Lao động trẻ em ở VN & thực tế lao động trẻ em tại xã Quảng Châu - Pdf 12

Mở đầu
Theo thống kê của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1997, trên thế
giới có khoảng 73 triệu trẻ em lao động làm thuê. Trong đó một nửa số lao động
này tập trung tại các nớc châu á. Tham gia hoạt động làm thuê rất dễ dẫn đến
việc sức lao động của trẻ em bị lạm dụng. Vì vậy, vấn đề lao động trẻ em cần đ-
ợc quan tâm hơn nữa nhằm tránh những tổn hại đến sự phát triển toàn diện của
trẻ em. Tháng 5 - 2002, tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc
về trẻ em đã đa ra một cam kết: Xoá nghèo, đầu t vào trẻ em: chúng ta khẳng
định quyết tâm phá vỡ vòng luẩn quẩn của nghèo đói trong một thế hệ cùng liên
kết khẳng định rằng đầu t vào trẻ em và thực hiện quyền trẻ em là những cách
hữu hiệu nhất để xoá nghèo (Báo cáo phát triển Việt Nam 2004: tr.34). Từ
tuyên bố này chúng ta có thể thấy vai trò quan trọng của việc quan tâm tới sự
phát triển toàn diện của trẻ em. Tơng lai của trẻ em cũng chính là tơng lai của
đất nớc. Đó là lý do vì sao vấn đề lao động trẻ em hiện nay đang là vấn đề đợc
bàn luận trong nhiều diễn đàn quốc gia, khu vực, và quốc tế.
Việt Nam là một nớc nông nghiệp, có hai phần ba dân số sống ở nông
thôn trong điều kiện khoa học kỹ thuật kém phát triển nên mọi hoạt động nông
nghiệp thờng phải sử dụng bằng sức ngời; luôn đòi hỏi nguồn lao động cao. Vì
vậy, trẻ em cũng là một nguồn lao động chính trong gia đình, 80% - 90% trẻ
em vị thành niên nông thôn đã từng tham gia lao động sản xuất
(1)
.
Với những đặc thù kinh tế - xã hội của Việt Nam, trẻ em đóng góp một
phần không nhỏ vào nguồn lao động của gia đình dới sự giám sát của cha mẹ.
Nhng trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trờng nh hiện nay, việc đấu tranh
chống lại sự khắc nghiệt của nghèo đói càng làm tăng thêm nguồn lao động trẻ
em. Với diện tích đất nông nghiệp có hạn trong khi dân số và mức chi cho các
nhu cầu tối thiểu của ngời dân ngày càng lớn khiến ngời nông dân không thể
chỉ trông chờ vào sản xuất nông nghiệp. Theo số liệu điều tra năm 2002, Việt
1
Nam có khoảng 28,9% số hộ nghèo và 35,6% số hộ nghèo tại khu vực nông

Địa điểm nghiên cứu tại hai làng (làng Hạ và làng Vân)
(5)
thuộc xã
Quảng Châu, huyện Quảng Xơng, tỉnh Thanh Hoá dựa trên hai lý do chính. Thứ
nhất là từ mối quan hệ cá nhân ngời nghiên cứu với một số ngời dân tại đây.
2
Thứ hai là có sự quen biết với một ngời đang sinh sống ở xã Quảng Châu và
hiện làm môi giới lao động cho một trung tâm giới thiệu việc làm ở Hà Nội.
Những đối tợng nghiên cứu trong khoá luận này đã tham gia lao động giúp việc
thông qua sự giới thiệu của ngời này.
Khoá luận đợc kết cấu với 04 chơng chính sau:
Chơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu lao động trẻ em ở Việt Nam
và thực tế lao động trẻ em tại xã Quảng Châu đa ra một cái nhìn tổng quan về
vấn đề lao động trẻ em ở nớc ta, lao động trẻ em giúp việc gia đình và cụ thể
tình hình lao động trẻ em giúp việc của Quảng Châu.
Chơng 2: Nghiên cứu lao động trẻ em - Từ góc độ phơng pháp tập
trung làm rõ các phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng trong khoá luận này.
Chơng3: Tác động của lao động trẻ em - Cảm nhận của trẻ tìm hiểu
những ảnh hởng của việc tham gia lao động giúp việc tới những trải nghiệm cá
nhân đợc thể hiện qua những quan niệm về cuộc sống của trẻ.
Chơng 4: Lao động trẻ em - qua lăng kính gia đình - xã hội cho thấy
quan niệm, thái độ của ngời dân địa phơng về vấn đề lao động trẻ em giúp việc
gia đình.
3
Chơng 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu lao động trẻ em ở
Việt Nam và thực tế lao động trẻ em tại Quảng Châu
Trớc khi tiến hành một nghiên cứu về vấn đề lao động trẻ em, cần khái
quát những công trình nghiên cứu trớc đó để có cái nhìn tổng quan, thực tế về
quá trình nghiên cứu của vấn đề và từ đó có thể đa ra một mục tiêu nghiên cứu

- Công ớc tuổi tối thiểu của ILO năm 1973 (số138) : hạ tuổi tối thiểu
chung là 14 và hạ tuổi vào làm công việc nhẹ là 12. Cho phép làm việc từ tuổi
16 trong công việc độc hại nếu có những bảo vệ thích hợp (Điều 7: cho phép
sử dụng lao động của ngời từ 13- 15 tuổi trong những công việc nhẹ nhàng mà
không có hại cho sức khoẻ hoặc sự phát triển, học tập )
- Lao động trẻ em giúp việc gia đình là loại lao động thuê mớn có tính
chất thoả thuận giữa ngời chủ nhà (ngời sử dụng lao động) và trẻ em (ngời dới
18 tuổi hoặc dới 16 tuổi)
(9)
.
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm trẻ em (ngời lao động cha
đủ tuổi 16) theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam (1995). Cũng nh Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (trẻ em là những ngời dới 16 tuổi) đã cho
thấy đây là giai đoạn quan trọng đầu tiên hình thành và phát triển nhân cách, trí
tuệ của trẻ. Vì vậy, giai đoạn này trẻ em cần đợc chăm sóc và bảo vệ đặc biệt.
Lao động là một trong những yếu tố cơ bản để trẻ em có thể phát triển toàn diện
và lành mạnh nhng nếu lao động không đúng cách hoặc quá sức sẽ dẫn đến sự
phát triển lệch lạc về cả thể chất lẫn tâm hồn trẻ em.
1.2 Nghiên cứu lao động trẻ em ở Việt Nam
ăngghen trong tác phẩm Vai trò của lao động trong lịch sử biến hoá từ
vợn thành ngời đã viết trong một chừng mực nhất định có thể nói lao động
sáng tạo nên chính con ngời. Đối với giáo dục con ngời thì lao động cũng là
một biện pháp giáo dục tốt. Thông qua quá trình lao động, trẻ em có thể dần
hoàn thiện bản thân, hình thành nhân cách và góp phần phát triển toàn diện mọi
mặt của trẻ em.
Những hoạt động lao động có ảnh hởng tới sự phát triển bình thờng của
trẻ em thờng đợc coi là vi phạm quyền cơ bản của trẻ em. Nhng thật đáng buồn
là trẻ em đã và đang là một trong những ngồn lao động chính tại nhiều gia đình,
5
địa phơng ở nớc ta (chủ yếu là tại các khu vực nông thôn). Trong các gia đình

vào nhóm trẻ em giúp việc gia đình tại Hà Nội, nhằm tìm hiểu nguyên nhân,
đặc điểm và ảnh hởng của lao động tới sự phát triển cá nhân của trẻ cũng nh mô
tả mối quan hệ xã hội của trẻ tại nơi làm việc. Nghiên cứu này đợc tiến hành
bằng sự kết hợp sử dụng các phơng pháp định lợng (dùng bảng hỏi), định tính
(phỏng vấn sâu 20 trờng hợp trong đó có 5 trờng hợp phỏng vấn gia chủ và 15
trờng hợp trẻ em) và phân tích t liệu. Tiếp theo là báo cáo của nhóm tác giả về
vấn đề Lao động trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh do Quỹ cứu trợ nhi đồng
Anh tiến hành năm 1998. áp dụng phơng pháp điều tra bảng hỏi để thu thập
thông tin về nhiều loại ngành nghề khác nhau có trẻ em tham gia. Và một số
báo cáo nh, Điều đầu tiên trớc hết trong lao động trẻ em: xoá bỏ những công
việc độc hại với trẻ em do Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) phối hợp với quỹ
nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) điều tra năm 1999, Một thế giới phù hợp
với trẻ em đợc thực hiện năm 2001 dới sự tài trợ của Quỹ bảo trợ nhi đồng
Anh
Vấn đề lao động trẻ em cũng là mối quan tâm hàng đầu của các bộ ngành
liên quan. Chúng ta có thể đa ra một số điều tra tiêu biểu nh: Vấn đề lao động
trẻ em ở Việt Nam (Bộ Lao động và Thơng binh xã hôị, 1997). Đây là tài liệu
tập trung những báo cáo đợc trình bày tại một cuộc toạ đàm về vấn đề lao động
trẻ em ở Việt Nam. Những báo cáo này chỉ rõ nguyên nhân, hậu quả của lao
động trẻ em và đa ra một số kiến nghị.
Bên cạnh đó, là một số bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí chuyên
ngành các tác giả. Đáng chú ý nhất là Nguyễn Văn Chính (1999). Trong bài viết
này, tác giả đã đề cập đến thực trạng công việc và bản chất của lao động trẻ em.
Thông qua việc phân tích các khía cạnh khác nhau của hiện tợng lao động trẻ
em, tác giả nêu lên một số giả thiết khoa học mang tính lý luận đồng thời chỉ rõ
các phơng pháp tiếp để nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Còn với tác
giả Nguyễn Hồng Thái (2003) lại đi sâu vào tìm hiểu các hình thức lạm dụng
trẻ em. Theo cách phân loại của tác giả thì có lạm dụng trẻ em về thân thể, lao
7
động trẻ em, lạm dụng tình dục trẻ em, bạo lực gia đình đối với trẻ em và trẻ em

của một ngời làm nghề môi giới cung cấp lao động cho một trung tâm giới thiệu
việc làm ở Hà Nội thì tính trong toàn bộ xã Quảng Châu và một vài xã lân cận
(nhng chủ yếu ở địa bàn xã Quảng Châu) trong khoảng thời gian 1 năm
( 16/3/2004 10/4/2005 ) số ngời mà chị đã giới thiệu tới trung tâm giới thiệu
việc làm là 180 ngời. Trong số đó có 12 ngời là nam giới còn lại là nữ giới. Đặc
biệt, có 64 ngời trong số đó là trẻ em gái có độ tuổi 13 - 16 tuổi. Tất cả các em
đều làm công việc giúp việc gia đình ở Hà Nội. Có 13 trẻ trong số 64 trẻ gái đó
còn đang đi học tại thời điểm diễn ra hoạt động lao động giúp việc theo thời vụ.
Với một số ngời dân địa phơng thì lao động theo thời vụ là việc làm quen
thuộc trong những ngày nông nhàn. Đó là thời điểm và công việc thích hợp để
kiếm thêm tiền trong khi không có việc làm. Nh vậy, lao động theo thời vụ là
giải pháp hữu hiệu để giải quyết hai khía cạnh cơ bản của cuộc sống: việc làm
và kinh tế.
Lao động giúp việc gia đình là công việc của những ngời phụ nữ địa ph-
ơng trong khi chờ mùa vụ. Họ chỉ đi là trong dịp nông nhàn vì khi tới mùa vụ
thì sẽ trở về. Nh vậy, trên thực tế thì phần lớn ngời lao động tham gia công việc
này của địa phơng lao động mang tính chất thời vụ vì với họ nông nghiệp mới là
công việc chính. Đặc biệt là đối với trẻ em gái đang còn đi học. Chỉ một số ít
trong họ là coi đây là công việc thờng xuyên quanh năm.
Giúp việc gia đình đòi hỏi sự khéo léo, đức tính cẩn thận, thật thà và có
thể cả một chút sự chịu đựng. Giúp việc gia đình đặc biệt phù hợp với lứa tuổi
nhỏ (khoảng dới 18) hoặc ngời lớn tuổi (40 - 60 tuổi) không có gia đình hay con
cái đã lớn. Đây là hai khoảng lứa tuổi đợc nhiều ngời thuê lao động lựa chọn
bởi những lý do khá tế nhị. Để giả thích cho lựa chọn này, ngời chủ thuê lao
động đã đa ra lý do sau:
9
Thông thờng khi con gái trên 18 tuổi là lứa tuổi biết yêu đơng, dễ đua đòi
hoặc đã có chồng và con nhỏ nên không thể làm công việc này vì thời gian xa
nhà kéo dài. Mặt khác, những trẻ em còn ít tuổi thờng khoẻ mạnh, chịu khó và
đặc biệt là dễ bảo, dễ sai khiến hơn ngời lớn tuổi. Nếu ngời giúp việc là những

với những em lao động thời vụ để kiếm tiền trang trải việc học thì các em chắc
chắn cũng không theo đuổi công việc này lâu dài.
Nhiều trẻ em gái ở nông thôn mong muốn đợc học tập cao hơn đang
đứng trớc nguy cơ phải bỏ học vì không có tiền để chi phí cho học tập (học càng
lên cao thì chi phí cho học tập cũng ngày càng tăng). Trong khi đó, mỗi gia
đình ở nông thôn thờng có 3, 4 con. Để có thể cho các con đi học quả là một
việc quá sức đối với nhiều gia đình cho dù đã có Luật phổ cập giáo dục Việt
Nam miễn học phí đối với học sinh cấp tiểu học. Do đó, những trẻ em gái mong
muốn có tiền chi trả cho học tập cần phải tự mình kiếm tiền và giúp đỡ cho bố
mẹ. Giúp việc gia đình theo thời vụ là một lựa chọn thích hợp nhất!
Tranh thủ những dịp nghỉ hè và nghỉ tết, trẻ em gái thông qua mạng lới di
c mà tới những thành phố lớn để giúp việc gia đình. Mạng l ới xã hội hình
thành từ qúa trình di c cũng nh phục vụ cho mục đích di c đợc gọi là mạng lới
di c (Đặng Nguyên Anh, 1998: tr. 16). Đặc trng cơ bản của mạng lới di c là
liên kết những ngời di chuyển thông qua các quan hệ cùng quê, họ hàng. thông
qua mạng lới di c, di chuyển này các em có thể tiếp nhận đợc những thông tin
và sự trợ giúp cần thiết tại nơi các em sẽ tới lao động kiếm tiền. Nhng những
thông tin ấy chỉ là những thông tin cơ bản, bớc đầu về công việc mà các em sẽ
làm: giúp việc gia đình là làm những công việc vặt gia đình, chăm ngời ốm, ng-
ời già, trẻ nhỏ Tất cả những công việc này mỗi trẻ em gái cũng đều đã làm
quen ở gia đình mình. Vì vậy, các em nghĩ rằng đây là một công việc nhàn hạ,
11
dễ làm mà cha thể hình dung đợc hết những khó khăn mà các em sẽ gặp phải
trong quá trình làm việc.
Với những chuẩn bị về tâm lý cơ bản thông qua kênh thông tin từ những
ngời đã đi làm trớc đó mà các em sẵn sàng rời nhà đi lao động kiếm tiền. Đối
với những trẻ em gái lần đầu tới thành phố lớn, lần đầu xa gia đình thì đây quả
là một thời điểm không dễ dàng gì.
Qua tìm hiểu một số gia đình có nhu cầu thuê ngời giúp việc gia đình cho
thấy: Để tìm đ ợc một ngời giúp việc vừa ý rất khó! Nhà cô thuê đến hơn chục

với nền văn hoá, văn minh đô thị. Qua đó, trẻ em gái có thể làm tăng thêm
những kinh nghiệm sống và làm việc của bản thân. Chỉ có điều liệu các em có
biết sàng lọc, lựa chọn cho mình những nét văn hoá thích hợp với điều kiện
sống của mình không?
Tiểu kết chơng: Từ những tìm hiểu có hệ thống về tình hình nghiên cứu
vấn đề lao động trẻ nghiên cứu ở Việt Nam và thực trạng lao động trẻ em tại xã
Quảng Châu trong thời gian qua có thể cho phép tôi có cái nhìn khái quát và
khoa học về vấn đề này trớc khi tiến hành nghiên cứu.
Có thể thấy rằng, ngoài công trình nghiên cứu mang tính tiên phong về
phơng pháp tiếp cận vấn đề từ góc độ Nhân học của tác giả Nnguyễn Văn
Chính, phần lớn các nghiên cứu về vấn đề này đều đợc tiếp cận thông qua lăng
kính của các nhà Xã hội học. Điều này cho thấy vấn đề lao động trẻ em ở Việt
Nam hiện nay cha đợc tiếp cận theo nhiều phơng pháp, chiều hớng khác nhau
ngoài phơng pháp tiếp cận Xã hội học hiện nay.
Mặt khác, thu nhập của trẻ em giúp việc gia đình không hề quá thấp so
với mức thu nhập chung của thành phố mà còn cao hơn nhiều so với mức thu
nhập ở nông thôn. Hơn nữa, điều kiện lao động của công việc này thờng nhàn
13
hạ hơn nhiều so với nững công việc nặng nhọc ở quê nhà. Do đó, giúp việc gia
đình giờ đây đã trở thành một nghề rất phổ biến, hấp dẫn đối với nhiều trẻ em
gái ở khu vực nông thôn.
14
Chơng 2
nghiên cứu lao động trẻ em - từ góc độ phơng pháp
2.1 Nghiên cứu t liệu
Trớc khi tiến hành quan sát tham gia để thu thập những thông tin tại địa
bàn nghiên cứu thì việc đầu tiên, trớc hết là phải tiến hành thu thập những tài
liệu có liên quan tới vấn đề cần nghiên cứu. Nghiên cứu vấn đề lao động trẻ em
theo thời vụ, tôi đã tự trang bị cho mình những kiến thức, thông tin liên quan
đến vấn đề qua việc khảo sát t liệu thu nhận đợc từ các th viện của các cơ quan,

đã nghỉ học) - bố, mẹ không hoà hợp (bố có vợ bé)
(11)
.
Lựa chọn những trờng hợp cụ thể có đặc thù riêng về hoàn cảnh gia
đình, tôi muốn có cái nhìn tổng quan và khoa học về quá trình hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ. Khi xem xét về vấn đề này, chúng ta cần xem xét
nó trên nền tảng gia đình của trẻ. Bởi nh chúng ta đã biết, gia đình là nền tảng
cơ bản hình thành nên tính cách và có ảnh hởng lớn tới tâm t tình cảm của trẻ
em. Trong đó, vai trò của cha mẹ có thể nói là đặc biệt quan trọng. Nhất là vai
trò của ngời mẹ. Chăm sóc con cái là vai trò cơ bản của phụ nữ ở nông thôn.
Trong một nghiên cứu của Joyce Halliday và Jo Little- đợc tiến hành ở vùng
nông thôn Devon và đi đến nhận định rằng việc chăm sóc con cái chủ yếu
(hoặc thậm chí hoàn toàn) là công việc của phụ nữ ( Halliday & Little, 2004:
tr.113 ). Mặc dù đây chỉ là nghiên cứu ở một vùng nông thôn của nứơc Anh nh-
ng khi mang nó xem xét và so sánh với nông thôn Việt Nam thì nhận xét này
phần nào phù hợp. áp dụng vào ba trờng hợp cụ thể trong nghiên cứu của tôi
cho thấy vai trò quan trọng của ngời mẹ. Cha của các em thờng xuyên vắng nhà,
vì thế mọi việngời lớn nhỏ trong gia đình đều dồn lên đôi vai ngời mẹ. Thậm
chí nh trờng hợp của Hồng (mẹ mất sớm), bố thờng xuyên vắng nhà nên em vừa
phải đảm nhận vai trò của một ngời mẹ trong gia đình: chăm sóc em gái (13
tuổi); vừa phải tự lo cho bản thân.
16
Từ sự khác biệt về hoàn cảnh gia đình đã dẫn đến sự khác nhau trong
nhận thức cá nhân của các em cũng nh những đổi thay trong tình cảm, tâm t của
các em sau thời gian làm việc tại Hà Nội. Hoàn cảnh gia đình tuy chỉ là một
trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát triển ý thức cá nhân của trẻ em
nhng cũng là một khía cạnh quan trọng cần đợc xem xét tới.
Khi tôi muốn tìm hiểu ảnh hởng của hoàn cảnh gia đình tới quyết định ra
Hà Nội làm việc của các em nh thế nào? (Trong trờng hợp cụ thể với câu hỏi
của tôi có nên ra Hà Nội giúp việc gia đình không?) thì ba đối tợng nghiên cứu

ngày cùng với sự tiến triển của quá trình nghiên cứu trên thực địa.
Không thể không nhắc đến kinh nghiệm trong ngày đầu tiên tôi tới xã
Quảng Châu. Khi tôi đi bộ lững thững vào làng tới nhà chị Hà (nhân vật trung
gian), tôi đi ngang qua một chợ cóc ven đờng. Thấy tôi một ngời dân nói:
Không biết con cái nhà ai mà mồm để đâu không chào ai cả ?!. Với sự cảm
nhận của cá nhân tôi thì đây chính là khó khăn đầu tiên tôi gặp phải trong ngày
đầu nơi thực địa. Chính bài học kinh nghiệm này đã giúp tôi rất nhiều trong việc
thiết lập mối quan hệ dân làng. ở làng có lệ gặp ngời lớn tuổi hơn phải chào hỏi
lễ phép không kể có quen hay không. Đấy có lẽ là một trong số những chuẩn
mực đạo đức địa phơng để xác định thế nào là một ngời hiểu biết, có trên có d-
ới. Tôi nhận thấy sau khi chào hỏi thì dờng nh tôi có thể phá vỡ phần nào tảng
băng vô hình ngăn cách tôi và ngời dân nơi đây. Đó chính là một trong những
điều kiện thuận lợi giúp tôi gây dựng đợc quan hệ thân thiện với mọi ngời. Về
phía ngời dân, họ luôn muốn biết tôi làm gì và với mục đích gì? và tôi có làm
điều gì xấu không? Chính vì lẽ đó, thờng xuyên giao tiếp, trao đổi với họ là rất
cần thiết. Nó giúp tôi phá bỏ đợc khoảng cách vô hình giữa một sinh viên đến
từ thành phố với ngời dân quê.
Trong quá trình điền dã, khoảng thời gian để tôi có thể tạo lập các mối
mối quan hệ với từng cá nhân thờng khác nhau. Giai đoạn đầu là giai đoạn mà
18
việc tiếp cận, xây dựng mối quan hệ với những ngời trong địa phơng khó khăn
nhất và tốn nhiều thời gian nhất. Vì sau khi đã sự quen biết nhất định với một
vài ngời làng thì việc tiếp cận với những ngời còn cũng trở nên thuận lợi hơn. ở
đây tôi áp dụng phơng pháp quả bóng tuyết, một phơng pháp rất phổ biến trong
các nghiên cứu mang tính đặc thù cao.
Ngày đầu tiên đến Quảng Châu, tôi nghỉ tại nhà chị Hà và cũng trong
ngày ấy chị đã giới thiệu tôi với Hoa. Sang ngày thứ hai, tôi tự tiếp cận với gia
đình Hoa. Mặc dù tỏ ra dễ gần, nhng họ vẫn có chút gì đó e ngại và cha tin tởng
vào tôi- một ngời hoàn toàn xa lạ. Vì họ vẫn cha hiểu rằng tôi cần gì ở họ và
con cái họ nên cũng không muốn tôi tiếp xúc với con cái họ khi không có mặt

việc và đặc biệt là nói chuyện về một số ngời quen của tôi trong xã mà ông
cũng biết thì ông mới hoàn toàn tin tởng và thoải mái khi tiếp xúc với tôi.
Nh vậy, quá trình thiết lập mối quạn hệ với ngời cung cấp tin phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố. Trong đó, có cả những yếu tố về khoảng thời gian cũng nh
cách thức tiếp cận ng ời cung cấp tin.
Ví dụ đầu tiên và rõ ràng nhất là với gia đình Hoa mà tôi vừa nêu ở trên:
đó chính là kinh nghệm đầu tiên khi tôi bắt đầu đi điền dã . Có thể cách tiếp
cận nói chuyện đơn thuần có thể áp dụng tốt với mẹ Hoa nhng không thể áp
dụng với bố Hoa. Đơn giản là vì mỗi ngời có độ tuổi, giới, tính cách khác nhau
nên cần có cách tiếp cận khác nhau. Do vậy, tôi đã cố gắng linh hoạt lựa chọn
một cách tiếp cận mà tôi cho là phù hợp nhất để tiếp cận đợc với họ trong một
thời gian nhất định.
Khi gặp Hồng, tôi chuyện trò thân thiện cùng em về bạn bè, về chuyện
học hành ở lớp thậm chí về một bộ phim nào đó đ ợc chiếu trên ti vi. Thế nh-
ng, với bố Hồng tôi hay nói về cách mà bố Hồng chăm sóc các con khi vợ mất
sớm
20
Điều quan trọng nữa ảnh hởng tới quá trình thiết lập mối quan hệ với đối
tợng cung cấp tin là hoàn cảnh, thời điểm tiếp cận đối tợng. Cụ thể là trong tr-
ờng hợp của chú Hùng ( Bố Lan) có vợ bé và đi làm xa thờng ít khi về nhà nên
phải 3 tuần tôi mới có thể nói chuyện một cách gần gũi với chú. Mỗi lần chú về
nhà, tôi luôn tìm cách tiếp cận chú khi có điều kiện để thu thập thông tin cần
thiết về Lan trớc khi chú đi. Vì thời gian chú về nhà ít mà lại có nhiều việc phải
làm nên cơ hội để tôi có thể phỏng vấn là khi chú nói chuyện với các con hay
tranh thủ đan cho vợ cái rổ (Thời điểm mà tôi cho là chú và những ngời trong
gia đình sẽ không cảm thấy quá khó chịu vì bị làm phiền).
Và nh vây, khi điều kiện, hoàn cảnh tiếp cận với đối tợng cung cấp tin
hạn chế tất yếu sẽ dẫn đến thời gian thiết lập mối quan hệ phải kéo dài. Do vậy,
tôi cần phải biết tận dụng những thời điểm thuận lợi để tiếp cận với ngời cung
cấp tin.

thay vì sử dụng cách phỏng vấn có không, tôi muốn thể hiện nh một cuộc
đàm thoại để tạo cảm giác thoải mái, tự nhiên cho ngời đợc hỏi. Trong lúc nói
chuyện, những suy nghĩ sâu xa của họ sẽ đợc bộc lộ. Nhng cách phỏng vấn này
cũng có những khiếm khuyết riêng: trong khi tôi có thể gợi mở cho ngời đợc
phỏng vấn có thể kể hay nói một cách thoải mái về câu chuyện nào đó và họ có
thể sẽ nói nhiều điều mà tôi cho là đi ra ngoài vấn đề. Vì vậy, những lúc ấy tôi
cần cố gắng khéo léo ngắt quãng câu chuyện bằng một câu hỏi nào đó để lái
câu chuyện của họ về phía vấn đề mà tôi quan tâm.
Ví dụ, khi tôi nói chuyện cùng với mẹ của Hoa về vấn đề học tập của
Hoa tại trờng, mẹ của Hoa đã kể rất nhiều và bà kể cả một câu chuyện rất dài về
đời t của ông hiệu trởng nhà trờng. Nhận thấy đã đi quá xa đề tài, tôi liền đặt
ngay một câu hỏi Cô có muốn cho Hoa đi học thêm không? để lái câu
chuyện về đề tài học tập của Hoa thì mẹ Hoa lại quay trở về với vấn đề học tập
của Hoa mà không cảm thấy bị gián đoạn mạch kể chuyện.
22
Nhng trong lúc tiến hành phỏng vấn, tôi cũng gặp phải một số vớng mắc.
Những ngày đầu tiến hành phỏng vấn, tôi cảm thấy gặp nhiều khó khăn trong
cách đặt câu hỏi nh thế nào cho ngời đợc phỏng vấn có thể nắm bắt đợc vấn đề
mà tôi quan tâm. Với tuỳ từng cá nhân ngời đợc phỏng vấn mà tôi lựa chọn cách
đặt câu hỏi khác nhau. Trong quá trình tiến hành phỏng vấn, tôi sử dụng cả hai
loại câu hỏi là: câu hỏi đóng và câu hỏi mở(10)
.
Đối với trờng hợp trẻ nhỏ, tôi thờng đa ra những câu hỏi đóng và những
câu hỏi mở để trẻ em có thể tự do diễn đạt suy nghĩ của mình thay bằng những
câu hỏi không rõ ràng hoặc có nhiều phơng án trả lời để tránh khả năng dẫn dắt
trẻ em trả lời theo cách hiểu của ngời lớn. Những câu hỏi dành cho trẻ em là
những câu hỏi về: bản thân, gia đình, nguyên nhân dẫn đến hoạt động lao động

nhiều ngời nói nó đi làm xa một mình nh thế mà bố mẹ nó cũng cho nó đi...
Loại này ra đờng dễ đi làm gái nhà hàng lắm! (cô Thoa- 38 tuổi- hàng xóm
của Hoa)
Một điều nữa mà tôi nhận thấy khi tiến hành phỏng vấn nhóm là khi tôi
phỏng vấn một nhóm trẻ em thì thờng các em có thể nói rất thật những điều
mình nghĩ. Nhất là khi nhóm phỏng vấn chỉ là những em nữ. Khi trong nhóm
xuất hiện 1 hay vài em nam thì những câu trả lời trở nên dè dặt hơn. Có lẽ là các
em tỏ ra ngại ngần khi có mặt bạn nam và sợ rằng bạn nam sẽ đánh giá khác đi
về mình.
Còn đối với nhóm những ngời lớn tuổi khi đợc phỏng vấn thờng khó có
thể đa ra những lời nhận xét, những suy nghĩ của mình một cách thẳng thắn vì
họ vốn lo ngại khi nói đến điều gì đó mà họ cho là không hay sẽ bị ngời khác
trách móc hoặc chê cời Có khi cô nghĩ nó (Lan), bỏ nhà một mình mà ra Hà
Nội thì cũng gớm mặt thật! Con cô nó không dám liều thế đâu! Nhng cô nói
là nói với cháu thế thôi, cháu đừng nói lại với ai đấy nhé! (cô Phúc- 41 tuổi-
ngời cùng làng với Lan). Mặc dù vậy, đó cũng chỉ là những ý kiến chủ quan của
24
ngời đợc phỏng vấn mà có trờng hợp vì mục đích cá nhân mà ngời đợc phỏng
vấn nói ra. Những thông tin trong trờng hợp đó thờng không chính xác.
Điều đặc biệt là tôi có thể phỏng vấn đợc một nhóm các trẻ em nam nhng
không thể phỏng vấn một nhóm ngời lớn là nam giới. Tôi thấy rất ít khi những
ngời đàn ông lớn tuổi trong làng nhóm họp với nhau. Một số lớn họ thờng đi
làm xa ít về nhà, một số khác thì làm việc suốt ngày rồi tối đến thì thờng đi ngủ
từ rất sớm. Mặt khác ở nông thôn, thờng thì buổi tối không có đài, tivi hay các
hoạt động vui chơi khác nên họ không có thói quen cùng nhau nói chuyện uống
trà sau một ngày lao động mệt mỏi. Chỉ có phụ nữ là hàng ngày vẫn hay có thói
quen tụ tập tụm bàn chuyện trong nhà, ngoài ngõ.
Trong cùng một nhóm phỏng vấn thì trờng hợp các thành viên trong
nhóm có ý kiến trái ngợc nhau. Khi tôi hỏi cảm nghĩ của họ về vấn đề đi lao
động giúp việc ở Hà Nội tốt hay xấu ? tôi thấy rằng, những ngời nêu ý kiến sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status