính, ít nói hay không thích tiếp xúc với người ngoài và ít tiếp xúc với
người lạ…thì tôi phải mất nhiều thời gian để tiếp cận hơn.
Với gia đình Hoa là một ví dụ. Khi tôi bắt đầu thiết lập mối quan hệ với
gia đình Hoa, mẹ Hoa là người hay nói và dễ gần nên chỉ 1 giờ ngồi nói
chuyện là tôi có thể nói chuyện với bà một cách vui vẻ. Sau một ngày, tôi đã
có thể tạo được sự tin tưởng với mẹ của Hoa. Nhưng, bố của Hoa là người ít
nói và cẩn thận nên phải ba ngày sau tôi mới có thể thực sự nói chuyện tự
nhiên với ông được. Bố Hoa ít nói nên việc tạo sự thoải mái, gần gũi với ông
là điều rất khó. Lúc đầu khi tôi bắt chuyện, ông thường trả lời qua loa và nếu
tôi không hỏi thì ông cũng không nói gì. Sau một thời gian tiếp xúc và nghe
tôi giới thiệu về bản thân, công việc và đặc biệt là nói chuyện về một số người
quen của tôi trong xã mà ông cũng biết thì ông mới hoàn toàn tin tưởng và
thoải mái khi tiếp xúc với tôi.
21
Như vậy, quá trình thiết lập mối quạn hệ với người cung cấp tin phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trong đó, có cả những yếu tố về khoảng thời gian
cũng như cách thức tiếp cận… người cung cấp tin.
Ví dụ đầu tiên và rõ ràng nhất là với gia đình Hoa mà tôi vừa nêu ở
trên: đó chính là kinh nghệm đầu tiên khi tôi bắt đầu đi điền dã . Có thể cách
tiếp cận nói chuyện đơn thuần có thể áp dụng tốt với mẹ Hoa nhưng không
thể áp dụng với bố Hoa. Đơn giản là vì mỗi người có độ tuổi, giới, tính cách
khác nhau nên cần có cách tiếp cận khác nhau. Do vậy, tôi đã cố gắng linh
hoạt lựa chọn một cách tiếp cận mà tôi cho là phù hợp nhất để tiếp cận được
cùng họ. Tôi học cách lao động cùng họ, làm những công việc mà họ làm hay
ít ra là cũng có thtrong phụ giúp họ một việc gì đó. Do đặc thù công việc của
nghề nông nên mọi người thường đi ngủ sớm và dậy sớm để làm việc. Tôi
cũng dậy sớm đi làm cùng họ. Khi một người cung cấp tin đi nhổ cỏ tại ruộng
trồng lạc thì tôi cũng cùng họ ra ruộng nhổ cỏ lạc…Trong lúc lao động, vui
chơi hay nghỉ ngơi cùng họ tôi có thể hỏi họ về những vấn đề mà tôi quan
tâm. Tôi thấy rằnngười. khi cùng làm việc với họ thì mối quan hệ giữa tôi và
họ tiến triển nhanh chóng. Chúng tôi có thể gần gũi, thân thiện với nhau hơn
và họ có thể coi tôi như người cùng làng, xóm, thậm chí như người thân trong
gia đình.
2.5 Phỏng vấn
Trong thời gian điền dã, tôi tiến hành phỏng vấn 20 đối tượng và thực
hiện phỏng vấn 8 nhóm ở mọi lứa tuổi và cả hai giới (nam, nữ). Những đối
tượng này bao gồm những em gái đã từng đi giúp việc ngắn ngày ở Hà Nội,
23
người thân trong gia đình của các em, họ hàng, bạn bè hàng xóm và thầy cô
giáo của các em.
Phương pháp nghiên cứu chính ở đây là nghiên cứu trường hợp vì vậy
cần phải chuẩn bị và thực hiện tốt kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân: Tôi muốn
tạo điều kiện cho người được phỏng vấn nói về vấn đề mà không bị gián đoạn
thì thông tin thu thập sẽ đầy đủ hơn so với trường hợp dùng câu hỏi. Chính vì
vậy, thay vì sử dụng cách phỏng vấn “có – không”, tôi muốn thể hiện như một
cuộc đàm thoại để tạo cảm giác thoải mái, tự nhiên cho người được hỏi.
Trong lúc nói chuyện, những suy nghĩ sâu xa của họ sẽ được bộc lộ. Nhưng
cách phỏng vấn này cũng có những khiếm khuyết riêng: trong khi tôi có thể
gợi mở cho người được phỏng vấn có thể kể hay nói một cách thoải mái về
câu chuyện nào đó và họ có thể sẽ nói nhiều điều mà tôi cho là đi ra ngoài vấn
đề. Vì vậy, những lúc ấy tôi cần cố gắng khéo léo ngắt quãng câu chuyện
bằng một câu hỏi nào đó để lái câu chuyện của họ về phía vấn đề mà tôi quan
tâm.
như đối tượng được phỏng vấn đưa ra câu trả lời không chính xác vì có thể
câu trả lời mà họ có thể sẽ đưa ra không nằm trong hai khả năng “có/ không”
ấy.
Khi nói chuyện với Hoa, thay vì câu hỏi “em có thích cuộc sống ở Hà
Nội không ?” tôi hỏi “em thấy cuộc sống ở Hà Nội như thế nào ?”. Với một
câu hỏi như vậy Hoa có thể tự do nói về những cảm nhận của em về Hà Nội
mà không phải lựa chọn giữa câu trả lời là: “có/ không”. “ Ở Hà Nội có
những cái em thích nhưng có những cái em không thích. Khó nói lắm chị ạ!”.
Nếu tôi không đưa ra một câu hỏi mở mà là một câu hỏi đóng thì có lẽ câu trả
lời của Hoa sẽ là: “có/ không” và như vậy thông tin mà tôi nhận được không
thể chính xác với những điều mà Hoa nghĩ. Trong trường hợp này tôi cần gợi
mở cho Hoa có thể đưa ra những thông tin về những điều mà Hoa thích hay
không thích bằng câu hỏi: Em thấy thích/không thích Hà Nội ở những điểm
nào?
25