Tín dụng thuê mua ở Việt Nam và việc áp dụng trong ngành vận tải biển (102trang) - Pdf 30

TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, tình hình kinh tế nước ta đã có những bước
chuyển lớn từ “cơ chế tập trung bao cấp” chuyển sang “cơ chế thò trường có
sự điều tiết của Nhà Nước”. Với cơ chế mới này các doanh nghiệp Nhà Nước
được chủ động trong việc quản lý và sử dụng vốn, chủ động tìm nguồn cung
cấp, tiêu thụ… Nhà Nước chỉ điều tiết ở cấp vó mô. Do đó các doanh nghiệp
Nhà Nước phải chủ động tìm cho mình một hướng đi riêng với những giải
pháp tổ chức quản lý và sử dụng vốn sao cho thật hiệu quả.
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới kỹ thuật công nghệ đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có nguồn vốn lớn – nguồn vốn tài trợ trung và dài hạn. Doanh
nghiệp có thể tìm thấy sự tài trợ này bằng cách kết hợp nhiều nguồn vốn khác
nhau phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Một trong
những nguồn vốn đó chính là Tín Dụng Thuê Mua (Thuê Tài Chính) - một
hình thức tài trợ tín dụng thông qua cho thuê các loại tài sản, thiết bò, máy
móc…. . Đây là một phương thức giao dòch khá lâu đời .Nó thường đóng vai trò
tài trợ rất có ý nghóa trong các nền kinh tế đang phát triển. Nguồn tài trợ này
thường gắn liền với các lónh vực sản xuất kinh doanh đặc biệt với các doanh
nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Thuê tài chính có thể giúp các doanh nghiệp
vừa và nhỏ kòp thời hiện đại hóa sản xuất, theo kòp tốc độ phát triển của công
nghệ mới kể cả trong trường hợp thiếu vốn. Bởi đó là một giải pháp cấp tín
dụng bằng hiện vật thay thế cho việc đi vay từ các ngân hàng để mua sắm máy
móc thiết bò, là hình thức tài trợ an toàn cho doanh nghiệp khi đầu tư đổi mới
máy móc thiết bò.
Khác với thò trường cho vay trung và dài hạn : Các ngân hàng luôn
yêu cầu phải cầm cố thế chấp tài sản để làm đảm bảo cho khoản vay nhưng
không phải doanh nghiệp vừa và nhỏ nào cũng có khả năng đáp ứng. Đồng
thời khác với thò trường chứng khoán là : chỉ có loại hình công ty cổ phần
mới được phép huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán. Trên thò
trường tín dụng thuê mua, công ty tài trợ thuê mua có khả năng cung cấp cả
vốn hiện vật lẫn dòch vụ kỹ thuật giúp cho người thuê đạt được hiệu quả từ

máy móc dưới hình thức này họ được phép khấu hao nhanh hơn bình thường,
lại đóng thuế thu nhập ít hơn.
Chính từ những lợi ích trên của tín dụng thuê mua (thuê tài chính) em
quyết đònh tìm hiểu về hoạt động cho thuê tài chính và tình hình sử dụng
nguồn tài trợ này trong một số năm qua của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc
biệt là các doanh nghiệp Vận Tải Biển Việt Nam.
Trang - 2 -
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
Do sự hiểu biết còn nhiều hạn chế và với một đề tài khá mới đòi hỏi
nhiều kiến thức, chưa được phổ biến nhiều ở Việt Nam, dù đã cố gắng tìm
hiểu song chuyên đề này chắc chắn còn nhiều thiếu sót và mang nặng tính lý
thuyết. Mặt khác các biện pháp kiến nghò vẫn còn thô sơ và mang tính chủ
quan. Vì lẽ đó, Em mong có được sự thông cảm cũng như góp ý của Thầy để
chuyên đề này sẽ ngày càng được hoàn thiện hơn. Được như vậy đó chính là
khích lệ lớn cho em tiếp tục trau dồi kiến thức của mình vốn chỉ như “ giọt
nước trong đại dương bao la”.
Em xin trân trọng cảm ơn !

Trang - 3 -
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................

mạnh mẽ cả về chủng loại tài sản, thiết bò và khối lượng giao dòch. Hiện nay công
nghiệp cho thuê và nghiệp vụ cho thuê tài chính là hình thức tài trợ phổ biến trên thế
giới. Công nghiệp cho thuê và hoạt động cho thuê tài chính ngày càng phát triển mạnh
mẽ là do bản thân phương thức tài trợ này có tính an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả đối
với các bên tham gia.
Cho thuê tài chính là một dạng cho thuê máy móc thiết bò và động sản (còn
có thể gọi là cho thuê thiết bò). Trước 1975 ở Sài Gòn, công ty IBM đã cho thuê
máy điện toán. Hiện nay, ở Việt Nam Airline đã cho thuê máy bay của Teac, Air
France, Airbus… Cho thuê tài chính là một đònh chế mới có ở nước ta từ tháng
10/1995 khi thủ tướng Chính Phủ ra quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của
công ty cho thuê tài chính. Theo chế độ kế toán hiện hành ở Việt Nam, cơ quan đi
thuê tài chính phải ghi món nợ thuê và tài sản thuê vào bảng cân đối kế toán. Đối
với số tiền mà bên thuê phải trả thì cơ quan thuế coi như là chi phí hay khấu hao.
Trang - 6 -
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
II. KHÁI NIỆM VÀ CÁC QUAN ĐIỂM :
1. Khái niệm thỏa thuận cho thuê (Leasing Agreement):
Thỏa thuận cho thuê ( Leasing Agreement) là một hợp đồng giữa hai hay
nhiều bên, liên quan đến một hay nhiều tài sản. Người cho thuêâ (chủ sở hữu tài
sản –The Lessor) chuyển giao tài sản cho người thuê ( người sử dụng tài sản –The
Lessee ) độc quyền sử dụng và hưởng dụng những lợi ích kinh tế trong một
khoảng thời gian nhất đònh . Đổi lại, người thuê có nghóa vụ trả một số tiền cho
chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụngï đó.
Thỏa thuận cho thuê có hai phương thức giao dòch chủ yếu là:
·
Phương thức thuê vận hành hay thuê truyền thống,
hoặc thuê dòch vụ ( Operating Lease, or Traditional Lease,
Service Lease)
·
Phương thức thuê mua thuần hay thuê tài chính, hoặc thuê tư

sản thường được sử dụng trong giao dòch thuê mua kiểu truyền thống bao gồm :
đất canh tác, công cụ lao động, nhà cửa, gia súc kéo… Ngày nay là các loại tài sản,
thiết bò được sử dụng cho thuê vận hành rất đa dạng như : các máy photocopy, xe
ô tô các loại, máy vi tính, trang thiết bò văn phòng, nhà ở, phòng làm việc, thiết bò
khoan dầu…
Hình thức thuê vận hành có thể coi là một hợp đồng đề chấp hành, tài sản
không được ghi vào sổ sách kế toán của người thuê mà phần tiền trả theo thoả
thuận được ghi như mọi khoản chi phí bình thường khác. Trong hợp đồng này
không dự kiến chuyển giao quyền sở hữu thiết bò khi hết hạn thuê, cho nên thuê
vận hành không phải là một giải pháp tài trợ cho hành động mua tài sản trong
tương lai.
Sơ đồ 1 – Thoả thuận thuê vận hành
1.2.Thuê tài chính ( thuê mua thuần – Net Lease ):
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạn
không thể huỷ ngang
(1)
.Theo phương thức này quyền sở hữu tài sản được chuyển
giao khi hết thời hạn cho thuê hoặc hợp đồng cho thuê có quy đònh bên thuê được
Trang - 8 -
Người cho
thuê
( Lessor)
Người
Thuê
â(Lessee)
Quyền sử dụng tài sản
+ dòch vụ
Trả tiền thuê
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
quyền lựa chọn mua tài sản, thời hạn cho thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng

Tuy nhiên, sự huỷ bỏ thoả thuận vẫn có thể xảy ra với điều kiện có sự nhất trí của cả hai
bên, người thuê và người cho thuê.
2. Các quan điểm Đònh Nghóa về thuê tài chính:
Trang - 9 -
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
Quốc gia
Tiêu thức
IAS
Hoa
Kỳ
Anh Nhật
Hàn
Quốc
Indo
-nesia
Việt
Nam
(1)
- Chuyển giao
quyền sở hữu khi
kết thúc hợp
đồng
Có Có Có Có Không
quy
đònh cụ
thể

- Quyền chọn
mua
Có Có Không

lớn
< 75%
(
2
)
tối đa
không
quá 30
năm
Phần
lớn
Tài sản
≤10
năm
70%.
Tài sản
> 10
năm:
60%.
Tối đa
120%
60% tài
sản ≤ 5
năm
70%
Tài sản
có đời
sống 2
năm
< 75%

một số tiêu chuẩn phụ khác cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng nước.
Trên đây ta có bảng liệt kê tóm tắt những tiêu chuẩn để được coi là giao dòch thuê
mua tại một số quốc gia và khu vực.
2.1. Theo quan điểm của Công ty tài chính quốc tế :
Thuê tài chính là một thỏa thuận thuê mà theo đó phần lớn các rủi ro và lợi
ích có được từ việc sở hữu các tài sản được chuyển từ bên cho thuê sang bên đi
thuê. Định nghĩa này phù hợp với tiêu chuẩn cơ bản phân định các giao dịch cho
th.
2.2. Theo Nghò Đònh 64/CP (9/10/1995) của VN :
 Đònh nghóa :
Thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc
cho thuê máy móc thiết bò và các động sản khác. Bên cho thuê cam kết mua máy
móc thiết bò và động sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối
với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong
suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng
trước hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua
lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng
thuê.
Đònh nghóa này chứa đựng được đầy đủ nội dung của giao dòch cho thuê tài
chính về mặt pháp lý và về mặt kinh tế.
 Về mặt kinh tế : Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng
trung – dài hạn, thực chất bên cho thuê là nhà cung ứng vốn, bên
thuê là người đi vay vốn. Người cho thuê là chủ sở hữu về mặt pháp
lý nhưng họ không đứng ra trực tiếp sử dụng tài sản, quyền lợi này
được trao cho người đi thuê. Doanh nghiệp đi thuê là người đứng ra
khai thác tính hữu ích của tài sản và cam kết gánh chòu mọi rủi ro
liên quan đến thiết bò thuê. Như vậy doanh nghiệp đi thuê là chủ sở
hữu về mặt kinh tế của tài sản. Người đi thuê sẽ đền bù cho người
cho thuê mọi mất mát hoặc thiệt hại về thiết bò với bất cứ nguyên
nhân nào. Người đi thuê sẽ thanh toán mọi chi phí, thuế liên quan

bên thuê.
_ Chưa đề cập đến khả năng bên thuê trả lại tài sản khi kết thúc hợp đồng
thuê.
_ Đã phủ nhận khả năng thông qua sự đồng ý của bên cho thuê, bên thuê
thứ nhất cho bên thuê thứ hai thuê lại tài sản mà trước đó họ đã thuê.
Trang - 12 -
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
_ Chưa dự liệu, bao quát được tình huống giao dòch cho thuê tài chính
không chỉ giới hạn trong việc tài trợ máy móc thiết bò và động sản khác, mà còn
có thể mở rộng sang cả lónh vực bất động sản khi điều kiện cho phép.
 Khắc phục
Để khắc phục những nhược điểm trên, người ta nêu ra quan điểm thứ ba
như sau : CTTC là một hoạt động tín dụng trung – dài hạn thông qua việc cho thuê
tài sản, trong đó hợp đồng thuê phải đảm bảo yêu cầu chuyển giao phần lớn rủi ro
và lợi ích gắn với quyền sở hữu tài sản từ bên cho thuê sang bên thuê.
2.3 . Theo Nghò đònh số 16/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của Chính Phủ thay
chp Nghò đònh 64/CP ngày 09/10/1995:
Theo nghị định số 16/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của chính phủ thì khái niệm
cho th tài chính được hiểu như sau:
Cho th tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn, thơng qua
việc cho th máy móc, thiết bị,phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho th giữa bên cho th và bên th . Bên cho th cam kết mua
máy móc thiết bị ,phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo u cầu của
bên th và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho th. Bên th sử dụng tài
sản th và thanh tốn tiền th trong suốt thời hạn th đã được hai bên thoả thuận
.
Việc sửa đổi nghò đònh 64/CP ngày 09/02/1995 nhằm tháo gỡ các vướng
mắc trong hoạt động cho thuê tài chính, sẽ mở rộng đối tượng cho thuê tài chính
tới cá nhân, làm rõ vấn đề chuyển quyền sở hữu tài sản khi kết thúc hợp đồng tài
chính. Tuy nhiên, sửa đổi phải dựa trên hành lang pháp lý hiện hành, do đó sẽ có

2. Cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên:
(hay cho thuê tài chính thuần)
Hình thức cho thuê tài chính này được gọi là cho thuê tài chính thuần (Net
Financial Leasing ) . Là loại hình cho thuê tài chính mà trước khi giao dòch tài sản
Trang - 14 -
BÊN CHO
THUÊ
BÊN THUÊ
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
tài trợ chưa có sẵn, bên cho thuê sẽ mua tài sản theo đúng yêu cầu của bên thuê .
Các quan hệ cơ bản trong giao dòch cho thuê tài chính thuần có sự góp mặt của ba
bên : người đi thuê, nhà cung cấp và tổ chức cho thuê, cụ thể:
1) Bên thuê lựa chọn nhà cung cấp tài sản, mẫu mã, hình thức, các chi tiết kỹ
thuật, ngày giao tài sản, điều kiện bảo trì, giá cả và phương thức thanh toán
và thảo luận với bên cho thuê về các điều kiện cho thuê thoả đáng.
2) Bên thuê cung cấp cho bên cho thuê các bản báo cáo tài chính và các
thông tin khác để bên cho thuê có thể đánh giá được khả năng tín dụng của
bên thuê. Nếu khả năng tín dụng của bên đi thuê có thể chấp nhận được thì
hai bên sẽ thoả thuận các điều kiện cho thuê và sẽ ký kết một hợp đồng
thuê tài chính.
3) Dựa vào các điều kiện do bên thuê và người cung cấp thoả thuận, bên cho
thuê sẽ ký kết một hợp đồng mua bán tài sản với người cung cấp.
4) Người cung cấp giao thẳng tài sản cho thuê tới đòa chỉ của bên thuê.
5) Bên thuê giám đònh tài sản. Nếu phù hợp với hợp đồng thuê, bên thuê gửi
cho bên cho thuê một bản chấp nhận tài sản thuê.
6) Bên cho thuê trả tiền mua cho nhà cung cấp sau khi đã nhận bản chấp nhận
tài sản thuê.
7) Đồng thời với việc ký hợp đồng cho thuê, bên thuê cũng phải ký một hợp
đồng bảo trì tài sản thuê với người cung cấp hoặc nhà chế tạo.
8) Bên thuê trả tiền thuê tài sản cho bên cho thuê theo đònh kỳ và không được

sự tham gia của 2 bên gồm :
1) Chủ sở hữu ban đầu ký kết hợp đồng bán tài sảnvà đồng ý ký kết hợp đồng
thuê lại tài sản đó với bên cho thuê.
Trang - 16 -
Quyền sở hữu thiết bò Quyền sử dụng thiết bò
Trả tiền mua Trả tiền thuê
Nhà máy sản xuất
hay nhà cung ứng
thiết bò
Giao thiết bò
Người thuê
Cung cấp bảo dưỡng
Trả tiền bảo dưỡng và
mua phụ tùng
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
2) Bên thuê chỉ giữ lại quyền sử dụng tài sản trong thời hạn thuê còn quyền
sở hữu tài sản về mặt pháp lý dược chuyển giao cho bên cho thuê, đổi lại
bên thuê sẽ nhận được một số tiền nhất đònh do bán tài sản.
3) Các chi tiết giao dòch tiếp theo được thực hiện tương tự như giao dòch cho
thuê tài chính thuần.
Nếu giao dòch này hoàn tất, người thuê vừa có nguồn tài chính để kinh
doanh và vẫn duy trì việc sử dụng tài sản. Người cho thuê giao lại tài sản cho
người bán thông qua một hợp đồng hoàn trả toàn bộ hay hợp đồng thuê vận hành
tuỳ theo sự thoả thuận giữa hai bên hoặc nếu bên thuê vay tiền của ngân hàng để
tài trợ cho bên thuê thì hợp đồng lại có thêm dạng thuê mua bắc cầu đan xen vào.
Hình thức bán rồi thuê lại sẽ có nhiều lợi ích đối với người đi thuê:
• Bù đắp những thiếu hụt về vốn lưu động : trong hoạt động sản xuất
kinh doanh có nhiều doanh nghiệp có tài sản cố đònh lớn nhưng không có đủ vốn
lưu động để khai thác năng lực tài sản cố đònh hiện có. Với hình thức bán rồi thuê
lại, doanh nghiệp thu được một số tiền để bù đắp thiếu hụt về vốn lưu động, đồng

3.2. Thuê mua bắc cầu ( hay Cho thuê hợp tác) - (Leveraged Lease
contract)
(1)
:
Đây là một hình đặc biệt của thuê tài chính chỉ mới được phổ biến trong
những thời gian gần đây, xuất phát từ thực tế là các công ty Leasing có những
hạn chế về nguồn vốn không đủ khả năng tài trợ cho khách hàng.
*Đònh nghóa: Thuê mua bắc cầu là hình thức cho thuê tài chính mà trong
đó bên cho thuê đi vay phần lớn chi phí mua sắm tài sản cho thuê từ một hoặc
nhiều bên cho vay với thế chấp cho số tiền vay là tài sản cho thuê.
Theo thể thức thuê mua này bên cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê,
từ một hay nhiều người vay nào đó. Theo luật thuê mua của một số quốc gia,
khoản tiền vay này không vượt quá 80% tổng giá trò của tài sản tài trợ.
Vật thế chấp cho khoản vay này là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các
khoản tiền thuê mà bên thuê sẽ trả trong tương lai. Người cho vay được hoàn trả
tiền vay từ các khoản tiền thuê, thường do người thuê trực tiếp chuyển trả theo
yêu cầu của bên cho thuê. Sau khi trả hết nợ vay, những khoản tiền thuê còn lại
sẽ được trả cho bên cho thuê
(1
)
thuê mua bắc cầu ( Leveraged Lease ) do xuất phát từ tên của nó là đòn bẩy ( Leverge) do
người cho thuê tạo ra khi khi mượn tiền để mua tài sản. Thoả thuận thuê mua này chòu sức ép
của bên thứ ba là người cho vay. Xin xem : Clifford W.Smith và L.Mac Donald Makeman,
“Những yếu tố quyết đònh về chính sách tài chính của công ty “. Nhật báo tài chính số 40.
7/1995, trang 8.
Trang - 18 -
Người cho vay
(Lender)
Tiên
trả

vay bằng cả tài sản cùng
các khoản tiền cho thuê
nó.
3. Trả nợ bằng tiền cho
thuê tài sản. Phần tiền
thuê vượt số tiền vay
được giữ lại
* Người thuê
1. Trả tiền thuê tài sản
cho người cho thuê
2. Ngoài ra không có
sự khác biệt so vơí hình
thức thuê mua thuần
Trong hình thức cho thuê hợp tác có sự tham gia của 4 bên: bên cho thuê,
bên thuê, nhà cung cấp và nhà cho vay. Mối quan hệ giao dòch giữa bên cho thuê,
bên thuê và bên cung cấp giống như các quan hệ tài chính thuần. Riêng bên cho
thuê phải ký thêm hợp đồng tín dụng với bên cho vay và thanh toán tiền vay.
Hình thức này giúp cho bên thuê mở rộng khả năng tài trợ và thường
được sử dụng để tài trợ cho các tài sản có giá trò cao : máy bay thương mại, tàu
chở hàng….
Trang - 19 -
Người cho thuê
(Lessor)
Tài Sản
Tiền thuê
Người thuê
(Lessee)
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
3.3 . Thuê mua liên kết (Syndicated Lease) :
Đây là một hình thức thuê mua đặc biệt. Theo loại hình này có nhiều bên

này nữa (mà hợp đồng này là loại thoả thuận không thể huỷ ngang) nên họ phải
tìm bên thuê thứ hai để trút bỏ gánh nặng tiền thuê. Bởi nếu họ không chuyển giao
quyền thuê cho bên thứ hai thì cho dù không sử dụng tài sản họ vẫn phải trả tiền
thuê.
SVTH: BÙI THỊ NGỌC CHÂU Trang - 20 -
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN

Sơ đồ 6. Thoả thuận thuê mua giáp lưng
* Người cho thuê
1. Cho thuê tài sản và
nhận tiền thuê
2. Các quyền lợi và
nghóa vụ khác như
trong thoả thuận
thuê mua thuần.
*Người thuê thứ nhất
1. Thuê tài sản từ người
cho thuê.
2. Cho người thuê thứ hai
thuê lại tài sản.
3. Không chòu trách
nhiệm trực tiếp đối với
rủi ro, tiệt hại đối với
tài sản
4. Nhận tiền thuê từ
người thuê thứ hai và
trả tiền thuê cho người
cho thuê.
*Người thuê thứ hai
1. Thuê tài sản từ người

dụng tài sản
Người thuê
thứ hai
(Lessee2)
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
bán trả góp. Ta có thể gọi đây là hình thức tài trợ thuê mua mang tính chất bán trả
góp, hay là hình thức bán trả góp mang tính chất thuê mua. Nhưng tính chất chuẩn
nhất cho loại tài trợ này là “Thuê mua trả góp”. Theo phương thức này quan hệ
giao dòch gồm :
1) Bên cho thuê hoặc tổ chức cho thuê sẽ mua tài sản mà bên đi thuê yêu cầu
từ nhà cung cấp (tài sản này cũng có thể là của công ty “Mẹ” của bên cho
thuê, hay của chính bên cho thuê) để cho thuê. Khi đó, bên cho thuê vẫn là
chủ sở hữu tài sản, bên thuê được quyền sử dụng tài sản và có nghóa vụ
thanh toán tiền thuê.
2) Sau khi cho thuê một thời gian nhất đònh, bên cho thuê đã thu hồi vốn
(bằng tiền thuê) đến một tỷ lệ thích hợp nào đó sẽ tiến hành chuyển quyền
sở hữu tài sản cho người đi thuê. Bên thuê có trách nhiệm thanh toán số nợ
còn lại theo kỳ hạn quy đònh trong hợp đồng. Khi bên thuê đã có quyền sở
hữu tài sản thì có thể mang tài sản cầm cố, thế chấp cho những khoản vay
mới.
Hình thức cho thuê trả góp là một hình thức biến tướng của cho thuê tài
chính thuần, tuy nhiên cũng có những thuận lợi và bất lợi riêng.
 Thuận lợi
 Người thuê (hay người mua) có thể có ngay tài sản để sử dụng trong hoạt
động sản xuất mà không phải trả ngay những khoản tiền lớn. Những chi phí
trả cho nhà tài trợ theo phương thức khấu hao nhanh làm giảm lợi nhuận
hàng năm do đó giúp các doanh nghiệp hoãn thuế lợi tức trong suốt những
năm trả góp.
 Bất lợi
 Doanh nghiệp mua tài sản theo hình thức tài trợ này phải chòu chi phí để

Giao thiết bò
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN

SVTH: BÙI THỊ NGỌC CHÂU Trang - 24 -
TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC ÁP DỤNG TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN
I. CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG THUÊ MUA Ở
VIỆT NAM:
Ngày 02/05/2001 Chính Phủ ta đã ban hành Nghò đònh 16/NĐ – CP về cho
thuê tài chính thay cho Nghò đònh 64/CP ngày 09/02/1995 nhằm tháo gỡ các vướng
mắc trong hoạt động cho thuê tài chính, sẽ mở rộng đối tượng cho thuê tài chính tới
cá nhân, làm rõ vấn đề chuyển quyền sở hữu tài sản khi kết thúc hợp đồng tài
chính. Nội dung của Nghò đònh 16/NĐ – CP có thể tóm tắt như sau:
 Điều 1. Khái niệm cho thuê tài chính:
Theo nghị định số 16/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của chính phủ thì khái niệm
cho th tài chính được hiểu như sau:
Cho th tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn, thơng qua việc
cho th máy móc, thiết bị,phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ
sở hợp đồng cho th giữa bên cho th và bên th . Bên cho th cam kết mua
máy móc thiết bị ,phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo u cầu của
bên th và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho th. Bên th sử dụng tài
sản th và thanh tốn tiền th trong suốt thời hạn th đã được hai bên thoả
thuận .
 Điều 2. Đối tượng cho th:
Tài sản trong cho th tài chính phổ biến là động sản, có thời hạn sử dụng lâu
dài bao gồm;
2.1. Máy móc thiết bị, phương tiện đơn chiếc hoạt động độc lập.
2.2 . Dây chuyền sản xuất
2.3 . Thiết bị lẻ trong dây chuyền sản xuất đồng bộ.
2.4. Thiết bị văn phòng, thiết bị điện tử điện tốn, viễn thơng, y tế và các
động sản khác...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status